Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



26 tháng 1, 2013

Làn Sóng Vượt Biên Lần Thứ Hai



Tôi có hai người bạn thành đạt. H là tổng giám đốc trong một quỹ đầu tư lớn ở thành phố Hồ Chí Minh. Anh từng đi du học và lập gia đình ở nước ngoài. Cách đây 8 năm, anh bỏ việc ở nước ngoài để về nước với niềm phấn khích cao độ. Giờ đây, anh đang tính nộp hồ sơ xin di trú cho gia đình sang Bắc Mỹ. Anh chưa tính sẽ sang Bắc Mỹ sống ngay, nhưng với anh, đó là một cách bảo hiểm.

T là chủ một doanh nghiệp cổ phần cũng ở thành phố Hồ Chí Minh. Anh từng bán một công ty trước đây do anh gây dựng và thu về một khoản tiền lớn. Giờ đây anh vẫn còn hai công ty nữa ở Việt Nam. Tuy nhiên hiếm khi anh ở Việt Nam. Anh dành phần lớn thời gian ở Mỹ với gia đình, nơi anh mới mua một căn biệt thự giá hơn 3 triệu USD hồi đầu năm 2012.

Trở thành thường trú nhân, hay còn gọi là người có “thẻ xanh”, hoặc trở thành người song tịch, tức là vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch một nước khác, đang trở thành một xu thế thời thượng. Có nhiều hãng tư vấn di trú đang hoạt động tích cực ở Việt Nam như IMG, Kornova, USIS, Harvey Law Group (HLG), Immigration (IMM), US Investment (USI), ImmiCa… để phục vụ những khách hàng tiềm năng như H và T. Một số đang trong tình trạng chạy hết công suất vì khách hàng quá đông.

Hợp pháp và hợp lý

Việc làm thủ tục xin định cư ở nước ngoài là việc hoàn toàn hợp pháp ở Việt Nam. Thậm chí, ở một khía cạnh nào đó nó còn được khuyến khích. Kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2009, Luật Quốc tịch mới của Việt Nam có hiệu lực và luật này quy định công dân Việt Nam có quyền có hai quốc tịch.  Theo Bộ Tư pháp, kể từ ngày đó, người Việt Nam ra định cư, nhập quốc tịch ở nước ngoài đương nhiên mang quốc tịch Việt Nam mà không phải đăng ký. Điều đó có nghĩa là người Việt Nam có thể xin quốc tịch nước khác như Mỹ hay Canada mà không cần phải sợ mất quốc tịch Việt Nam.

Với nhiều người, việc có quốc tịch thứ hai cũng không quá quan trọng. Điều họ cần là quyền được định cư lâu dài ở nước mà họ lựa trọn ngoài Việt Nam. Và như vậy, chỉ cần là thường trú nhân (có thẻ xanh) là đủ. Điều đó có nghĩa là việc có hay không có quyền có hai quốc tịch theo luật Việt Nam không phải là yếu tố thúc đẩy họ xin định cư nước ngoài.

Xét về mặt cá nhân, việc thu xếp để có thêm một lựa chọn về nơi ở là chuyện bình thường và hợp lý. Cả H và T đều muốn con cái khi lớn lên được sống trong một môi trường an toàn và được hưởng thụ một nền giáo dục tốt. Ngay cả nếu không định cư dài hạn ở một nước khác, thì có được tự do trong việc đi lại và thay đổi môi trường sống theo sở thích cũng là một quyền lợi thú vị, mặc dù tốn kém. Đó là chưa kể việc một số người trở nên giàu có như T muốn đa dạng hoá tài sản của mình, vì thế, giữ một số tài sản bất động sản ở nước ngoài cũng là một lựa chọn thông minh.

Xã hội Việt Nam đang giàu lên. Cùng với sự phát triển chung của xã hội, Việt Nam ngày càng có nhiều người giàu. Đi kèm với nó là ngày càng nhiều những người có nhu cầu làm thường trú nhân ở các nước phát triển như H và T. Điều này xem ra có vẻ rất bình thường.

Không có số liệu chính thức về số hồ sơ xin định cư mà các hãng tư vấn định cư hoạt động ở Việt Nam đang giải quyết. Vì nhiều lý do tế nhị, cũng ít có người công khai tự nhận mình đang xin quyền định cư ở nước khác. Thế nhưng có nhiều bằng chứng gián tiếp cho thấy phong trào này hiện nay đang phát triển mạnh. Ngày càng có nhiều hãng tư vấn di trú quốc tế tham gia vào thị trường Việt Nam, ngày càng có nhiều đại lý độc lập mọc lên phục vụ khách hàng trên thị trường này. Một số hãng lớn trong năm 2012 thậm chí đã bị quá tải và phải outsource ra bên ngoài để có đủ nhân lực xử lý hồ sơ.

Thậm chí đã xuất hiện một số doanh nghiệp Việt Nam ngấp nghé đầu tư vào Bắc Mỹ hoặc Úc trong các ngành liên quan đến nông - lâm nghiệp với mục đích tạo càng nhiều công ăn việc làm ở các nước này càng tốt. Lý do là số lượng công ăn việc làm tạo ra càng nhiều thì các chủ dự án này càng xin được nhiều xuất thẻ xanh. Các xuất thẻ xanh này sau đó có thể bán lại cho các “nhà đầu tư”- thực chất là những người bỏ tiền ra mua thẻ xanh vào các nước phát triển.

Nhiều câu chuyện có vẻ hợp lý về mặt cá nhân nhưng khi gộp với nhau lại là tín hiệu cho thấy nhiều sự bất bình thường về mặt xã hội. Và câu truyện xin di trú ồ ạt này cũng vậy.

Bất bình thường về xã hội

Thông thường những đợt di cư ồ ạt ra nước ngoài thường là chỉ dấu cho thấy những vấn đề về mặt xã hội. Lý do thông thường nhất là sự khó khăn về kinh tế, hiểm hoạ chiến tranh, bất ổn chính trị, phân biệt chủng tộc…Làn sóng vượt biên ở Việt Nam trong những năm cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80 trước đây là một thí dụ. Nền kinh tế Việt Nam trước đổi mới đã rơi vào tình trạng kiệt quệ và điều này đã làm cho nhiều người Việt tìm cách vượt biên với hi vọng tìm được miền đất hứa.

Thế nhưng trào lưu di cư lần này của người Việt khác xa với trào lưu vượt biên trước đây, mặc dù có nhiều người gọi vui là phong trào vượt biên lần thứ hai. Khác biệt cơ bản nhất là phong trào hiện nay là phong trào di cư của những người giàu, những người thực sự có tiền để trở thành các nhà đầu tư và lấy thẻ xanh qua hình thức đầu tư. Nếu trước đây các thuyền nhân vượt biên nghèo đói chen chúc trên những thuyền cá nhỏ bé, thì những người di cư lần này đi máy bay trên ghế hạng C (hạng sang) và trong tài khoản đầy tiền.

Lý do thông thường khiến những người giàu muốn định cư ở nước phát triển là tìm đến một môi trường xã hội tốt hơn cho gia đình khi họ trở thành những người có khả năng chi trả cho một cuộc sống tốt hơn. Thế nhưng đây không phải là lý do tạo ra các đợt di cư đột biến.

Lý do thường được nghe đến nhiều nhất trong số các chủ doanh nghiệp muốn di cư ra nước ngoài ở Việt Nam là sự bế tắc về cơ hội kinh doanh hiện nay cũng như sự bi quan về triển vọng trong tương lai. Các doanh nhân luôn muốn tìm kiếm môi trường kinh doanh nơi họ có thể kiếm tiền nhiều nhất. Khi thấy Việt Nam không phải là nơi họ có thể kiếm nhiều nhất nữa, họ đương nhiên muốn kiếm tìm một chân trời mới.

Cũng từ sự bi quan về hiện trạng và tương lai của nền kinh tế khiến nhiều chủ doanh nghiệp lo lắng về các bất ổn xã hội có thể xảy ra trong tương lai. Điều này dẫn họ tới chuyện lo xa cho gia đình. Từ những mối lo sợ có thật như môi trường xã hội ngày càng kém an toàn, đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh, tới những mối lo xa xôi như bất ổn và rối loạn xã hội hoặc chiến tranh. Trong khi còn có điều kiện về tài chính, việc thu xếp để gia đình có quyền thường chú ở nước khác xem ra là một dạng mua bảo hiểm khôn ngoan.

Ẩn sau câu chuyện đó, còn có những lý do tế nhị hơn. Việt Nam trong một giai đoạn dài phát triển rất mạnh. Do hệ thống luật pháp và chính sách không hoàn thiện và phải thay đổi thường xuyên, các lỗ hổng pháp lý rất nhiều và dẫn đến một thực tế là có nhiều người làm giàu dựa vào sự lỏng lẻo của quản lý hoặc các bất cập trong hệ thống pháp luật. Kết quả là các rủi ro pháp lý luôn luôn tồn tại, mặc dù không dưới các hình thái cụ thể. Ý thức về rủi ro pháp lý đối với các chủ doanh nghiệp Việt Nam thường không được rõ ràng lúc “thái bình” nhưng lại được làm sâu sắc hơn mỗi khi có các vụ bắt giữ hoặc điều tra quy mô lớn liên quan đến các chủ doanh nghiệp. Năm 2012 vừa qua là một năm như vậy.

Ra đi không tay trắng

Cuộc di cư của những người giàu thường là tai hại cho nền kinh tế nếu nó diễn ra trên diện rộng. Đầu tiên là sự thất thoát về chất xám. Không phải ai giàu có cũng giỏi, nhưng nhiều trong số những người này là những người có kinh nghiệm, có khả năng kinh doanh, hiểu biết, và thông minh. Sự ra đi của những cá nhân này là một thiệt thòi lớn cho nền kinh tế xét về mặt chất xám trong kinh doanh.

Thứ hai là sự thất thoát về của cải. Những người ra đi không phải với hai bàn tay trắng như phần lớn những người vượt biên bằng tàu cá hồi 30 năm trước. Những người ra đi lần này mang theo những khối tài sản lớn, thường là hàng triệu USD, ra nước ngoài. Rất nhiều, nếu không muốn nói là phần lớn, chủ doanh nghiệp lớn ở Việt Nam đều đã có bất động sản và số dư tài khoản tiền mặt lớn ở nước ngoài.

Thứ ba, đó là các phong trào này tạo ra hiệu ứng tâm lý, làm tăng sự dao động, làm sâu sắc thêm tâm lý lo ngại, cũng như làm giảm nhiệt huyết của những người còn ở lại. Nó cũng đồng thời làm nản lòng những người muốn tới Việt Nam đầu tư và làm ăn. Đây cũng là một bất lợi nghiêm trọng mà các phong trào di cư của người giàu gây ra cho thị trường.

Dù có những tác động bất lợi như vậy, việc lựa chọn di cư là một quyền hợp pháp của người dân. Vì thế không thể ngăn chặn xu hướng này bằng các mệnh lệnh hành chính. Cũng không thể ngăn chặn nó bằng những lời kêu gọi suông.

Giữ chân người tài bằng cách tạo niềm tin

Để chống lại xu hướng “vượt biên lần thứ hai” này cần phải giải quyết tận gốc nguyên nhân khiến nhiều người có tiền đang muốn dứt áo ra đi. Đó là niềm tin vào sự phục hồi của nền kinh tế Việt Nam và niềm tin vào sự an toàn của bản thân họ và gia đình ở Việt Nam. Việc này không dễ dàng. Để khôi phục lại lòng tin vào tương lai phát triển của đất nước, điều quan trọng là nhà nước phải chứng minh được cho thị trường và công chúng thấy khả năng dẫn dắt, lộ trình và giải pháp cụ thể, và uy tín chính trị của lãnh đạo.

Liên quan đến lộ trình và giải pháp cụ thể, đưa Việt Nam ra khỏi vũng lầy hiện nay không phải là một nhiệm vụ bất khả thi. Ngược lại, tất cả các vấn đề này đều có giải pháp. Khủng hoảng kinh tế không phải là một câu chuyện xa lạ mà nó đã xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, trong mọi hình thái kinh tế mà loài người đã trải qua. Việt Nam không phải là ngoại lệ. Thực tế là các lời giải này đã được bàn đến nhiều, trong giới chuyên gia, trong các cơ quan tư vấn, từ các tổ chức hỗ trợ quốc tế, tới cả các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước Việt Nam.

Vì thế, vấn đề còn lại nằm ở việc chứng tỏ năng lực cũng như uy tín chính trị của người lãnh đạo.

Uy tín này phải được khôi phục và nó chỉ được khôi phục khi người dân nhìn thấy các động thái quyết đoán của Đảng và nhà nước liên quan đến tư cách, trình độ, đạo đức, phẩm chất, tính chuyên nghiệp, tinh thần phụng sự đất nước, và cái nhìn viễn kiến của bộ máy lãnh đạo.

Phải từ việc khôi phục uy tín này, lãnh đạo quốc gia mới có thể vực dậy lòng tin của người dân về tính khả thi của sự đổi thay tích cực. Đi kèm với lòng tin này, các quyết sách thực tế của nhà nước nhằm thẳng vào các vấn đề giai góc nhất đang tồn tại mới có thể giúp Việt Nam vượt qua khó khăn hiện tại. 

Chỉ khi làm được như vậy, lòng tin của thị trường cũng như của giới doanh nhân vào tương lai ở Việt Nam mới được khôi phục. Và chỉ có thế, câu chuyện “vượt biên lần thứ 2” của những người có tiền và những người có tài mới giảm bớt và dần dần đảo ngược giống như thời kỳ các doanh nhân Việt kiều lũ lượt về nước làm ăn hồi 10 năm trước.

Trần Vinh Dự
26-1-2013 
[ Đọc Tiếp ]

22 tháng 1, 2013

Chiến Lược Tái Cân Bằng Thái Bình Dương Của Hoa Kỳ

Quân đội Hoa Kỳ đang tiến vào một giai đoạn chuyển biến có tính chất lịch sử sau hơn một thập kỷ kể từ khi chiến tranh được phát động sau trận tấn công của quân khủng bố vào ngày 11 tháng 9, 2001. Chúng ta đã chấm dứt chiến tranh tại Iraq và đang tiến hành một kế hoạch rút quân và chuyển giao hữu hiệu tại Afghanistan; và trong cuộc chiến chống khủng bố, chúng ta đã làm cho nhóm lãnh đạo Al Qaeda suy yếu trầm trọng.

Kết quả của những nỗ lực này cũng như hiện thực ước thúc của ngân sách là việc hình thành một chiến lược quốc phòng mới cho thế kỷ 21 – một chiến lược đề cao tính linh hoạt, kỹ thuật, và khả năng phóng xạ quyền lực của Hoa Kỳ. Chúng ta đã bắt đầu tập trung vào những thử thách cũng như cơ hội của tương lai, và hiển nhiên là phần lớn những thử thách và cơ hội này đang quy tụ tại châu Á.

Nói cho cùng, trọng tâm của hoàn cầu đang di chuyển một cách kiên định về vùng Á Thái, và điều này đã khiến cho nền an ninh cũng như sự phồn vinh trong tương lai của Hoa Kỳ càng gắn bó chặt chẽ hơn với khu vực đang phát triển nhanh chóng này. Đồng thời, hiện tượng gia tăng kinh phí quân sự, những thách thức uy hiếp nền an ninh hải dương, những mối đe dọa phi truyền thống như nạn hải tặc và chủ nghĩa khủng bố, cũng như sức tàn phá do thiên tai gây ra đang khiến cho môi trường an ninh của khu vực trở nên phức tạp hơn. Vì những lý do này mà Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đang thực thi kế hoạch "tái cân bằng" tư thế và trọng tâm chiến lược của Hoa Kỳ tại vùng Á Thái.

Chiến lược tái cân bằng của Hoa Kỳ phần lớn tập trung vào các lãnh vực phi quân sự như mậu dịch và phát triển. Đây là bộ phận của một nỗ lực rộng lớn do Tổng Thống Barack Obama chỉ đạo nhằm tăng cường tiến trình tham dự của chúng ta trên toàn khu vực trong nhiều lãnh vực như ngoại giao, phát triển, kinh tế, an ninh, và văn hóa. Đối với Bộ Quốc Phòng, tái cân bằng có nghĩa là góp phần đảm bảo Hoa Kỳ và tất cả mọi quốc gia trong khu vực được tiếp tục thừa hưởng lợi ích của một vùng Á Thái an toàn và thịnh vượng – như chúng ta đã trải nghiệm trong gần 70 năm qua.

Nỗ lực này được xây dựng trên bốn trụ cột chính. Trụ cột thứ nhất là cam kết vốn có từ lâu của Hoa Kỳ đối với bộ nguyên tắc đã góp phần thúc đẩy nền hòa bình và an ninh của khu vực trong thế kỷ 20. Là một cường quốc Thái Bình Dương, Hoa Kỳ vĩnh viễn duy trì lợi ích quốc gia trong một trật tự thế giới công bằng luôn luôn đề cao những nguyên tắc quan trọng như: (1) quyền lợi và trách nhiệm của mọi nước thành viên cũng như sự trung thành của họ đối với chế độ pháp trị; (2) tất cả mọi nước thành viên đều có quyền sử dụng những tài sản chung trên khắp toàn cầu như biển, không khí, không gian, và không gian mạng; (3) loại trừ các chướng ngại cản trở tiến trình phát triển kinh tế và thương nghiệp; và (4) không dùng vũ lực để giải quyết xung đột. Ngày nay, những nguyên tắc này có thể và nên được sử dụng để củng cố các mối quan hệ kinh tế, ngoại giao, và quân sự trên toàn khu vực.

Trụ cột thứ hai là một ưu tiên đặc biệt của tôi: hiện đại hóa và tăng cường các lực lượng đồng minh cũng như đối tác của Hoa Kỳ trong khu vực, và phát triển những mối quan hệ mới trong cùng chiều hướng. Vì sứ mệnh đó mà tôi đã công du châu Á đến bốn lần kể từ khi trở thành Bộ Trưởng Quốc Phòng vào tháng 7, 2011. Nó đã dẫn dắt chúng ta đi đến quyết định dành nhiều tài nguyên và nỗ lực hơn nữa để xây dựng năng lực cho các đối tác của Hoa Kỳ và cải thiện khả năng thao tác liên hợp giữa quân đội Hoa Kỳ và các lực lượng khác tại khu vực. Chúng ta cũng đang nỗ lực tìm kiếm cơ hội để tăng cường hợp tác trong các lãnh vực như: bảo toàn an ninh thông tin, tình báo, giám thị, trinh sát, và các biên giới công nghệ cao khác – từ không gian mạng cho đến không gian ngoại tầng.

Ví dụ, chúng ta đang xây dựng một kế hoạch song phương mới để xác nhận vai trò, nhiệm vụ, và năng lực trong tương lai của liên minh Mỹ-Nhật, và đã đạt được thỏa thuận về việc thiết lập thêm một hệ thống ra-đa phòng ngự hỏa tiễn để bảo vệ Nhật Bản trước mối đe dọa của Bắc Hàn. Trong chuyến công du Úc mới đây của tôi, chúng ta đã ký kết một hiệp định để di chuyển một hệ thống giám thị không gian bằng ra-đa sang miền Tây Úc. Và, tại Nam Hàn, hiệp định Đồng Minh Chiến Lược 2015 vạch rõ một biểu đồ cho tương lai trên nhiều trận tuyến khác nhau, chẳng hạn như hợp tác trên không gian thực cũng như không gian mạng, chia sẻ thông tin và tình báo, và thiết lập quy tắc sắp xếp quyền chỉ huy.

Hơn thế nữa, Hoa Kỳ đang tập trung vào tiến trình hợp tác với các nước đồng minh và đối tác của chúng ta tại Nam Á và Đông Nam Á ở một mức độ từ trước đến nay chưa hề có. Với Ấn Độ, chúng ta đã phát triển một kế hoạch song phương hoàn toàn mới mẻ nhằm thanh giản thủ tục xuất khẩu giữa hai bên và tăng cường mậu dịch cũng như hợp tác sản xuất quốc phòng. Chúng ta cũng đang tìm kiếm nhiều lãnh vực hợp tác mới trong việc diễn tập quốc phòng, chẳng hạn như cứu vớt tiềm thủy đĩnh, và điều này phản ánh tính năng động ngày càng lớn mạnh của mối quan hệ đối tác chủ chốt này.

Tại Đông Nam Á, chúng ta đang nới rộng quan hệ với Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á (ASEAN), gia tăng quan hệ song phương với các đồng minh và đối tác truyền thống như Thái Lan, Phi Luật Tân, và Singapore, cũng như phát triển quan hệ đối tác hợp tác với Việt Nam, Mã Lai, và Nam Dương.

Một trong những phương thức quan trọng nhất để củng cố quan hệ đồng minh và đối tác là tiến hành huấn luyện và diễn tập chung. Trong năm 2012, Hoa Kỳ đã gia tăng cả quy mô lẫn số lượng những cuộc diễn tập song phương và đa phương trên toàn khu vực Á Thái. Ví dụ, Vành Thái Bình Dương (RIMPAC) là một cuộc diễn tập lớn lao chưa hề có, với hơn 42 chiến hạm và 25.000 quân nhân viên của 22 nước tham gia, trong khi đó Hoa Kỳ và Trung Quốc lần đầu tiên tiến hành chung một cuộc diễn tập chống hải tặc tại vùng biển gần Sừng Phi Châu. Trong năm 2013, chúng ta sẽ bắt đầu tham gia những cuộc diễn tập quân sự đa phương do khối ASEAN chỉ đạo, trong khi đó Trung Quốc đã được mời gởi tàu đến tham dự RIMPAC 2014.

Để hỗ trợ cho tiến trình tham gia ngày càng lớn mạnh này – không nhắm vào mục đích thiết lập những căn cứ vĩnh cửu mới mà nhắm vào việc xây dựng quan hệ đồng minh và đối tác mạnh mẽ hơn thông qua sự hiện diện luân lưu có quy mô lớn hơn – trụ cột thứ ba trong chiến lược tái cân bằng của Hoa Kỳ là tăng cương sự hiện diện của chúng ta trên khắp Thái Bình Dương cũng như Ấn Độ Dương.

Tại vùng Đông Bắc Á – nơi mà quân đội Hoa Kỳ vốn có truyền thống duy trì một sự hiện diện mạnh mẽ – chúng ta đang hiện đại hóa tư thế của mình. Trong năm nay chúng ta đã điều động một số chiến đấu cơ F-22 và máy bay Hải Ưng MV-22 đa năng đến Nhật Bản và đã ký kết một hiệp định quan trọng để thuyên chuyển lực lượng của chúng ta trên đảo Okinawa. Chúng ta sẽ tiếp tục phát triển đảo Guam thành một trung tâm chiến lược, và chuẩn bị thiết lập một số Lực Lượng Đặc Nhiệm Hải-Lục-Không toàn năng tại Nhật Bản, Guam, và Hawaii. Đồng thời, chúng ta vẫn duy trì và nâng cấp khả năng của Lục Quân Hoa Kỳ tại Nam Hàn.

Quân đội Hoa Kỳ cũng đang tái cân bằng trong khu vực Á Thái để thể hiện việc chú trọng những mối quan hệ đối tác mới tại vùng Đông Nam Á và Ấn Độ Dương. Vào mùa xuân năm ngoái, 200 binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến đã đến Darwin, Úc trong kỳ luân phiên sáu tháng đầu tiên để cùng phục vụ và huấn luyện với binh sĩ Úc cũng như hoạt động với các đối tác khác trong khu vực. Chúng ta cũng đã gia tăng số lượng và tần suất luân phiên của các phi đội Không Quân Hoa Kỳ tại vùng Bắc Úc. Sau cùng, chúng ta đã thỏa thuận với Singapore về việc điều động tối đa 4 Tàu Chiến Đấu Duyên Hải đến bố trí tại đây dựa trên cơ sở luân phiên để cùng Singapore và các nước khác trong khu vực tham gia những cuộc diễn tập, huấn luyện, và đối phó với thử thách.

Trụ cột cuối cùng trong chiến lược tái cân bằng của Hoa Kỳ là phóng xạ lực lượng. Kế hoạch của chúng ta là điều động 60% hạm đội hải quân đến Thái Bình Dương vào năm 2020, và ngân sách quốc phòng của chúng ta đã duy trì được, thậm chí còn nâng cao, mức đầu tư vào những loại khí cụ mới và có tiềm năng cao hơn cần thiết cho sân khấu Thái Bình Dương. Kế hoạch chi tiêu của chúng ta sẽ đặt ưu tiên cho việc phát triển và bố trí những kỹ thuật mới nhất, có năng lực nhất, bao gồm tiềm thủy đỉnh lớp-Virginia, chiến đấu cơ F-22 và F-35 thế hệ thứ 5, phi cơ tuần dương P-8, khí cụ truyền thông và chiến tranh điện tử tiên tiến, cũng như vũ khí tinh xác và hỏa tiễn tuần hành đã được cải thiện. Đây là một số khí cụ sẽ được sử dụng để duy trì khả năng phóng xạ quyền lực của quân đội Hoa Kỳ trong trường hợp quyền tiếp cận và tự do hành động của chúng ta bị thách thức.

Bốn trụ cột này phản ánh phương án tổng hợp của Bộ Quốc Phòng trong việc góp phần xây dựng một vùng Á Thái hòa bình và thịnh vượng trong thế kỷ 21. Tái cân bằng là một chiến lược lâu dài, và trong năm 2012 chúng ta đã đặt nền tảng cho sự thành công lâu dài của nó.

Tuy nhiên nhiều nghi vấn và ngộ nhận vẫn còn tồn tại. Có người đã đưa ra kết luận rằng mục đích của chiến lược tái cân bằng là nhắm vào Trung Quốc. Điều đó không đúng. Một yếu tố chủ chốt của chiến lược tái cân bằng là xây dựng một mối quan hệ lành mạnh, ổn định, và liên tục giữa quân đội Hoa Kỳ và quân đội Trung Quốc, trên cơ sở của một tiến trình đối thoại bền vững và đi sâu vào thực chất nhằm tăng cường khả năng hợp tác giữa hai nước và ngăn ngừa bất cứ hình thức tính toán sai lầm nào.

Trong chuyến công du Trung Quốc vào hồi tháng 9, tôi đã đạt được một số thành quả khả quan, và tôi nhìn nhận rõ ràng nhưng cũng rất lạc quan về tương lai của mối quan hệ quan trọng này giữa quân đội của hai nước. Trong khi Hoa Kỳ tầm cầu một mối quan hệ mạnh mẽ hơn với Trung Quốc và các nước khác trong vùng, chúng ta mong chờ và hoan nghênh nỗ lực của các nước khác nhằm xây dựng quan hệ với Trung Quốc cũng như với Hoa Kỳ.

Có người cho rằng tình trạng rối loạn và bất ổn định tại Trung Đông sẽ ngăn chận không cho chúng ta thực thi chiến lược tái cân bằng. Nhưng ngân sách và chiến lược quốc phòng mới của chúng ta nêu rõ rằng điều đó sẽ không xảy ra. Quân đội Hoa Kỳ là một lực lượng toàn cầu có khả năng vừa đi vừa nhai kẹo cao su. Ngay cả khi chúng ta tái cân bằng về vùng Á Thái, chúng ta vẫn duy trì một sự hiện diện đáng kể tại Trung Đông để răn đe gây hấn và xúc tiến ổn định.

Cuối cùng, có người chất vấn rằng, nếu xét đến những giới hạn tài chánh của đất nước, liệu quân đội Hoa Kỳ có thể thực hiện những khoản đầu tư cần thiết để tiến hành chiến lược tái cân bằng hay không? Điều chắc chắn phải nhìn nhận là Hoa Kỳ đang đối mặt với một hiện thực tài chánh mới và ngân sách quốc phòng phải giảm bớt 487 tỉ Mỹ kim trong vòng mười năm sắp tới. Nhưng ngân sách cũng có nghĩa là xếp đặt thứ tự ưu tiên, và hiển nhiên là chúng ta đã dành ưu tiên cho khu vực Á Thái. Chúng ta đã thiết lập một kế hoạch với đầy đủ chi tiết trong ngân sách để thực thi chiến lược tái cân bằng, và đã đưa ra nhiều quyết định để khiến cho quân đội của chúng ta hoạt động có lợi nhuận, có hiệu quả hơn, và có năng suất cao hơn.

Hoa Kỳ là – và vĩnh viễn sẽ là – một quốc gia Thái Bình Dương. Hoa Kỳ đã đấu tranh và hy sinh máu đào quý báu của mình để các quốc gia trong vùng Á Thái có cơ hội đạt được an ninh và thịnh vượng. Chúng ta tiếp tục duy trì cam kết cải thiện cuộc sống của tất cả mọi thành viên trong đại gia đình các quốc gia Thái Bình Dương. Mục đích của chiến lược tái cân bằng chính là để thực hiện cam kết xây dựng ước mơ về một thế kỷ 21 tốt đẹp và an toàn hơn này.

Leon E. Panetta (Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ)
Nam Hải Trường Sơn dịch


[ Đọc Tiếp ]

6 tháng 1, 2013

Văn Hóa Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị?

Gần đây trong lúc ôn lại cuốn Hàn Phi Tử (để chuẩn bị cho một buổi hội thảo về tư tưởng chính trị Trung Hoa cổ đại), tôi lại đụng đầu với "Mâu Thuẫn." Trước kia, ấn tượng chỉ đơn thuần hướng về phía nguồn gốc ngữ nghĩa và lô-gic, nhưng lần này bản sắc phúng thứ của nó khiến tôi liên tưởng đến một gợi ý loại suy khá lý thú. Mẩu chuyện này đại để như sau:
Có người nước Sở bày bán mâu và thuẫn. Để quảng cáo tấm thuẫn, anh ta khoe rằng: "Thuẫn của tôi kiên cố vô cùng, chẳng gì đâm thủng nổi." Để quảng cáo cây mâu, anh ta lại tán tụng: "Mâu của tôi rất sắc bén, đâm thủng được mọi thứ." Có người hỏi rằng: "Nếu lấy cây mâu của anh đâm vào tấm thuẫn của anh thì kết quả sẽ ra sao?" Anh ta cứng họng chẳng biết trả lời như thế nào. Tấm thuẫn chẳng gì đâm thủng nổi và cây mâu đâm thủng được mọi thứ vốn không thể đồng thời tồn tại. (Hàn Phi Tử, "Nan Nhất").

Nguyên văn: 楚人有鬻盾與矛者,譽之曰吾盾之堅,物莫能陷之。又譽其矛曰吾矛之利,於物無不陷也。 或曰以子之矛陷子之盾,何如。 其人弗能應也。 夫不可陷之盾與無不陷之矛,不可同世而立。 (《韓非子。難一》)。
Trên nhiều phương diện, Đảng Cộng Sản Việt Nam (Đảng) ngày nay cũng chẳng khác gì anh chàng buôn mâu bán thuẫn của thời Chiến Quốc. Nhưng ngón nghề phát ngôn từ cả hai khóe miệng trong cùng một lúc bây giờ bạo hơn, có quy mô lớn hơn, và bịp được nhiều người hơn. Trên khắp mọi nẻo đường đất nước, từ nông thôn cho đến thành thị, đâu đâu cũng thấy những tấm pa-nô quảng cáo "Đảng ta là đạo đức, là văn minh" – màu sắc rực rỡ, khí thế kiêu hùng áp đảo hồn thiêng sông núi. Người dân hiền hòa muốn tin nhưng khổ nỗi nhiều kẻ tai to mặt lớn trong Đảng và chính quyền lại cứ nằng nặc cho rằng đó chỉ là ngôn từ bốc phét mị dân, chẳng đúng với sự thực tí nào. Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang tấn công mạnh bằng hoán dụ "bầy sâu nguy hiểm." Tại Quốc Hội, ông nghị Dương Trung Quốc cũng nổi hứng phát pháo "chất vấn" tư cách của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 14 tháng 11, 2012:
Phải chăng Thủ Tướng nên nhân dịp này thể hiện lòng quyết tâm sửa chữa của mình bằng cách khởi động cho một cuộc phấn đấu của chính phủ, hướng tới đoạn tuyệt với những lời xin lỗi, thay bằng tập quán phù hợp với một xã hội hiện đại – là văn hóa từ chức với một lộ trình là các quan chức của ta làm được cái điều mà các quốc gia tiên tiến vẫn làm.
Theo chính lô-gic của ông nghị mà đặt vấn đề thì văn minh là cái con gì khi quan chức của ta chưa có "tập quán phù hợp với một xã hội hiện đại" và chưa làm được "cái điều mà các quốc gia tiên tiến vẫn làm" và đạo đức nằm ở lỗ nào khi Thủ Tướng cũng như toàn thể chính phủ còn chưa biết ăn năn hối lỗi? (Xin chớ hiểu lầm, ngoài "sâu" ra, "con" và "cái" cũng như "lỗ" đều là thuật ngữ chính thức của Đảng; ví dụ, cách đây chưa đầy bốn tháng, một trung tá công an đã từng ngang nhiên tuyên bố rằng ở Việt Nam chỉ có "tự do cái con cặc.")

Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.


Vì nằm ngoài tiêu điểm của bài viết nên việc phân tích hoán dụ "bầy sâu nguy hiểm" của bác Tư Sang xin khất lại, hẹn dịp khác. Hiện tại chỉ cần nói rằng đó là một đột phá táo bạo vì ngay cả những thế lực thù địch ở trong và ngoài nước cũng chưa bao giờ dám chê bai Đảng thậm tệ đến thế, cực đoan và phản động lắm cũng không vượt quá giới hạn của "cáo già, cáo con" hoặc "trâu bò" và các loài gia súc khác. Còn "sâu" – một động vật thấp hơn cả hàng chục cấp – là một biểu tượng chỉ trích (hay tự phê) không hề có tiền lệ. Và điều không tránh được là hiệu ứng đánh bóng bản chất lố lăng của Đảng. Hai đối cực "đạo đức, văn minh" và "bầy sâu nguy hiểm" dẫu được chống chế bằng cách nào đi nữa cũng "bất khả đồng thế nhi lập," nói theo lời của Hàn Phi Tử.

Hãy Để Cho Các Cụ Yên Nghỉ Nơi Chín Suối

Dương Trung Quốc sang sảng giảng bài "văn hóa từ chức" nhưng thực sự y vẫn còn rất mập mờ về ý nghĩa cũng như cách thức ứng dụng của khái niệm này. Khác với nhận định sai lầm của một số blốc-gờ, Dương Trung Quốc không phải là người đầu tiên sử dụng cụm từ đó; nó trở thành câu nói đầu môi chót lưỡi của một số người trong "báo giới" và "nghị giới" Việt Nam cách đây ít ra cũng gần hai năm rồi. Nhìn về quá khứ, họ thường dẫn chứng trường hợp của Chu Văn An và Nguyễn Bỉnh Khiêm để làm cơ sở lý luận. Thiên hạ bàn tán xôn xao về lời phát biểu của Dương Trung Quốc chỉ vì y được Đảng cho lên TV và vì đối tượng của y là một con sâu rất bự. Nhưng rất tiếc qua đó y đã không triển hiện được phong cách của một sử gia có tư duy độc lập. Dương Trung Quốc chỉ nhái lại cái vô tri của họ hùng hồn như vẹt:
Xin nhắc lại rằng, xa xưa các cụ nhà ta cũng coi việc cáo quan hồi hương là một cách giữ tiết tháo.
Nhưng trước hết cần phải hiểu rõ thời xưa các cụ nhà ta đã cáo quan để "giữ tiết tháo" như thế nào? Chẳng cần đi đâu xa, hãy chọn ngay trường hợp của Chu Văn An và Nguyễn Bỉnh Khiêm để làm đối tượng phân tích vì đây là hai ví dụ mà những người hô hào "văn hóa từ chức" như kiểu Dương Trung Quốc cho là có tính tiêu biểu lịch sử.

Dưới thời Trần Dụ Tông, vua thì biếng nhác, ham chơi, bỏ bê việc triều chính, còn bề tôi phần lớn chỉ là một lũ tham quan ô lại, chuyên môn lạm dụng chức quyền để làm nhiều điều trái phép, vị kỷ, hại dân, hại nước. Trước hoàn cảnh ấy, Chu Văn An không những đã mạnh dạn lên tiếng khuyên can nhà vua nên tu thân để trở thành một đấng minh quân. Cụ còn dâng sớ xin chém đầu bảy tên nịnh thần được vua yêu nên mặc sức lộng hành, thao túng triều dã (về sau được mệnh danh là thất trảm sớ). Nhưng kết quả là vua chẳng chịu nghe lời can gián còn sớ thì như đá chìm đáy biển, bặt vô tăm tín. Chán ngán cảnh triều chính nhiễu nhương, cụ bèn trả ấn, trả mũ, từ quan trở về nguyên quán vui thú điền viên.

Tuy được giáo dục từ thuở nhỏ và có học vấn uyên bác nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm không muốn ra làm quan trong thời kỳ bấn loạn từ cuối nhà Lê đến đầu nhà Mạc. Bởi vậy cụ đã bỏ qua 9 kỳ đại khoa và chỉ quyết định đi thi vào năm 45 tuổi khi triều đình đã được Mạc Thái Tông chỉnh đốn theo chiều hướng vương đạo. Cụ đậu trạng nguyên ngay trong kỳ thi lần đầu này và được bổ nhiệm nhiều chức vụ quan trọng. Sau khi Mạc Thái Tông đột ngột qua đời (vào lúc mới 41 tuổi), Mạc Hiến Tông lên kế vị nhưng vì còn nhỏ tuổi nên bị bọn bề tôi có thế lực thao túng. Triều đình chia bè kết phái rối ren thậm tệ. Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ xin vua trị tội 18 lộng thần (trong đó có cả con rể của chính mình) nhưng vua không chịu nghe lời. Bởi vậy cụ cũng cáo quan về quê quy ẩn, đi theo con đường của Chu Văn An.

Có hai đặc điểm cần phải ghi nhận về trường hợp từ chức của Chu Văn An và Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thứ nhất, tuy là quan đại thần nhưng cả hai cụ đều rất thanh liêm, chính trực, và không hề phạm một lỗi lầm nào dù nhỏ nhặt trong thời gian làm quan (cũng như sau khi đã về vườn). Thứ hai, con đường chính trị của họ là phò chính, trừ tà; họ chỉ chọn lựa phục vụ dưới trướng minh quân (vương đạo) và cương quyết xa lánh hạng hôn quân (bá đạo). Bởi thế, nếu trị không được gian thần, can vua không chịu nghe, thì họ lập tức rút khỏi quan trường hủ bại. Đối với họ giữ tiết táo có nghĩa là từ chối hợp tác với triều đình không còn chính nghĩa. Họ không muốn trở thành người đồng lõa của một giai cấp thống trị đã mất hết nề nếp và kỷ cương – hay "quân bất quân, thần bất thần" (vua chẳng ra vua, bề tôi chẳng ra bề tôi), nói theo lời của giới Nho gia. Họ không muốn bị xem là "đồng mưu hợp ô" nên từ chức để giữ gìn tấm lòng thanh bạch của mình. Thưa ông nghị, đây mới là ý nghĩa chân chính của việc cáo quan để giữ tiết tháo của các cụ nhà ta thuở xa xưa. Họ từ chức không phải vì chính bản thân mình có lỗi, họ từ chức vì không muốn kề vai sát cánh với những kẻ làm điều trái đạo nhưng không biết ăn năn hối lỗi. Họ không muốn phụ họa với bọn gian thần hại nước, hại dân.

Bởi thế, xin hãy để cho các cụ được yên nghỉ nơi chín suối. Thuở sinh thời họ đã phải tránh xa đàn rết đen độc địa, bây giờ lại bị Dương Trung Quốc dẫn bầy sâu đỏ hiểm ác đến hành hạ nấm mồ xanh của họ. Như thế thật là quá quắt! Đem các cụ ra xếp cùng hàng với loài độc trùng là một điều sĩ nhục lớn lao không những đối với chính họ mà còn đối với tất cả những ai biết tôn trọng lịch sử dân tộc. Đã thoái hóa thành sâu hết rồi thì làm gì còn tiết tháo để mà giữ? Một lần nữa, xin nhắc lại "bầy sâu nguy hiểm" là ngôn từ của ngài đương kim Chủ Tịch Nước chứ không phải của tôi. Nếu còn sống, chắc chắn các cụ không có chọn lựa nào khác ngoài việc phải đệ trình diệt trùng sớ, nhưng kết quả có lẽ cũng chẳng khác gì thuở xa xưa – thất vọng ê chề. Thủ đoạn so sánh của Dương Trung Quốc đã vượt qua giới hạn của táo và cam. Y muốn sâu hóa bướm để thành tiên, nhưng không lẽ lại chẳng hiểu hồn bướm mơ tiên chỉ là đề tài của tiểu thuyết?

Đáng lý ra, kẻ phải noi theo gương của các cụ chính là Dương Trung Quốc (và những người đang hô hào "văn hóa từ chức" oang oảng như y). Những nỗ lực khuyên can và trừng trị (dẫu chỉ là biểu hiện của đấu tranh nội bộ) đã xảy ra biết bao lần nhưng tất cả đều vô hiệu quả. Bầy sâu vẫn cứ tham lam, lộng hành, và đang dẫn dắt dân tộc vào vòng nô lệ ngoại bang. Vậy tại sao y chẳng chịu từ chức để giữ gìn tiết tháo như các cụ (nếu y còn có tiết tháo)? Tại sao y vẫn cứ tiếp tục phục vụ cho một Quốc Hội bù nhìn (với 90% sâu thuần chủng và 10% sâu tạp chủng), chỉ biết ngoan ngoãn gật đầu bầu ra một chính phủ bán nước, hại dân rồi đóng dấu cao su để hợp pháp hóa mọi hành động mà chính y đang lớn tiếng cáo buộc là bê bối, lạc hậu, và ngoan cố của những kẻ cầm đầu cái chính phủ ấy? Ngôn hành hợp nhất là điều kiện cơ bản của tiết tháo, ông nghị ạ.

Noi Gương Đại Đồ Tể

Sau màn so sánh vòng vo để dẫn đến kết quả không thể tránh khỏi là áp dụng sai đối tượng, cuối cùng Dương Trung Quốc trực tiếp đưa ra một tấm gương đỏ lòm để làm mẫu mực cho Thủ Tướng học hỏi:
Còn đảng ta cũng đã từng có một vị tổng bí thư, người có công lớn trong cách mạng tháng 8 năm 45, sau khi nhận trách nhiệm chính trị về những sai lầm trong cải cách ruộng đất 1956, đã từ chức và tiếp tục phấn đấu, để rồi 3 thập kỷ sau trở lại với cương vị tổng bí thư, kịp góp phần khởi động công cuộc “đổi mới”, trước khi từ trần.
Vị tổng bí thư này chẳng ai khác hơn là Trường Chinh (Đặng Xuân Khu) và theo nghị quyết sửa sai của đảng Lao Động do báo Nhân Dân đăng ngày 30-10-1956, thì Trường Chinh bị "cất chức" chứ không phải tự nguyện từ chức. Nhưng hãy cứ giả định là Dương Trung Quốc nói đúng như vậy đi và lấy đó làm cơ sở để tìm hiểu thực hư và đánh giá "tấm gương từ chức sáng ngời" này.

Cải cách ruộng đất tại miền Bắc (CCRĐ) là một trong những chính sách tàn ác nhất do Hồ Chí Minh đích thân ban bố sắc lệnh phát động và Trường Chinh nắm toàn quyền thi hành. Theo tài liệu thống kê chính thức của Đảng, tổng số nạn nhân bị sát hại trong cuộc cải cách nầy là 172.008 người, trong đó có 123.266 người (71,66%) bị giết oan. Những con số này do giáo sư Đặng Phong của Viện Kinh Tế Việt Nam đúc kết và công bố trong cuốn Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam, 1945-2000, tập II: 1955-1975 (Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, 2005), không phải do các thế lực thù địch vu khống. Theo nguyên tắc xấu đè bẹp, đẹp thổi phồng của người cộng sản thì đây chỉ là mức tối thiểu, mức có thể đưa ra ánh sáng; bởi thế, con số khoảng từ 400.000 đến 500.000 người do các nhân chứng đã từng giữ nhiều chức vụ cao cấp trong chính quyền Hà Nội đưa ra (chẳng hạn như cựu phó tổng biên tập báo Nhân Dân Bùi Tín) không phải là một ước tính không có cơ sở.

Xét theo Điều 7(1) của Đạo Luật La Mã Về Tòa Án Hình Sự Quốc Tế (The Rome Statute of the International Criminal Court) thì những hành vi mà Hồ Chí Minh thừa nhận là "khuyết điểm và sai lầm" trong quá trình tiến hành CCRĐ mang đầy dấu ấn của tội ác phản nhân loại (crimes against humanity – còn được gọi là tội ác vi phạm nhân đạo hoặc tội ác chống lại loài người): tàn sát, gián tiếp bức tử, tra tấn, giam cầm, khủng bố, cô lập, phá hoại và cướp đoạt tài sản, gây tổn thương nặng nề đến tinh thần và phẩm chất con người bằng một chiến dịch tấn công có hệ thống, có quy mô lớn, với tổng số nạn nhân tối thiểu gấp 35 lần biến cố Tết Mậu Thân. Tuy thừa nhận là có sai lầm (thực chất chỉ là tuồng nước mắt cá sấu sau trận đại đồ sát), nhưng họ vẫn ngang nhiên tuyên bố đã "thu được thắng lợi to lớn" trong mục đích đào tận gốc, trốc tận rễ tầng lớp quần chúng bị quy tội trí, phú, địa, hào bằng những thủ đoạn vô nhân tính được thực thi theo đúng "phương châm" mà họ lấy làm hãnh diện là thà chết mười người oan còn hơn bỏ sót một địch. Những hành vi táng tận lương tri này không thể lọt lưới trừng trị của pháp luật tại bất cứ một xã hội nào biết trân trọng nhân quyền và nhân phẩm. Nếu bị Tòa Án Hình Sự Quốc Tế xét xử, cả Hồ Chí Minh lẫn Trường Chinh chắc chắn phải lãnh án tù chung thân. Nếu Việt Nam có một nền tư pháp độc lập và công chính thực sự thì (theo luật lệ vốn có) hai nhân vật này khó tránh khỏi án tử hình.

Trước hậu quả thảm khốc của cuộc CCRĐ, thay vì phải nhận lãnh những hình phạt thích đáng, Trường Chinh chỉ bị mất chức Tổng Bí Thư và Trưởng Ban CCRĐ nhưng vẫn giữ nguyên ghế ngồi trong Bộ Chính Trị và vẫn cứ tiếp tục hoạt động ở hậu trường (còn Hồ Chí Minh thì chỉ mất... vài giọt nước mắt). Nói là "từ chức" hay "cất chức" nhưng thực sự chỉ là thủ đoạn lánh mặt để xoa dịu cơn phẫn nộ của quần chúng. Bởi thế, chưa đầy hai năm sau, khi tình hình chính trị đã trở nên ổn định, Trường Chinh lại công khai lộ diện để nắm giữ một chức vụ quan trọng trong chính phủ là Phó Thủ Tướng kiêm Chủ Nhiệm Ủy Ban Khoa Học Nhà Nước. Nhưng đó cũng chỉ là một viên gạch lót đường để đưa con người tội lỗi đầy mình này lên đỉnh điểm của quyền lực. Năm 1960, Trường Chinh thành công đăng đài Chủ Tịch Quốc Hội và liên tục nắm giữ chức vụ này suốt 21 năm trời. Ngay sau khi rời ghế Chủ Tịch Quốc Hội, ông ta lại chễm chệ lên ngai nguyên thủ quốc gia với chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Nhà Nước (tức là Chủ Tịch Nước theo cách gọi hiện thời) từ năm 1981 cho đến năm 1987 và còn kiêm cả chức Tổng Bí Thư trong sáu tháng cuối năm 1986.

Hai năm sau khi CCRĐ chấm dứt, đáng lý ra mồ đã xanh cỏ hoặc chí ít phải bị tống giam để suốt đời ăn năn hối lỗi và nguyện cầu vong linh của hơn 172.000 nạn nhân uổng tử tha tội, nhưng ngược lại cuộc đời chính trị của nhân vật hai tay đẫm máu tươi này lại phất lên như diều gặp gió, chức vị càng ngày càng to, đến lúc chết vẫn nằm trên ngai Thái Thượng Hoàng (cố vấn tối cao của Trung Ương Đảng). Dương Trung Quốc lục lọi 67 năm lịch sử chuyên chính vô nhân của Đảng và tìm thấy một trường hợp duy nhất có hình dạng tương tự nhưng thực chất mang tính ngụy tạo và mị dân vì đó chỉ là một ví dụ điển hình về thủ đoạn thâu tóm quyền lực chính trị bằng cách thối nửa bước để tiến lên ba bốn thước, chứ không phải là từ chức theo ý nghĩa đích thực của nó.

Thủ Đoạn Và Đạo Đức Chính Trị

Văn hóa từ chức chân chính chỉ có thể hình thành và phát triển trong một xã hội dân chủ và pháp trị. Hiến pháp và luật pháp của những quốc gia này quy định rõ ràng cơ sở và thủ tục đàn hặc cũng như bãi nhiệm mọi chức vụ trong cả ba ngành lập pháp, hành pháp, và tư pháp, nhưng quan trọng hơn là việc áp dụng những quy chế này một cách rốt ráo và nghiêm minh. Không từ chức sẽ bị bãi chức, nguyên tắc này chẳng chừa ai cả. Trường hợp cố Tổng Thống Richard Nixon miễn cưỡng thoái vị trước khi Quốc Hội Mỹ đưa ra án phạt tối hậu là một ví dụ nổi bật.

Tại Việt Nam, về mặt lý thuyết, Quốc Hội có quyền bãi nhiệm thủ tướng và các thành viên khác trong chính phủ, nhưng trên thực tế chuyện này chưa bao giờ được thực thi một lần nào cả. Nguyên nhân chính là vì Đảng nắm độc quyền thao túng cơ chế này trong khi toàn thể nhân dân không có cơ hội nào để thực thi quyền làm chủ và tạo sức ép của mình. Từ chức hay cất chức – đặc biệt là trong giới lãnh đạo cao cấp – được xem là đồng nghĩa với việc thừa nhận lỗi lầm nghiêm trọng và sẽ làm nhơ nhuốc hình ảnh "đạo đức, văn minh" của Đảng, bởi thế cần phải giảm thiểu tối đa. Hơn thế nữa, việc phân bố quyền lực chính trị là kết quả do giới lãnh đạo chóp bu mặc cả và sắp xếp trước với nhau cho nên việc thay đổi nhân sự giữa nhiệm kỳ (bao gồm kỷ luật và từ chức) là một hiện tượng hiếm hoi. Trường hợp ngoại lệ xảy ra khi sự xắp xếp ấy không mang lại thỏa mãn cho mọi phía khiến đấu tranh nội bộ bùng nổ công khai như tình thế đối đầu hiện thời giữa Ba Dũng và Tư Sang. Trong bối cảnh này, kỷ luật hay buộc từ chức chỉ là thủ đoạn thanh toán nhau, không có ý nghĩa trách nhiệm dân chủ.

Bộ Chính Trị không thể truất phế đồng chí X nên đá trái banh xuống sân cỏ Trung Ương và tại nơi đây đồng chí X đã ra tay rất ngoạn mục, với nhiều chiêu độc đáo – o bế, hăm dọa, mua chuộc, cưỡng bức, đủ mọi thứ. Kết quả là đội ngũ hùng hậu của đồng chí X đã dư sức áp đảo ê-kíp Tư Sang. Ngay sau khi hội nghị Trung Ương Đảng bế mạc, Dương Trung Quốc là kẻ tán tụng lớn tiếng hơn cả: "Thái độ thành khẩn của Thủ Tướng làm an lòng dân." Nhưng chỉ ba tuần sau, ông nghị nhà ta lại trở mặt, chê bai Thủ Tướng là bê bối, thiếu văn hóa, và cần phải "thể hiện lòng quyết tâm sửa chữa." Nếu không mắc chứng đa trùng nhân cách thì có lẽ Dương Trung Quốc vẫn chưa bỏ được tật ăn nói tùy hứng như kiểu rượu vào lời ra của bợm nhậu.

Nói tóm lại, không có dấu hiệu gì cho thấy Đảng có ý định và khả năng xây dựng một nền "văn hóa bãi nhiệm" (hay "văn hóa cất chức") đứng đắn theo chiều hướng dân chủ hay chí ít là dựa trên những cơ chế hiến định hoặc pháp định sẵn có. Nếu điều kiện tiên quyết này không tồn tại thì "văn hóa từ chức" chỉ là ảo tưởng lâu đài cát. Từ chức mang bản sắc văn hóa là một hành vi hoàn toàn tự nguyện và phát xuất từ ý thức trách nhiệm đối với đất nước và nhân dân cao hơn tiêu chuẩn pháp định. Đó là một biểu hiện có ý nghĩa đạo đức chính trị.

Trường hợp của Đại Tướng David Petraeus mới xẩy ra gần đây là một ví dụ minh họa. Đầu tháng 11, 2012, Petraeus từ chức giám đốc Cục Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ (CIA) chỉ đơn thuần vì lý do ngoại tình, mặc dù trước đó hơn ba tháng ông ta đã chấm dứt mối quan hệ này. Trong một bức thư gởi đến toàn thể nhân viên CIA sau khi từ chức, Petraeus thành thật tự phê bình rằng: "Sau 37 năm hôn nhân, tôi đã thể hiện một thái độ suy xét cực kỳ tồi tệ trong vụ dan díu ngoại tình này. Đây là hành vi không thể chấp nhận trong tư cách của một người chồng cũng như người lãnh đạo một tổ chức như CIA của chúng ta." Sai lầm của Petraeus chỉ nằm trong phạm vi đời tư, hoàn toàn không ảnh hưởng đến việc thi hành công vụ. Nhiều chính khách trong cả hai đảng Dân Chủ lẫn Cộng Hòa đều nhìn nhận việc từ chức của Petraeus là một tổn thất lớn lao và đáng tiếc đối với ngành tình báo cũng như quân đội Hoa Kỳ vì ông ta là một vị tướng lãnh tài ba, có nhiều thành tích lỗi lạc trong cả hai cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan.

Nhưng như lời hối lỗi của Petraeus gợi ý, những người nắm giữ các chức vị lãnh đạo quan trọng của quốc gia cần phải tự ước thúc mình bằng những quy tắc ứng xử và kỷ luật nghiêm khắc hơn để duy trì niềm tin của nhân dân rằng chính phủ của họ thực sự do những người không những có tài năng mà còn có đạo đức điều hành. Nói cách khác, ngoài vai trò cung cấp phương tiện để chính khách lầm lỗi bày tỏ lòng ăn năn ra, văn hóa từ chức còn bao hàm một ý nghĩa quan trọng hơn về mặt hệ thống. Nó góp phần củng cố tính hoàn thiện của các cơ chế dân chủ pháp trị trong xã hội. Nó là phản đề và phương thuốc giải độc của thủ đoạn tích lũy hoặc tranh giành quyền lực chính trị nhằm phục vụ cho lợi ích cá nhân hoặc phe nhóm. Chứ không phải ngược lại.

Dương Trung Quốc, Nguyễn Tấn Dũng, và văn hóa từ chức?
Hãy đợi đến mùa Sài Gòn tuyết trắng nhé!

Nam Hải Trường Sơn
Mồng 6 tháng 1, 2013
[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn