Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



25 tháng 12, 2013

Câu... Chuyện Để Đời


Câu... Chuyện Để Đời

Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá. Trên mạn thuyền, ông già vẫn cứ miệt mài buộc mồi, vung cần, buông câu. Mảnh áo tơi và chiếc nón lá quá mong manh e rằng chẳng đủ để ngự hàn.

Đó là khung cảnh mà Liễu Tông Nghiêm muốn triển hiện trước mắt độc giả qua bài Giang Tuyết. Chỉ vỏn vẹn với 20 chữ nhưng nhà thơ có thể đưa ta đến tận chốn băng sơn tuyết địa:
江 雪                                Giang Tuyết
天山鳥飛絶                      Thiên sơn điểu phi tuyệt
萬徑人踪滅                      Vạn kính nhân tung diệt
孤舟蓑笠翁                      Cô châu thôi lạp ông
獨釣寒江雪                      Độc điếu hàn giang tuyết
Tuy bài thơ mang tên là Giang Tuyết, nhưng nếu không đọc đến chữ cuối cùng độc giả vẫn không hình dung trọn vẹn cảnh tượng tuyết rơi tầm tã — che trời, đắp đất, và bao trùm cả con thuyền cũng như chiếc nón lá và mảnh áo tơi của ngư ông — vì nhà thơ đợi đến phút chót mới chịu hạ bút để phá đề. Tác giả dùng chữ "tuyết" thay cho dấu chấm câu để kết thúc bài thơ nhưng đó lại chính là yếu tố khiến độc giả quay trở lại với những hình tượng ban đầu bằng một cảm giác đốn ngộ tuyệt vời. Hiệu ứng của thủ thuật này có thể được minh họa bằng cách thay thế "tuyết" bằng một khái niệm khác, chẳng hạn như "nguyệt" (để giữ nguyên tính áp vận) và trong trường hợp này nội dung của bài thơ sẽ được chuyển hóa toàn bộ mặc dù chỉ có một chữ duy nhất được sửa đổi và chắc chắn độc giả sẽ cảm thấy mình đang đi vào một thế giới khác biệt, có lẽ đầm ấm và lãng mạn hơn.

Những cái mà tác giả muốn phác họa kỳ thật rất đơn giản. Nhưng để làm nổi bật đối tượng miêu tả chủ yếu của mình, Liễu Tông Nghiêm đã khuếch đại bối cảnh đến vô cùng vô tận. Nhà thơ mở đầu bằng hai lượng từ biểu thị một cõi không gian bát ngát là "thiên sơn" và "vạn kính" để tạo nên mối tương phản đối ngẫu với "cô châu" và "độc điếu" ở hai câu dưới. Nếu không có "thiên" và "vạn" ở trên thì cảm xúc "cô" và "độc" ở dưới sẽ trở nên tẻ nhạt và thiếu sức cảm nhiễm.

Tiếp theo, "cánh chim bay" và "vết chân người" được lồng vào giữa hàng ngàn ngọn núi non và muôn vạn nẻo đường đi nhưng chỉ để rồi lại nhanh chóng xóa đi một cách không thương tiếc bằng hai động từ phảng phất có chút ý vị tàn khốc là "tuyệt" và "diệt" khiến những hình ảnh bình phàm và quen thuộc ấy bỗng nhiên hòa quyện lại và biến thành một cảnh tượng tịch mịch phi thường — tiếp cận biên giới cực đoan. Hai câu đầu vốn chỉ đóng vai bối cảnh, bởi vậy theo lẽ thường chỉ cần phác họa những nét chính là đủ chứ không cần phải phung phí nhiều khí lực để điêu khắc tinh tế. Nhưng hiển nhiên đó không phải là phương thức xử lý của nhà thơ.

Như một đạo diễn điện ảnh, Liễu Tông Nghiêm dùng ống kính cận cảnh để phóng đại những chi tiết trên nền phông lên cực độ. Trong khi đó đối tượng miêu tả chủ yếu của tác giả — hai câu cuối — dường như lại được kéo ra xa và thu nhỏ lại để tạo cảm giác "khả kiến bất khả tức" (chỉ có thể nhìn chứ không thể tiếp cận). Tính khoa trương gần mức siêu hiện thực của hai câu đầu chính là yếu tố tạo điều kiện cho tác giả thực hiện kỹ thuật "viễn vọng kính" nhằm ghi lại những hình ảnh thiết thực hơn giữa dòng sông lạnh và qua đó nêu bật thái độ khắc khổ thoát tục của nhân vật chính.

Giới diễn dịch Việt Nam, từ xưa cho đến nay, đại bộ phận đều rất quan tâm đến nghệ thuật miêu tả và ngữ ý của bài thơ. Chẳng hạn, họ tranh luận sôi nổi về ý nghĩa của hai chữ "tuyệt" và "diệt" — là quá trình hay trạng thái và nếu chọn lựa cái này hay cái kia thì phải dịch sao cho thích hợp? Họ cho rằng "độc điếu hàn giang tuyết" không chỉ có nghĩa "câu cá trên dòng sông tuyết lạnh" mà còn là "câu tuyết trên dòng sông giá lạnh." Thậm chí đến một chi tết nhỏ nhặt như cách diễn âm của chữ 蓑 (áo tơi) họ cũng không bỏ qua — có người cho là "thôi" nhưng cũng có người lại đinh ninh là "thoa" — trong khi "toa" và "tuy" cũng là những âm Hán Việt khác mà các nhà từ điển học đều cho là có thể chấp nhận.

Thế nhưng đến khi các cụ nhà ta thực sự phóng bút dịch thuật thì lý luận và thực tiễn hầu như lại chẳng mấy ăn khớp. Ví dụ, Tản Đà đã dịch như sau:
Nghìn non mất bóng chim bay,
Muôn con đường tắt dấu giày tuyệt không.
Kìa ai câu tuyết bên sông,
Áo tơi, nón lá, một ông thuyền chài.
Nếu dùng thang điểm 1-10 để đánh giá thì theo tôi bản dịch này tối đa chỉ được 7 điểm. Tản Đà bỏ rơi khái niệm "cô châu" không dịch, trong khi đây là một kết cấu chủ yếu của bài thơ (cùng với bốn kết cấu khác là thiên sơn, vạn kính, thôi lạp ông độc điếu, và hàn giang tuyết). Thiếu sót này không chỉ khiến độc giả phân vân chẳng hiểu ngư ông đứng ở ven sông hay ngồi trên mạn thuyền để câu cá mà còn đánh mất cảm giác cô độc được nhân cách hóa của con thuyền, bởi vậy phải trừ bớt 1 điểm.

Về mặt ngữ nghĩa, chữ kính 徑 có nghĩa là con đường nói chung, tức là bao gồm cả đường dài lẫn đường tắt. Để cụ thể hóa, nó thường được bổ nghĩa bằng một hình dung từ đứng ở đằng trước, chẳng hạn như bán kínhtrực kính (còn được gọi nôm na là đường kính) và cũng trong chiều hướng đó đường tắt thực sự có tên là tiệp kính 捷徑. Ở đây Liễu Tông Nghiêm đã dùng nó theo ý nghĩa bao hàm nguyên thủy — trong bối cảnh trời đất bao la này, dấu chân người đã tuyệt tích trên khắp vạn nẻo đường đi chứ không nhất thiết chỉ riêng đường tắt. Trừ thêm 1 điểm.

Thủ thuật vấn đáp phụ đệm (tiếp cận hờ hững) mà Tản Đà dùng trong hai câu cuối ("kìa ai" ở câu 3 và "ông thuyền chài" ở câu 4) — khiến ngư ông trở thành một nhân vật ngẫu nhiên (hay thậm chí là người ngoài cuộc) — không triển hiện được mục đích xác lập sự hiện diện của nhân vật chính này bằng ngôn từ rất trực tiếp và sinh động của tác giả. Hơn nữa, thủ thuật liệt kê "áo tơi, nón lá, một ông thuyền chài" tạo nên cảm giác đó là ba yếu tố rời rạc và độc lập không thố lộ được cảm giác thống nhất và gợi ý về hoàn cảnh khắc khổ của ngư ông. Trừ thêm 1 điểm.

Nhưng điều quan trọng hơn cả — mà chẳng mấy ai nhìn thấy hay quan tâm — là cái đẹp chân chính của bài thơ nằm ngoài giới hạn ngôn từ của nó. Đây là một tác phẩm đại biểu mang tính huyền ngoại chi âm của Liễu Tông Nghiêm. Nhà thơ mượn việc miêu tả cảnh vật sơn thủy, ca vịnh ngư ông ẩn cư ở chốn u tịch để biểu đạt quyết tâm không muốn đồng lưu hợp ô với giai cấp thống trị đương thời. Cũng giống như anh chàng say bí tử nhưng nguyên do tuyệt nhiên chẳng phải vì men rượu (túy ông chi ý bất tại tửu), cái mà ngư phủ muốn câu chưa hẳn lại là cá (hay tuyết) như người ta vẫn cứ giả định (điếu ông chi ý bất tại ngư). Đối với Liễu Tông Nghiêm, câu cá chỉ là ẩn dụ của lòng kiên trì và ý chí bất khuất.

Thế lực của bọn tham quan ô lại trong triều đình quá lớn mạnh khiến Liễu Tông Nghiêm không thể thi triển sở trường của mình để làm một chút gì đó có ích cho bách tính lê dân lúc bấy giờ đang chịu đựng muôn vàn gian khổ truân chuyên. Nhưng không vì thế mà ông ta chấp nhận buông xuôi hay bỏ cuộc. Mặc kệ bọn gian thần tiểu nhân chỉ biết phùng nghênh bợ đỡ để được thăng chức và phát tài, Liễu Tông Nghiêm cứ kiên trì với tín niệm vì dân vì nước của mình. Sau khi bị biếm chức và đày xuống đất Vĩnh Châu (Hồ Nam ngày nay), dẫu trên bị thượng cấp hà hiếp, dưới bị đồng liêu chê bai, Liễu Tông Nghiêm vẫn kiên quyết giữ vững tinh thần "tri kỳ bất khả nhi vi chi" để nỗ lực thực hiện lý tưởng của mình — không cầu danh, không vụ lợi, bất chấp mọi nghịch cảnh.

Trong nhãn quang của không ít người, có lẽ độc điếu hàn giang tuyết là một hành động dại khờ, vô bổ. Nhưng nếu tịnh tâm phóng tầm nhìn ra xa, cuộc đời chắc chắn sẽ đẹp hơn và nhân loại sẽ bớt đi nhiều nhiêu khê nếu có thêm một vài nhà thơ "điên rồ" như Liễu Tông Nghiêm — khi độc giả thực sự phân hiểu được dụng tâm của gã là câu cá, câu tuyết, hay câu... chuyện để đời.

Nam Hải Trường Sơn
Noël, 2013
[ Đọc Tiếp ]

24 tháng 12, 2013

Nghẹn Ngào

[ Đọc Tiếp ]

18 tháng 12, 2013

Khi Chính Nghĩa Vùng Lên Tà Quyền Phải Sụp Đổ



Khi Chính Nghĩa Vùng Lên Tà Quyền Phải Sụp Đổ

Gần nửa triệu người dân Ukraine xuống đường tại thủ đô Kiev vào hôm 8-12-13 để đòi Tổng Thống Yanukovych và toàn bộ nội các từ chức vì chính phủ của ông ta không chịu ký kết một thỏa thuận quan trọng với Liên Hiệp Châu Âu (EU) để chuẩn bị cho Ukraine gia nhập vào khối này. Họ cho rằng Yanukovych đang bị chính phủ Putin gây áp lực để buộc Ukraine đi vào quỹ đạo Nga thay vì trở thành hội viên của EU.

Tại Quảng Trường Độc Lập, những người biểu tình đã tròng dây thép vào cổ pho tượng Lê-nin cao hơn 3 mét để lôi nó xuống và dùng búa đập vỡ, rồi hô to khẩu hiệu “Cách mạng!” Trong khi đó một dân biểu quốc hội thuộc phe đối lập thét lên lời chào: “Vĩnh biệt di sản cộng sản.”

Những người biểu tình lần này phần lớn đã từng tham gia cuộc Cách Mạng Cam vào năm 2004 để phản đối Yanukovych gian lận trong kỳ tuyển năm đó. Họ đã thành công khi kết quả bầu cử được tuyên bố hủy bỏ và Tối Cao Pháp Viện Ukraine ra lệnh tiến hành tái tuyển cử. Trong lần bầu cử thứ hai — được giới giám sát quốc tế cũng như quốc nội xác nhận là “công bằng và tự do” — Yanukovych bị đối thủ đánh bại.

Lần này, trước hiểm họa bị giới lãnh đạo dẫn dắt vào vòng lệ thuộc ngoại bang, người dân Ukraine lại hùng dũng vùng lên để cứu nguy đất nước. Hành động của họ đang tạo tiếng vang khắp thế giới và thu hút sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Vụ việc được đăng tải và bàn tán khắp hoàn cầu, nhưng tại Việt Nam chính quyền cộng sản lại ra chỉ thị cho bất cứ tờ báo nào đã trót dại đăng tin 'người biểu tình phá hủy tượng Lê-nin tại Ukraine' phải lập tức gỡ bài xuống.

Đây là một thủ đoạn lưu manh quen thuộc. Tuy bị đào thải đã lâu tại các nước trước kia là đàn anh của Hà Nội, nhưng chủ nghĩa Mác Lê vẫn còn là nền tảng ý thức hệ của đảng cộng sản Việt Nam. Nó được xem là chiếc phao cứu mạng và biện minh cho sự tồn tại của đảng-nhà-nước Việt Nam. Trong khi thiên hạ — bao gồm cả người Nga — thóa mạ Lê-nin là tà ma giáo chủ, cộng sản Việt Nam đặt y lên bệ đài (cao hơn cả bàn thờ của tổ tiên dân tộc) để cung phụng. Bởi thế khi "thần tượng" của chúng bị người dân Ukraine hủy diệt, đương nhiên câu chuyện cần phải được ém nhẹm.

Nhưng bẽ mặt không phải là lý do duy nhất khiến chính quyền Hà Nội phải hạ lệnh bưng bít thông tin. Nguyên nhân cấp thiết hơn là vì chúng sợ vỡ mặt — sợ bị đạp đổ như Liên Xô và Đông Âu. Là tín đồ trung thành của chủ thuyết "quyền lực chính trị phát xuất từ nòng súng" ("槍桿子裡面出政權 — thương cán tử lí diện xuất chính quyền") do Mao truyền thụ, chúng đã dùng bạo lực vũ trang để cướp đoạt miền Nam và đang duy trì chế độ độc tài tham nhũng bằng cách tiếp tục đàn áp và bóc lột nhân dân toàn quốc. Tuy nhiên, từ cổ chí kim cường quyền chỉ là sự đắc ý tạm thời của kẻ vũ phu và chưa bao giờ thoát khỏi định luật "bạo phát, bạo tàn" vì nó thiếu thốn điều kiện thiết yếu là đắc nhân tâm. Từ Kiệt, Trụ cho đến Hitler (và chủ nghĩa phát-xít) cũng như Stalin và Tito (trong hình hài của chủ nghĩa cộng sản), giãy chết chỉ là vấn đề sớm muộn.

Bài học từ cao trào Cách Mạng Cam của người Ukraine cũng như từ các cuộc tổng khởi nghĩa bất bạo động mang tên một số loài hoa mỹ miều như Cẩm Chướng, Hoa Lài, Hoa Hồng, và Uất Kim Hương là: sức mạnh chân chính và có khả năng tồn tại vĩnh cửu không phải phát xuất từ nòng súng mà từ quyết tâm xây dựng một xã hội dân chủ, bình đẳng, và lành mạnh cho tất cả mọi người. Một khi nhân dân đoàn kết đứng lên để thực hiện ước vọng đó, tà tượng và tà quyền sẽ không còn chỗ đứng. Đó là lý do tại sao chúng nó hoảng hốt trước hình ảnh những người biểu tình nhào xuống đường phá vỡ tượng Lê-nin ở một nơi xa lắc xa lư như Ukraine.

Để thành công, đấu tranh chống bạo quyền cộng sản Việt Nam đòi hỏi một cuộc cách mạng dân chủ có quy mô lớn với sự tham gia đầy nhiệt huyết của toàn dân. Phản ứng hay phản kháng lẻ tẻ trên ghế xa-lông hay trước bàn phím là trò chơi vô tích sự của những kẻ chỉ biết nuôi ảo vọng viển vông.

Chúng ta không cần tiến hành đấu tranh vũ trang (như kiểu Việt cộng trước 1975), nhưng chúng ta phải biết tổ chức, động viên, và kết hợp để sẵn sàng đi đến hành động. Vào những thời điểm thuận tiện, hàng chục triệu người từ khắp nơi trên ba miền đất nước đoàn kết lại để nối vòng tay lớn trong chiến lược bất hợp tác bằng tất cả mọi phương tiện đấu tranh bất bạo động như: xuống đường biểu tình, thắp nến cầu nguyện, tọa kháng, bãi khóa, bãi thị, đình công, thối ngũ, thoái đảng, từ chối trả tiền thuế, cũng như bất cứ hình thức phản kháng hòa bình nào mà chúng ta có thể nghĩ ra.

Tà quyền cộng sản có thể bắt bớ hàng trăm hay thậm chí hàng ngàn người, nhưng một khi con số lên đến mức hàng triệu người thì bộ máy đàn áp của chúng sẽ hoàn toàn bị vô hiệu hóa. Đó là khởi điểm dẫn phát sự băng hoại của đảng cộng sản Việt Nam và bè lũ tay sai.

Bằng vào phương pháp này, người Ấn Độ đã thành công giành lại độc lập từ tay đế quốc Anh, người da đen đã kết thúc chế độ kỳ thị chủng tộc (apartheid) tại Nam Phi cũng như một số chế độ độc tài khác tại Trung và Bắc Phi, và nhân dân các nước Đông Âu và Liên Xô đã triệt để loại trừ chủ nghĩa toàn trị cộng sản ngay trên mảnh đất sinh ra nó. Nếu được áp dụng một cách chân thành và nghiêm túc, không có lý do gì nó lại chẳng thể đem đến cho nhân dân Việt Nam một kết quả tương tự.


Tháng 12, 2013
Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

24 tháng 10, 2013

Khi Các Đại Gia Vẫn Còn Mê Tín Dị Đoan


Đây là một chuyện bí mật công khai: Ngay bây giờ, trong thế kỷ 21 này, mà giới đại gia Hàn Quốc vẫn cứ thường xuyên tư vấn các vị pháp sư trước khi đưa ra những quyết định kinh doanh quan trọng — những quyết định có thể ảnh hưởng đến đội ngũ nhân viên của họ ở khắp nơi trên thế giới.

Vào hồi tháng Giêng năm nay, ông Thôi Thái Nguyên (Chey Tae-won), chủ tịch tập đoàn SK Group, một trong những tập đoàn lớn nhất Hàn Quốc, mất hết sĩ diện khi bị tuyên án 4 năm tù vì tội biển thủ gần 50 tỷ won (khoảng 45 triệu Mỹ kim) để bù đắp cho thua lỗ trong các vụ đầu tư cá nhân. Bản án này được tòa thượng thẩm tái xác nhận vào tháng trước.

Câu chuyện càng trở nên ly kỳ vào tối hôm trước ngày bản án được tái xác nhận khi có tin tức loan báo ông Kim Nguyên Hồng (Kim Won-hong) bị dẫn độ từ Đài Loan về Hàn Quốc để đối mặt với những cáo buộc về vai trò của ông ta trong vụ gian lận này. Trước đây ông Kim là một người quản lý tư sản cá nhân của ông Thôi và đã từng làm việc tại một công ty con của SK Group.

Nhiều người Hàn Quốc tin rằng ông Kim cũng đã từng làm thầy bói cho ông Thôi.

Chuyện các đại gia trưng cầu ý kiến của thầy bói trong một nước tư bản tiên tiến nghe ra có vẻ thật hoang đường, nhưng người Hàn Quốc vốn có quan hệ mật thiết với thế giới huyền linh đã từ lâu.

Coi bói là một chuyện rất thông thường trong giới bình dân. Có thể họ đi coi bói để tìm chỉ dẫn về đường đi nước bước khi đứng trước những ngả đường quan trọng trong đời như tốt nghiệp và hôn nhân, hoặc yêu cầu trợ giúp khi tâm thần suy nhược hoặc sự nghiệp gặp khó khăn. Các vị thầy bói dựa trên sinh thần bát tự của khách hàng để tính toán cát hung.

Ngoài ra nhiều người Hàn Quốc còn tin vào chuyện coi tướng — tức là ý niệm cho rằng cá tính và vận mệnh của mỗi người đều có thể "đọc được" qua hình dạng của tai, mắt, trán, mũi trên khuôn mặt của họ. Càng ngày càng có nhiều người Hàn Quốc đi giải phẩu chỉnh hình để thay đổi tướng diện, đặc biệt là những người ở trong lứa tuổi 50 và 60. Coi Tướng — một bộ phim rất ăn khách vừa mới được đưa ra rạp chiếu vào mùa thu năm nay — đã lợi dụng chính sở thích này.

Tại Hàn Quốc các pháp sư — được gọi là "vu đường" — vận dụng "pungsu" để hướng dẫn khách hàng. Cũng tương tự như phong thủy, "pungsu" là một môn học nghiên cứu về mối tương quan giữa con người và hoàn cảnh địa lý cũng như vật lý. Vị trí của một tòa kiến trúc lớn trong quan hệ với sông hồ và đồi núi chung quanh được xem là rất quan trọng, và giới bình dân cũng thường tư vấn pháp sư về phương vị của gia cư và mồ mả.

Tôi cũng đã từng đi coi bói khi sắp sửa tốt nghiệp đại học. Anh thầy bói trẻ, tóc dài chấm đất, bảo tôi: "Anh sẽ sinh sống bằng nghề viết văn và sử dụng ngôn từ." Điều đó về sau thực sự ứng nghiệm.

Anh ta nói rằng bản thân tôi vốn là một cội cây nhưng có một tảng đá lớn cứ muốn đè bẹp tôi và tình trạng căng thẳng giữa cội cây và tảng đá là lý do khiến tôi căm hận cuộc đời. Anh ta tiên đoán rằng lòng phẫn nộ của tôi sẽ yếu dần đi khi cội cây lớn lên. Anh ta khuyên tôi nên sống gần nơi có nước — mộc cần thủy mà. Anh ta nói rằng cuối cùng tôi sẽ trở thành một con người hiền hòa và đoan chắc rằng tôi là một kẻ thích uống bia hơn rượu đế.

Khi được biết anh thầy bói đã đoán trúng phóc tập quán ăn nhậu của tôi, nhiều bạn bè của tôi cũng tìm anh ta coi bói. Nhưng đối với họ những lời dự đoán của anh ta không mấy chính xác, và ký ức của chúng tôi về những lần viếng thăm anh ta đã trở thành một chuyện vui đùa kéo dài từ đó cho đến nay.

Nhưng dẫu quần chúng tại Hàn Quốc hâm mộ các vị pháp sư đến mức nào đi nữa, hiện tượng giới lãnh đạo các công ty khổng lồ trên sàn chứng khoán vẫn cứ dựa vào ý kiến của thầy bói để quản trị doanh nghiệp là một điều gây sốc. Căn cứ theo tín niệm phong thủy phổ biến là vận khí tùy thuộc vào phương vị của gia cư, đối với một đại gia đang gặp khó khăn, pháp sư có thể khuyên họ dời cổng vào trước tòa nhà của công ty. Các vị pháp sư có thể còn tham gia những cuộc phỏng vấn để hướng dẫn việc tuyển chọn nhân viên. Chúng ta có thể đoán chắc rằng họ được trả những món thù lao khổng lồ cho các dịch vụ tư vấn đó.

Ông Thôi Thái Nguyên đương nhiên không phải là đại gia duy nhất muốn tìm kiếm liên hệ với thế giới siêu nhiên.

Khi Trịnh Mộng Cửu (Chung Mong-koo) tranh giành quyền quản lý công ty Hyundai Motor với người em là Trịnh Mộng Hiến (Chung Mong-hun), nghe nói rằng ông ta cũng đã tư vấn thầy bói. Ông Lý Bỉnh Triết, người sáng lập công ty Samsung Electronics và phụ thân của ông Lý Kiện Hy (Lee Kun-hee, chủ tịch đương thời của công ty này), cũng hết sức tin tưởng phong thủy. (Ông Lý Bỉnh Triết trọng thị xem tướng đến độ nhất quyết đòi hỏi phải có thầy bói hoặc "thầy tướng" hiện diện trong các cuộc phỏng vấn để tuyển chọn nhân viên.) Ngoài ra, tập đoàn LG Group cũng được cho là đã xét đến yếu tố phong thủy trước khi xây dựng một tòa kiến trúc mới.

Bởi thế, xem ra chuyện ông Thôi Thái Nguyên nhờ thầy bói giúp đỡ có lẽ cũng chẳng có gì kỳ lạ. Khi được trao quyền quản lý SK Group vào năm 1998 sau khi phụ thân qua đời, ông ta thiếu thốn tiền mặt đến độ không thể trang trải thuế di sản. Vì có quan hệ với một người trước đây đã từng là thành viên ban quản trị SK Group và đồng thời lại là bạn thân của gia đình và thầy đỡ đầu của ông Thôi nên ông Kim Nguyên Hồng được giao phó trách nhiệm tiến hành việc đầu tư tiền riêng của ông Thôi.

Lúc ban đầu cuộc mạo hiểm này đã mang lại nhiều lợi nhuận. Theo báo cáo, ông Kim đã gia tăng giá trị đầu tư của ông Thôi lên gấp ba lần và điều này khiến người ta càng tin rằng ông ta có tài vị bốc tiên tri.

Tuy nhiên màn ảo thuật tài chính của ông Kim không thể tồn tại dài lâu. Theo gót cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008, đầu tư thua lỗ trầm trọng kéo ông Thôi chìm sâu vào lòng vũng bùn nợ nần. Xung đột giữa hai người xảy ra. Ông Kim trốn khỏi Hàn Quốc, xem ra có vẻ như để tránh bị tố cáo về những tổn thất trong các vụ đầu tư tiền bạc của ông Thôi. Hiện tại, ông Kim đang bị điều tra về tội đồng mưu trong việc biển thủ tài sản của công ty.

Khi đề cập đến Kim Nguyên Hồng, một nhà phân tích tài chánh không muốn thố lộ danh tính đã nói với Thời Báo Hàn Quốc rằng: "Ông ta là một nhân vật truyền kỳ. Ai cũng cho rằng ông ta có năng lực dự đoán tương lai và ông ta đã nổi tiếng là một thầy bói giỏi từ lúc còn trẻ."

Nhưng rồi sẽ có người băn khoăn đặt nghi vấn: phải chăng Kim Nguyên Hồng đã tiên đoán được rằng tương lai của ông ta sẽ nằm sau những chấn song sắt của nhà tù.

Tác giả: Kim Anh Hạ (Kim Young-ha)
Dịch giả: Lưu Vũ Hoàng Oanh
Nguồn: The New York Times

[ Đọc Tiếp ]

15 tháng 10, 2013

Khi Chú Sam Bị Bắt Làm Con Tin


Tính đến hôm nay, chính phủ Mỹ đóng cửa vừa đúng hai tuần. Tình trạng này không những đang gây ra nhiều điều bất tiện cho người Mỹ mà còn đe dọa sự phục hồi vẫn còn mỏng mảnh của nền kinh tế hoàn cầu và khiến uy tín của đất nước họ phải suy sút trên trường quốc tế. Nhưng đây không phải là một hiện tượng mới lạ, kể từ năm 1980 đến nay, chuyện này đã thực sự xảy ra 12 lần. Trong khi đó không một nước nào khác trên thế giới có trải nghiệm oái ăm này (trừ một trường hợp ngắn ngủi xảy ra tại Úc vào năm 1975 khi chính phủ của nước này phải ngưng hoạt động khoảng 3 tiếng đồng hồ, nhưng đó cũng chỉ là loại đóng cửa "trên giấy tờ" như 6 lần xảy ra tại Mỹ từ năm 1976 đến năm 1980). Bài viết này xét đến một số nguyên nhân gần và xa tạo nên tình trạng bế tắc thường xuyên của hệ thống chính trị Mỹ và đồng thời đề xuất một vài lý giải có liên quan đến lần đóng cửa thứ 18 này.

Mầm Mống Đã Bắt Đầu Từ Thời Lập Quốc

Nếu truy cứu căn nguyên thì các đấng Quốc Phụ của Mỹ (the Founding Fathers) phải gánh chịu một bộ phận trách nhiệm vì đây là kết quả do chính bản thiết kế của họ gây ra. Để cân bằng quyền lực của Tổng Thống, họ đã trao quyền nắm giữ ví tiền cho Quốc Hội qua Điều 1, Mục 9, Khoản 7 của Hiến Pháp: "Không ai có quyền rút Tiền từ Ngân Khố, trừ trường hợp căn cứ theo Kết Quả Phân Bổ Ngân Sách do Luật định." (Article 1, Section 9, Clause 7 of the United States Constitution: "No Money shall be drawn from the Treasury, but in Consequence of Appropriations made by Law.") Nói cách khác, theo cái được gọi là Mệnh Đề Phân Bổ Ngân Sách này, Quốc Hội có toàn quyền kiểm soát hay hạn chế việc chi tiêu của chính phủ bằng cách sửa đổi bộ phận hay toàn bộ ngân sách do Tổng Thống đệ trình.

Trong khi đó, để ngăn chận việc Quốc Hội lạm dụng quyền lập pháp, theo Điều 1, Mục 7, Khoản 2 của Hiến Pháp, Tổng Thống có quyền phủ quyết mọi dự luật do Quốc Hội thông qua. Nhưng để cân bằng quyền lực của Tổng Thống, cũng theo chính điều khoản này, Quốc Hội lại được phép bác bỏ phủ quyết của Tổng Thống bằng cách tái phê chuẩn để thông qua và ban hành các dự luật bị phủ quyết (mà không cần chữ ký của Tổng Thống) với một biểu quyết tối thiểu có 2/3 số phiếu tại cả hai viện. Những cấu trúc hiến chế này tạo điều kiện để hai bên có thể "kiểm soát và cân bằng" lẫn nhau, nhưng đồng thời lại chính là nguyên nhân gây ra tình trạng đình đốn hoặc bế tắc chính trị.

Nếu ngân sách không được Quốc Hội thông qua với sự đồng thuận của Tổng Thống thì chính phủ phải đóng cửa vì việc tiếp tục chi tiêu sẽ cấu thành hành vi vi hiến và vi pháp. Cụ thể, điều này sẽ xảy ra nếu (1) Quốc Hội bế tắc vì Thượng Viện và Hạ Viện không đạt được thỏa thuận chung về ngân sách (như tình trạng hiện thời), hoặc (2) Quốc Hội nhất trí thông qua ngân sách nhưng bị Tổng Thống phủ quyết và Quốc Hội không đủ sức bác bỏ sự phủ quyết ấy (như trường hợp của Tổng Thống Bill Clinton vào năm 1995). Về mặt thời gian, đóng cửa có thể xảy ra khi năm tài chính bắt đầu (vào ngày 1 tháng 10 hàng năm) hoặc bất cứ lúc nào mà việc chi tiêu cần Quốc Hội phê chuẩn (chẳng hạn, sau khi một phân bổ tạm thời chấm dứt nhưng ngân sách hoặc một phân bổ tạm thời mới không được thông qua).

Truyền Thống "Ngoảnh Mặt Làm Ngơ"

Tuy quyền quản lý ví tiền của Quốc Hội được quy định rõ ràng trong Hiến Pháp nhưng trên thực tế việc ngăn chặn không cho các cơ quan hành pháp thọc tay vào ví không phải là chuyện dễ dàng. Chi tiêu quá kim ngạch do Quốc Hội phân bổ là một hiện tượng có lịch sử dài lâu. Chính phủ thường xuyên "mua chịu" và "xài chịu" trước (bằng tín dụng) rồi yêu cầu Quốc Hội thông qua sau. Tuy không hài lòng nhưng Quốc Hội cảm thấy có trách nhiệm phải trang trải nợ nần của chính phủ nên đành cắn răng chấp nhận.

Để đối phó với mánh khóe áp đặt "chuyện đã rồi" này, Quốc Hội ban hành Đạo Luật Chống Thiếu Hụt (the Antideficiency Act) vào năm 1870 (sau đó được sửa đổi nhiều lần, đáng kể nhất là vào những năm 1884, 1950, và 1982, và vẫn còn hiệu lực cho đến ngày hôm nay). Theo đạo luật này, bất cứ quan viên chính phủ nào tạo ra chi tiêu ngoài mức phân bổ theo luật định đều có thể bị kỷ luật hành chính nếu sơ ý vi phạm (cách chức, giáng chức, đình chức không lương, hoặc bắt buộc tham gia các khóa huấn luyện ngân sách) hoặc bị chế tài hình sự nếu cố tình vi phạm (phạt tiền, phạt tù, hoặc cả hai).

Như ngựa quen đường cũ, nhiều thế hệ Quốc Hội tiếp theo vẫn không bỏ được thói "ngoảnh mặt làm ngơ" nên chẳng màng thực thi Đạo Luật Chống Thiếu Hụt một cách nghiêm khắc. Tuy quan viên chính phủ có khi bị kỷ luật hành chính nhưng trong 143 năm qua chưa một ai bị kết án hình sự vì tội vi phạm đạo luật này. Trong khi đó Quốc Hội cứ thường xuyên sử dụng biện pháp phân bổ tạm thời qua cái gọi là nghị quyết lấp lỗ hổng (stopgap resolution) hoặc nghị quyết tiếp tục (continuing resolution) để cho phép chính phủ duy trì hoạt động ở mức độ ngân sách cũ trong trường hợp ngân sách mới không thể thông qua trước hạn chót theo luật định. Những nghị quyết này, thông thường chỉ có hiệu lực từ hai tuần cho đến hai tháng, là vé mua thời gian để Quốc Hội và Tổng Thống tiếp tục đàm phán.

Thỉnh thoảng có khi hai bên không thể đạt được đồng thuận về những nghị quyết này (như tình trạng hiện thời). Nhưng thậm chí trong trường hợp đó chính phủ vẫn không cần đóng cửa và chẳng có ông bà bộ trưởng nào bị còng tay bắt đi cả. Vì cuối cùng Quốc Hội cũng sẵn sàng xí xóa chuyện đã rồi bằng cách thông qua một dự luật phân bổ có hiệu lực hồi tố để lấp liếm các lỗ hổng ngân sách (mà chính mình đã góp phần tạo nên).

Khi Thần Giữ Cửa Hiện Thân

Truyền thống xí xóa để hòa cả làng (mà có người gọi là cung cách hành xử có đạo nghĩa chính trị) này được xem là một việc làm "hợp lẽ thường" dựa trên lý giải mang tính hiện thực là đóng cửa chính phủ chỉ gây phiền toái và bất tiện cho người dân chứ chẳng có lợi ích gì cả. Truyền thống này kéo dài suýt soát 200 năm nhưng đã phải chấm dứt vào năm 1980 khi ông Benjamin Civiletti, Tổng Chưởng Lý đương thời của Tổng Thống Jimmy Carter, thả vị thần giữ cửa ra khỏi lọ. Civiletti tuyên bố rằng chúng ta không thể làm điều hợp lẽ thường, chúng ta phải làm điều hợp pháp, tức là phải làm đúng theo những gì mà Đạo Luật Chống Thiếu Hụt quy định.

Ý kiến của Civiletti có thể tóm tắt qua câu nói cụt ngũn nhưng có tính lịch sử này: "Cơ sở pháp lý cho phép chính phủ tiếp tục hoạt động hoặc là tồn tại hoặc là nó không tồn tại." Điều đó có nghĩa là trong trường hợp nó không tồn tại, chính phủ bắt buộc phải đóng cửa chứ không thể tiếp tục dây dưa. Ông ta còn khẳng định dứt khoát sẽ truy tố những ai vi phạm đạo luật này. Nói cách khác, Civiletti cảnh báo rằng Quốc Hội không thể ngoảnh mặt làm ngơ như trước mà phải đối diện với hậu quả tất yếu do quyết định từ chối phân bổ ngân sách gây nên—vì như một vị thần giữ cửa Đạo Luật Chống Thiếu Hụt sẽ không cho phép nhân viên chính phủ vào làm việc nếu điều đó xảy ra. Tuy chỉ là ý kiến, nhưng từ đó đến nay những diễn giải của Civiletti được xem là cơ sở pháp lý chi phối quá trình "đóng cửa" của chính phủ Mỹ.

Thực Sự... Vẫn Hé Mở

Nói một cách nghiêm túc, "chính phủ đóng cửa" là một danh xưng không hoàn toàn chính xác và có thể dẫn đến tình trạng ngộ nhận vì trên thực tế không phải tất cả mọi cơ quan và dịch vụ của chính phủ đều ngưng hoạt động. Cũng theo ý kiến của Civiletti, Đạo Luật Chống Thiếu Hụt cho phép chính phủ tiếp tục hoạt động trong hai trường hợp ngoại lệ. Trường hợp ngoại lệ thứ nhất bao gồm những chi tiêu có liên quan mật thiết đến "sự an toàn của mạng sống con người hoặc việc bảo vệ tài sản" ("the safety of human life or the protection of property"). Trường hợp ngoại lệ thứ hai bao gồm những chi tiêu "đã được luật pháp phê chuẩn trước" ("authorized by law"), chẳng hạn, việc trả lương cho Tổng Thống, thành viên Quốc Hội, và thẩm phán Tối Cao Pháp Viện sẽ không bị ảnh hưởng vì đã được Hiến Pháp và các đạo luật liên đới quy định trước. Tương tự, tiền trợ cấp an sinh xã hội vẫn được phân phát như thường lệ vì đây là một chương trình chi tiêu bắt buộc và có tính vĩnh cữu do Đạo Luật An Sinh Xã Hội (the Social Security Act) quy định từ năm 1935.

Những chi tiêu hay dịch vụ ngoại lệ này được gọi chung là "thiết yếu" ("essential") trong khi đó tất cả các chi tiêu hay dịch vụ khác được xem là "không thiết yếu" ("non-essential"). Trong trường hợp chính phủ đóng cửa, chỉ có các dịch vụ "không thiết yếu" mới phải ngừng hoạt động và những nhân viên liên đới phải nghỉ phép không lương. Bởi vậy nói một cách đúng đắn, chính phủ chỉ đóng một bộ phận, những bộ phận quan trọng vẫn được mở để bảo đảm an ninh xã hội và an sinh của người dân. Tùy theo mức độ "thiết yếu," các cơ quan của chính phủ sẽ có những mức độ đóng cửa khác nhau. Trong kỳ đóng cửa (bắt đầu từ 1 tháng 10, 2013) này, có cơ quan vẫn làm việc bình thường (như Tối Cao Pháp Viện), chỉ đóng cửa chưa tới 4% (như Bộ Cựu Chiến Binh) hoặc suýt soát 15% (như Bộ Tư Pháp và Bộ Nội An) trong khi đó có cơ quan phải đóng cửa hơn 95% (như NASA và Bộ Gia Cư Và Phát Triển Đô Thị).

Chiến Tranh Obamacare

Những cấu trúc mang tính hiến chế và pháp chế nêu trên là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc bế tắc chính trị. Nhưng nếu hai bên biết hành xử hợp với đạo nghĩa chính trị thì chắc chắn đã có thể ngăn chặn được vụ việc. Theo nhân định của đa số người Mỹ, đảng Cộng Hòa được xem là thủ phạm cố tình miệt thị nguyên tắc này khi họ ngoan cố kéo dài cuộc chiến hủy diệt Obamacare bằng mọi giá và đó chính là nguyên nhân trực tiếp khiến chính phủ Mỹ phải đóng cửa lần này.

Obamacare là tên gọi tắt của Đạo Luật Bảo Vệ Bệnh Nhân Và Chăm Sóc Sức Khỏe Với Giá Phải Chăng (the Patient Protection and Affordable Care Act). Mục đích chính của đạo luật này là nâng cao chất lượng và phổ cập hóa chế độ bảo hiểm y tế bằng cách bắt buộc mọi người dân Mỹ phải mua bảo hiểm y tế (để tăng cường nguồn góp chung và giảm giá bảo hiểm), nếu không sẽ bị phạt tiền. Trong khi đó chính phủ liên bang sẽ gánh vác trách nhiệm tài trợ cho những người có thu nhập thấp. Đạo luật này được lưỡng viện Quốc Hội (lúc đó do đảng Dân Chủ nắm quyền đa số) thông qua và được Tổng Thống Obama ký thành luật vào ngày 23 tháng 3, 2010.

Sau khi thất bại trên chiến tuyến lập pháp, đảng Cộng Hòa và những người phản đối Obamacare thách thức nó trên mặt trận tư pháp bằng lập luận vi hiến, qua vụ án National Federation of Independent Business v. Sebelius. Họ cho rằng Quốc Hội không có thẩm quyền hiến định để thông qua đạo luật này vì việc phạt tiền những ai không chịu mua bảo hiểm y tế là một hình thức đánh "thuế trực tiếp" thuộc quyền lập pháp dành riêng cho các tiểu bang. Nhưng vào ngày 28 tháng 6 năm 2012, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ cũng bác bỏ lập luận của họ và phán quyết rằng đại bộ phận của đạo luật này hợp hiến vì đó là một loại "thuế gián tiếp" thuộc quyền quản hạt của Quốc Hội. Trong kỳ tuyển cử tổng thống năm 2012, Mitt Romney tuyên bố rằng việc hủy bỏ Obamacare là một bộ phận quan trọng trong chính cương tranh cử của đảng Cộng Hòa. Nhưng, như mọi người đều biết, họ cũng đã thất bại nặng nề trên mặt trận này.

Bởi vậy, cuối cùng đảng Cộng Hòa đã quay sang sử dụng chiến thuật khủng bố ngân sách, đe dọa đóng cửa chính phủ nếu Tổng Thống Obama và đảng Dân Chủ không nhượng bộ trên chiến trường Obamacare. Cụ thể, vào ngày 30 tháng 9, 2013, Hạ Viện (do họ nắm quyền đa số) thông qua một dự luật chi tiêu với điều kiện đính kèm là việc phân bổ ngân sách cho Obamacare phải đình hoãn 1 năm và điều khoản đánh thuế vào các dụng cụ y tế phải được hủy bỏ. Thượng Viện (do đảng Dân Chủ nắm quyền đa số) bác bỏ dự luật đó và tuyên bố sẽ không chấp nhận bất cứ điều kiện nào buộc họ phải hy sinh Obamacare. Đảng Cộng Hòa vẫn cứ khăng khăng giữ vững lập trường nên tình trạng bế tắc kéo dài cho đến ngày hôm nay.

Ai Thắng, Ai Thua?

Hầu như tất cả các cuộc thăm dò dư luận trong hai tuần vừa qua đều có một mẫu số chung là đảng Cộng Hòa đang bị quần chúng khiển trách nặng nề hơn cả và mức độ "mất lòng dân" của họ đang trên đà gia tăng. Chẳng hạn, theo 2 cuộc thăm dò dư luận do ABC News và Washington Post liên hợp thực hiện vào hai ngày 30 tháng 9 và 7 tháng 10: mức độ người Mỹ không tán thành phương cách đảng Cộng Hòa đang sử dụng để giải quyết tình trạng bế tắc tăng 7% (từ 63% vào ngày 30 tháng 9 lên 70% vào ngày 7 tháng 10) trong khi đó mức độ không tán thành hành vi của đảng Dân Chủ tăng 5% (từ 56% vào ngày 30 tháng 9 lên 61% vào ngày 7 tháng 10). Riêng đối với Tổng Thống Obama, mức độ này hầu như không thay đổi ở khoảng 50% trong suốt tuần lễ đó. Tương tự, theo cuộc thăm dò dư luận do NBC News và Wall Street Journal liên hợp thực hiện trong 3 ngày từ mồng 7 đến mồng 9 tháng 10: sự tín nhiệm của quần chúng đối với đảng Cộng Hòa tụt xuống mức thấp chưa hề có trong lịch sử thăm dò dư luận là 24%.

Nhưng đây không phải là một hiện tượng khó hiểu vì trong mắt của đa số quần chúng Mỹ, hành vi của đảng Cộng Hòa tỏ vẻ phi lý một cách trắng trợn. Họ cho rằng đảng Cộng Hòa, do các thành viên có quyền lực của phong trào Tiệc Trà thao túng, đã đặt ý thức hệ chính trị lên trên lợi ích quốc gia. Thậm chí có nhiều người không ngần ngại ví von thủ đoạn của họ với cuộc "thánh chiến" ("jihad") của các phần tử cực đoan Hồi giáo và cho rằng họ đã bắt chính phủ làm con tin để đòi tiền chuộc dưới dạng Obamacare. Tuy nhiên, Thượng Nghị Sĩ John McCain của đảng Cộng Hòa đã bày tỏ ý kiến một cách trung thực và công bình hơn cả:
"Tôi đã đi khắp đất nước này nhiều tháng trong năm 2012 để vận động cho việc 'hủy bỏ và thay thế Obamacare.' Nhưng điều đó đã không trở thành mệnh lệnh ủy nhiệm của cử tri. Nếu cử tri muốn hủy bỏ Obamacare thì kết quả của cuộc tuyển cử năm 2012 có lẽ đã khác đi một cách đáng kể. Ý đồ hủy bỏ Obamacare bằng phương thức buộc chính phủ phải đóng cửa là điều đi ngược với nguyện vọng của quần chúng."
Nói cách khác, Obamacare đã trở thành quốc pháp (the law of the land) qua một tiến trình dân chủ công bằng, minh bạch, và có nội dung đã được Tối Cao Pháp Viện xác nhận là hợp hiến, bởi vậy dù muốn hay không mọi người dân Mỹ đều phải tôn trọng kết quả đó.

Đương nhiên, đảng Cộng Hòa lúc nào cũng còn có cơ hội hủy bỏ Obamacare, nhưng họ phải thực hiện điều đó qua tiến trình dân chủ chính quy (như đảng Dân Chủ đã làm để xây dựng Obamacare), tức là nỗ lực để giành quyền làm chủ Tòa Bạch Ốc và đồng thời chiếm đa số ghế tại lưỡng viện Quốc Hội. Nhưng trước khi điều đó xảy ra, họ không thể chơi trò thọc gậy bánh xe. Ở Mỹ, cũng như ở các nước dân chủ chân chính khác, ý dân là ý Trời, bởi thế thành bại của chính khách hay chính đảng hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng thuyết phục cử tri. Đảng Cộng Hòa chí ít đã tạo nên ấn tượng là họ muốn xài luật rừng (the law of the jungle) để tiến hành chiến tranh du kích và khủng bố nhằm đả phá quốc pháp và đó là lý do chủ yếu khiến đại đa số người Mỹ phản cảm.

Những con số do các cuộc thăm dò dư luận trong hai tuần vừa qua nêu ra là yếu tố khiến nội bộ đảng Cộng Hòa phân hóa. Phái ôn hòa đang lo ngại vì, nếu dùng tiêu chuẩn "lòng dân" để đo lường, kế hoạch của họ đã thất bại ê chề. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu trong vài ngày sắp tới đảng Cộng Hòa cam chịu từ bỏ những yêu sách chủ yếu về Obamacare để mở cửa chính phủ trở lại (nếu đảng Dân Chủ chấp nhận một vài điều kiện không quan trọng để họ có thể giữ thể diện trong lúc rút lui). Nhưng xét cho cùng, một khi lợi ích hay ý thức hệ của đảng phái được xem là mục đích tối hậu thì kẻ thua thiệt chân chính phải là đất nước và nhân dân. Ở một mức độ nào đó, điều này đã xảy ra tại Mỹ trong hai tuần vừa qua nhưng ảnh hưởng tiêu cực của nó có khả năng kéo dài lâu hơn nữa.

Nam Hải Trường Sơn
15 tháng 10, 2013
[ Đọc Tiếp ]

11 tháng 8, 2013

Bóp Vú, Bóp Trán



Bóp Vú, Bóp Trán

Vâng, tôi ưa nhìn vú đàn bà. Đó là một sự thật không thể chối cãi và chẳng cần chi phải dấu diếm.

Đương nhiên, không phải nhìn chằm chặp một cách khiếm nhã mà chỉ nhẹ nhàng đưa nhãn tuyến quét ngang bằng một tốc độ cực nhanh. Nói một cách chính xác, thời lượng mỗi lần không quá 0,5 giây. Bởi thế, hầu hết (nếu không phải là toàn bộ) đối tượng chẳng bao giờ hay biết họ đã được tôi chiêm ngưỡng núi đồi bằng ánh mắt la-de. Nếu thích, lắm lúc tôi còn dùng não bộ chụp luôn một vài tấm hình lưu niệm.

Nếu có ai chê bai là đồ dê xồm thì tôi sẵn sàng thú nhận tội lỗi, mặc dù nhiều khi đó chỉ là hành vi do tiềm thức thôi thúc.

Còn bạn thì sao? Bạn có ưa nhìn vú đàn bà không? Nếu bạn phủ nhận thì tôi đoan chắc—với độ chính xác hơn 99%—rằng bạn là một kẻ hèn nhát và thiếu thành thật. Dám làm mà không dám chịu chẳng phải là bản sắc của đấng mày râu. Đàn ông Việt Nam ("thẳng hàng" và ở miền xuôi) ai mà chả thế? Nhưng trước khi quý bà, quý cô, và quý ngài đồng tính lao nhao lên tiếng phản đối, xin thanh minh rằng trong bài viết này khái niệm "bạn" cũng như "đàn ông" chỉ dành riêng cho bọn đực rựa dị tính như tôi mà thôi.

Đàn Ông Là Động Vật... Dại Vú


Cụ cố đời thứ 69 của bạn—và cả của tôi nữa, tất nhiên rồi—chắc chắn cũng ưa nhìn vú. Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm vị thành niên (và lạm dụng quyền lực để che lấp vụ việc). Giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam đương nhiên cũng không thoát khỏi kiếp nạn. Từ Hồ Chí Minh cho đến đám đàn em như Lê Duẩn, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, và Nông Đức Mạnh tất cả đều bị cái vú nó quậy.

Trong một cuộc nghiên cứu về khả năng "trì hoãn thỏa mãn," một số đàn ông được phép chọn lựa lấy tiền thưởng ngay hoặc phải đợi thêm vài ngày để lấy một số tiền thưởng lớn hơn gấp đôi. Họ được chia thành hai nhóm: một nhóm xem video về phong cảnh của một vùng thảo nguyên thơ mộng và một nhóm xem video quay chậm một số thiếu nữ hấp dẫn và có bộ ngực hở hang chạy nhảy trên bờ biển theo kiểu phim tập "Baywatch." Kết quả của cuộc thí nghiệm cho thấy đại bộ phận đàn ông đều rơi vào cạm bẫy "mỹ nhũ kế" một cách dễ dàng. So với nhóm xem phong cảnh thảo nguyên, tỉ lệ chọn lấy tiền thưởng ngay lập tức của nhóm xem gò bồng đảo trên bãi biển cao hơn ở mức áp đảo.


Nguyên do chỉ vì "dại vú" là bản chất cố hữu của đàn ông (không những ở Mỹ mà suy rộng ra còn ở nhiều nơi khác trên thế giới—đừng quên rằng Mỹ vốn là một hợp chủng quốc). Khi đối diện với vú đàn bà (hoặc thậm chí những vật dụng kích thích có liên quan đến vú, như xu-chiêng), các trung tâm "hưởng lạc" và "tiếp nhận phần thưởng" trong não bộ đàn ông lập tức "la lối om sòm" để trấn áp không cho các trung tâm "suy luận" và "phán đoán" bằng lý tính của họ lên tiếng. Cụ thể hơn, tình trạng "mê mẩn tâm thần" này xảy ra vì hình ảnh bầu vú đong đưa trong video đã khiến não bộ của nhóm đàn ông này tiết ra một số hoá chất nhằm kích hoạt các mạch thần kinh có nhiệm vụ xúi dục hành vi hưởng thụ và thỏa mãn. Đây chính là nguyên nhân thúc đẩy họ chọn lựa lấy ngay phần thưởng ít tiền—một chọn lựa khờ khạo, không phù hợp với nguyên tắc kinh tế—trong khi nhóm đàn ông không bị nhũ hoa ảnh hưởng lại có hành vi tương phản nhưng hợp lý hơn. Trẻ thơ và (hầu hết) đàn ông đều ưa bú nhưng trước tuổi dậy thì chúng không dại... v(l)ú như bậc trưởng thượng cha chú.

Đương nhiên quý bà và quý cô cũng rất thích thú khi được đàn ông quan tâm đến vùng núi đồi màu mỡ của mình—nhưng không phải chỉ ưa được ngắm nghía mà còn muốn đấng lang quân thi hành nhiều nhiệm vụ "đậm đà tính đàn ông" hơn nữa. Gần đây có nhiều nghiên cứu khoa học xác định (điều mà đàn ông đã biết rõ từ thuở xa xưa bằng kinh nghiệm) rằng kích thích nhũ bộ có tác dụng nâng cao mức độ hưng phấn tính dục cho đại đa số phụ nữ.

Khảo cứu chung của Roy Levin (Đại Học Sheffield) và Cindy Meston (Đại Học Texas) là một ví dụ tiêu biểu. Trong bài báo cáo mang tựa đề "Nipple/Breast Stimulation and Sexual Arousal in Young Men and Women" đăng trên Tạp Chí Y Học Tính Dục, hai vị giáo sư này cho hay 82% phụ nữ tham gia cuộc thăm dò do họ thực hiện thừa nhận mức độ hưng phấn tính dục gia tăng khi được kích thích núm vú hoặc bầu vú. Đồng thời, gần 60% chủ động yêu cầu đối tác xoa bóp núm vú cho họ trong khi làm tình. Điều này chứng tỏ rằng kích thích bầu vú cũng có tác dụng khởi động những trung tâm não bộ chi phối tính hứng thú, chẳng khác chi cơ chế kích thích âm đạo và âm vật (vốn đã có nhiều bằng cớ khoa học và... trải nghiệm). Để biết thêm chi tiết, xem Journal of Sexual Medicine 3 (May 2006): 450–4.

Lý Thuyết Truyền Thống

Xét cho cùng, vú đàn bà chỉ là hai túi mỡ tòng teng, nhưng tại sao từ cổ chí kim đàn ông lại cứ ưa ngắm nghía, sờ mó, và bú liếm—thậm chí đến mức độ lú lấp lý trí? Loài người trăn trở với vấn đề này chí ít cũng đã mấy ngàn năm nay rồi, bởi thế, từ Đông sang Tây, nỗi ám ảnh này—cũng giống như chính nỗi ám ảnh mà đôi vú đàn bà áp đặt vào tâm tư đàn ông—là một đề tài quyến rũ thu hút nhiều nỗ lực giải mã.

Ở Việt Nam và Trung Quốc, cũng như các nước khác trong vùng Đông Á, lời giải thích thông dụng nhất thường được triển hiện qua câu danh ngôn: "Thực sắc tính dã." Hoặc vì tính súc tích và thuận miệng hoặc vì chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ giá trị Khổng-Mạnh (hoặc vì cả hai), lý thuyết này tuy đã có hơn 2.250 năm lịch sử nhưng ngày càng đắt khách. Cho đến hiện thời, không riêng gì người Việt, nhiều người Tàu và thậm chí không ít sách báo Hoa ngữ vẫn cứ cho rằng đó là ngôn từ của Mạnh Tử hoặc Khổng Tử. Trên thực tế, Cáo Tử—một nhân vật không mấy tiếng tăm trong giới Bách Gia Chư Tử sống cùng thời với Mạnh Tử—mới là tác giả chân chính. Thực sắc tính dã là một bộ phận của khái niệm tính vô thiện vô bất thiện mà Cáo Tử dùng để phản bác lý luận tính thiện của Mạnh Tử. Bởi thế sản quyền tri thức của thực sắc tính dã cần phải được hoàn trả cho Cáo Tử. Về mặt triết học, nhân tính luận của Cáo Tử là một đóng góp rất có giá trị, nếu xét đến cuộc tranh luận về bản chất của con người kéo dài hằng bao thiên niên kỷ nhưng đến bây giờ vẫn còn chưa ngã ngũ.

Tuy nhiên, về mặt khoa học, nếu dùng thực sắc tính dã để làm cơ sở giải thích tật mê vú của đàn ông thì đó chẳng qua chỉ là một trò lừa bịp rất ấu trĩ. Đến trẻ thơ ở lứa tuổi dậy thì (của bất cứ thời đại nào) cũng hiểu rõ "ăn uống" và "giao phối" không phải là chuyện riêng của con người (nói chung, cả đàn ông lẫn đàn bà) mà còn là nhu cầu cần thiết của hầu hết mọi động vật khác. Bởi thế nghe ra thì có vẻ uyên bác lắm nhưng đây thực chất chỉ là một loại lý thuyết rỗng—có nói cũng như không.

Ở phương Tây, các nhà sinh vật học thuộc trường phái tiến hóa thì cho rằng đàn ông giao phối vì mục đích chính là để lưu truyền bộ gien của mình lại cho đời sau. Bởi thế họ phải quan sát để săn lùng và chọn lựa những bộ vú căng thẳng và đẫy đà (chứa đựng khối lượng mỡ cần thiết) vì đó là dấu hiệu biểu thị trạng thái sức khỏe tốt của người đàn bà có triển vọng tối ưu về khả năng thai nghén và nuôi con. Nhưng lý thuyết này vẫn không thể giải đáp vấn đề một cách thỏa đáng vì chính bản thân nó cũng có nhiều mâu thuẫn nội tồn.

Trên thực tế, kén chọn đối tác tính dục nói chung không phải là bản chất của đàn ông; ngược lại, nếu vớ được là họ không bao giờ chịu bỏ qua mà phải tận hưởng để khỏi lãng phí của trời. Có hai nguyên do chính: (1) đàn ông không sợ bị mang thai và (2) nguồn tinh trùng của họ hầu như là vô hạn nên rẻ như bèo và có thể vung vãi tùy thích. Khác với số lượng trứng cố định bẩm sinh của phụ nữ, đàn ông có khả năng liên tục tái tạo tinh trùng. Từ tuổi dậy thì cho đến lúc chết, bình quân mỗi ngày một người đàn ông có thể sản xuất từ 43.200.000 đến 86.400.000 tinh trùng (tức từ 500 đến 1.000 tinh trùng mỗi giây). Hơn nữa, nếu mục đích chủ yếu của việc giao phối là để nối dõi tông đường—như lý luận tiến hóa gợi ý—thì đàn ông cần phải giao phối với càng nhiều đàn bà càng tốt vì đó là phương thức giúp họ hoàn thành nhiệm vụ một cách hữu hiệu hơn việc chỉ chọn lựa đối tượng có vú đầy, vú đẹp.

Lý Thuyết Oxytocin-Dopamine

Gần đây hơn, Larry Young—một giáo sư khoa học thần kinh thuộc Đại Học Emory—và ký giả Brian Alexander lại đề xuất một lý thuyết mới trong tác phẩm The Chemistry Between Us: Love, Sex, and the Science of Attraction được xuất bản vào năm 2012. Tuy là một tài liệu nghiên cứu khoa học chứa đựng nhiều dữ liệu kỹ thuật phức tạp và khô khan, nhưng cuốn The Chemistry Between Us lại rất dễ đọc và có sức thu hút nhờ văn phong bình dị, sống động, và thỉnh thoảng có pha chút hương vị khôi hài của hai đồng tác giả.


Theo Larry Young và Brian Alexander, tật mê vú của đàn ông là kết quả của hành trình tiến hóa được hình thành để thích ứng với những cơ chế hóa học xảy ra trong não bộ của đàn bà, và điều này lại liên quan trực tiếp đến quá trình xúc tiến sự gắn bó của tình mẫu tử. Để bú sữa mẹ, trẻ sơ sinh phải tiến hành thao thác đầu vú của người mẹ một cách rất tinh tế. Khi được kích thích như thế, đầu vú của người mẹ sẽ phát ra tín hiệu để mệnh lệnh não bộ phóng thích hai hóa chất thần kinh quan trọng là oxytocin và dopamine. Khi được phóng thích, oxytocin sẽ có tác dụng thúc đẩy cơ bắp trong bầu vú phún sữa ra để cho con bú.

Nhưng oxytocin còn có những tác dụng khác cũng không kém phần quan trọng. Khi được tiết ra dưới sự thối thúc của đứa bé, oxytocin sẽ khiến người mẹ phải tập trung sự chú ý của mình vào đứa con thơ và xem nó là ưu tiên số một. Phối hợp với dopamine, oxytoxin còn đóng một vai trò quan trọng trong việc khắc ghi hình ảnh, âm thanh, và mùi vị của đứa bé sơ sinh vào mạch thần kinh chi phối việc tưởng thưởng của người mẹ khiến quá trình nuôi nấng trở thành một trải nghiệm bổ ích và đầy thỏa mãn. Đó chính là động lực giúp người phụ nữ tiếp tục trọng trách làm mẹ và kiến tạo mối gắn bó tình mẫu tử với con mình— một gắn bó đẹp đẽ và bền bỉ nhất trong tất cả mọi gắn bó xã hội của loài người.

Tương tự, loạt cơ chế hóa học thần kinh và tâm lý này cũng sẽ xảy ra khi người đàn bà được đối tác tính dục xoa bóp, bú liếm, hay gặm nhấm bầu vú. Nhưng trong hoàn cảnh này, oxytocin và dopamine sẽ tập trung sự chú ý của người đàn bà vào đối tác tính dục và tăng cường ước vọng kiến tạo mối kết nối tình yêu với người này. Từ khi khám phá ra bí mật này (chí ít là cả hàng trăm ngàn năm trước), đàn ông bắt đầu dùng kỹ thuật kích thích bầu vú để lấy lòng đàn bà—để được họ chú ý, yêu mến, và săn sóc. Y hệt như lũ trẻ sơ sinh!

Qua quá trình tiến hóa, hành vi này được chọn lọc và bảo tồn trong tổ chức não bộ của đàn ông. Như thế, theo Larry Young và Brian Alexander, mê vú là một động lực tiến hóa hiện hữu trong tiềm thức của đàn ông như một công cụ cần thiết để kích hoạt mạch thần kinh gắn bó của đàn bà nhằm hướng đến việc kiến tạo một mối quan hệ bền bỉ trong yêu thương và chăm chút lẫn nhau.

Khác Biệt Văn Hóa

Lý thuyết hóa chất thần kinh này sẽ càng có sức thuyết phục hơn nếu Larry Young và Brian Alexander có thể giải quyết một cách thỏa đáng vấn đề khác biệt văn hóa. Đây là một thử thách chung đối với bất cứ khoa học gia nào muốn đề xuất những lý thuyết có tính phổ quát để giải thích hành vi hay cảm xúc của con người. Trong trường hợp này, chướng ngại mà họ chưa thể vượt qua là không phải đàn ông ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng đều mê vú như kiểu cách họ trình bày. Cho đến hiện thời, nhiều xã hội tại châu Phi vẫn còn duy trì phong tục phụ nữ để ngực trần và đàn ông ở những nơi này không cảm thấy bị vú đàn bà thu hút theo chiều hướng kích thích tính dục—vì đó là một truyền thống văn hóa có tính trang trọng. Họ nhìn bầu vú đàn bà với ánh mắt trong sáng và một tấm lòng bình đẳng thản nhiên.

Tương tự, nhiều dân tộc thiểu số miền núi trên khắp lãnh thổ Việt Nam (đặc biệt là tại hai vùng Tây Nguyên và Tây Bắc) cũng có một lịch sử lâu dài về phong tục này. Do ảnh hưởng của nền văn hóa "hiện đại" của miền xuôi, bắt đầu từ giữa thế kỷ 20 phong tục này không còn thịnh hành như trước. Tuy nhiên hiện thời nó vẫn còn được bảo tồn trong một phạm vi tương đối hạn hẹp. Đối với họ, vú đàn bà là biểu tượng của quyền uy thiêng liêng, sứ mạng phồn thực cao quý, vẻ đẹp rực rỡ của thiên nhiên, và hạnh phúc viên mãn của con người.


Chẳng hạn, trước cửa nhà sàn của người dân Ê-đê trên vùng Tây Nguyên thường có một cặp cầu thang đực-cái. Đặc điểm đáng lưu ý là cầu thang cái không những có kích thước tối thiểu phải lớn gấp đôi cầu thang đực mà bên trên còn được khắc thêm một đôi vú và một vành trăng lưỡi liềm. Cấu trúc này được xây dựng dựa trên quan niệm cho rằng tiếp xúc hoặc chiêm ngưỡng vú thật hay vật tượng trưng đều có thể mang lại cho gia đình họ nhiều vận may và điềm lành. Ngoài ra họ còn tin rằng bầu vú đàn bà có thần uy xua đuổi thú dữ. Bởi thế mỗi khi ra rẫy hoặc lên rừng, đàn bà ngực trần và tay không ngang nhiên đi trước mở đường còn đàn ông thì cầm giáo mác đi ở đằng sau. Cũng như chiếc cầu thang đực, đàn ông Ê-đê nhìn người đàn bà của họ bằng ánh mắt mến phục và lòng ngưỡng mộ sâu sắc chứ không phải mê mẩn vì động lực tiến hóa—một di sản văn hóa của chế độ mẫu quyền đã từng một thời ngự trị huy hoàng trên vùng thượng du.

Đương nhiên, phong tục để vú trần của phụ nữ sống trong những nền văn hóa này không nhất thiết có nghĩa là kích thích bầu vú do đối tác của họ thực hiện không phải là một bộ phận của giai đoạn tiền tấu hoặc giao cấu trong chốn phòng the của họ. Nhưng vấn đề là cho đến bây giờ vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về hiện tượng này theo chiều hướng nhân chủng học (tức là xác định kích thích bầu vú trong lúc làm tình là một thao tác vượt qua giới hạn văn hóa). Quan trọng hơn, dẫu tính phổ quát của nó có thể xác định theo chiều hướng nhân chủng học, ý nghĩa của việc kích thích bầu vú vẫn còn là một khúc mắc cần phải được tháo gỡ. Phải chăng mục đích của nó chỉ đơn thuần mang tính tiến hóa theo chiều hướng kiến tạo gắn bó đôi lứa dài hạn? Bằng vào trực giác, chúng ta không thể loại trừ giả định cho rằng đàn ông làm chuyện đó chỉ vì dục vọng sinh lý vị kỷ tạm thời—tức là để nâng cao mức độ hưng phấn cho chính bản thân họ trong lúc làm tình mà thôi.

Trên đây là một số lỗ hổng mà Lary Young và Brian Alexander cần phải lấp đầy trước khi lý thuyết của họ có thể được xác nhận là mang tính phổ quát hay toàn cầu. The Chemistry Between Us là một khám phá thú vị và đang dẫn phát một chuỗi phản ứng khá nhiệt liệt trong giới hóa học thần kinh và tâm lý học, nhưng nó chỉ là một chương tiết kích thích tiền tấu chưa thể đưa kẻ ghiền (nghiên cứu) vú lên đỉnh mê li của hồi kết cuộc.

Nói tóm lại, bóp vú vẫn còn là một vấn đề cần bóp trán.

Nam Hải Trường Sơn
Vẫn Vờ Vớ Vú Vu Vơ
8-2013
[ Đọc Tiếp ]

10 tháng 8, 2013

Bệnh Lý Tâm Thần của Vũ Ánh và Nguyễn Hưng Quốc


Bệnh Lý Tâm Thần của Vũ Ánh và Nguyễn Hưng Quốc

Phỏng theo câu ngạn ngữ tiếng Pháp Pauvreté n'est pas vice, hôm nay tôi nghĩ ra câu Maladie n'est pas vice, mang bệnh không phải là mang tội. Nhân loại không bao giờ kết án người mắc bệnh tim hay bệnh hủi.

Nhập đề như vậy để khẳng định rằng trong bài viết này tôi không hề có ý nghĩ xúc phạm đến hai ông Vũ Ánh và Nguyễn Hưng Quốc; ngược lại, tôi kính trọng tráng chí dấn thân của nhị vị họ Vũ và họ Nguyễn trong lĩnh vực văn hoá chính trị.

Tuy nhiên cung cách ứng xử, hành vi cá biệt của họ mang tính bất thường, hay nói đúng hơn, mang tính bệnh lý. Ở cả hai vị tồn tại cùng một lúc hai thứ tình cảm, nhị vị bày tỏ thái độ ngược nhau đối với cùng một đối tượng, quí vị thiết tha với hai giá trị tinh thần trái chiều.

Đó là tình trạng ambivalence (lưỡng đoạn) trong tâm thần học. Nhị vị có những hành vi mang tính phá hoại chống lại xã hội (asocial, dyssocial) mà không do một động cơ nào rõ rệt, tựa hồ như từ một yếu tố bẩm sinh hoặc do một tỳ vết tâm linh; ở đây khoa tâm bệnh học dùng tính từ pervers (thác loạn) để mô tả. Riêng ông Vũ Ánh lại còn thuộc nhóm Vũ Quí Hạo Nhiên (với kết quả thống kê quái gỡ về tỷ lệ đồng hương chấp nhận cờ máu) và Ngô Nhân Dụng [với chủ trương Một ngày cho Tổ quốc Việt Nam (sic) đồng loạt tại nhiều thành phố]. Phần ông Nguyễn Hưng Quốc thì phổ biến thi ca tính dục tục tỉu của một tác giả khác trên Tiền Vệ. Quí vị tập họp thành hai ê-kíp tự phát cùng nhau làm theo cung cách ứng xử của một cá nhân, mà lại làm theo một cách vô thức. Y khoa mệnh danh tình huống này là "lây lan tâm lý", contagion mentale. (Thành ngữ gần gụi trong tiếng ta là đồng bệnh tương lân).

Bệnh án Nguyễn Hưng Quốc

Ông Nguyễn Hưng Quốc viết một loạt ba bài để bàn về "chống" và "không chống". Điểm xuất phát của Ông là kiến giải sau đây: "Thứ nhất, tôi không thích chữ "chống". "Chống", trong tiếng Việt, khác với các từ hoặc từ tố được xem là tương đương trong tiếng Anh như "fight", "against", "counter-" hay "anti-", thường gợi lên hai ấn tượng chính: một, gắn liền với tổ chức, và hai, có tính chất bạo động.". Nhận xét về tiền đề này trong lập luận theo kiểu Nguyễn Hưng Quốc, Tiến sĩ Nguyễn Văn Thái viết: "Nguyễn Hưng Quốc không "chống vì từ "chống" có hàm ý: (a) đứng vào một nhóm, một tập thể nào đó mà Nguyễn Hưng Quốc thì chỉ muốn đứng một mình, và (b) bạo động, điều mà Nguyễn Hưng Quốc không ưa chuộng. Mình không biết Nguyễn Hưng Quốc lấy những từ tố (semantic features) này từ đâu ra." Bệnh lý học cung cấp tương đối dễ dàng lời giải cho thắc mắc của Tiền sĩ Nguyễn Văn Thái.

Cung cách trình bày lý luận của ông Nguyễn Hưng Quốc có giá trị rất lớn trong chẩn đoán tâm thần học. Vừa mới bảo là không thích từ "chống" nhưng ngay trước đó - trong đầu đề bài viết - chính mình lại viết "chống" rồi sau đó, ung dung viết "không chống". Triệu chứng học tâm thần cho biết tác giả mắc bệnh loạn trí năng (dysgnosie), loạn trí nhớ(dysmnésie); nói nôm na là viết sau quên trước. Là nhà giáo giảng dạy Việt ngữ ở bậc Đại học Úc Đại Lợi nhưng ông Nguyễn Hưng Quốc sử dụng dấu phấy, dấu chấm và chữ "và" trong câu văn Việt ngữ sai văn phạm, như tác giả Vũ Trọng Khải chỉ rõ. Đây là triệu chứng dysgrammatisme (thất điều ngữ pháp). Mắc chứng thất điều ngữ pháp, bệnh nhân dùng những chữ vô nghĩa, bố trí từ hỗn loạn, không có liên quan ngữ nghĩa, bất tuân cú pháp, bất chấp ngữ pháp. Có người bênh vực ông Nguyễn Hưng Quốc và cho rằng viết theo kiểu như thế mới là thông thái, cao siêu, tài ba. Không phải vậy. Ngôn ngữ có những qui ước phải được tôn trọng, hành văn có những những luật lệ phải được tuân thủ. Viết sai văn phạm không phải là thông thái, càng không phải là trí tuệ. Cũng có khi khoa tâm thần học dùng thuật ngữ dysgraphie (loạn năng viết) để chẩn đoán bệnh ông Nguyễn Hưng Quốc. Dysgraphie hàm nghĩa khả năng diễn tả ý tưởng qua cách viết câu văn, qua cách viết ra chữ bị tổn hại.

Ông Nguyễn Hưng Quốc thuộc lòng thơ Trần Tiến Dũng. Ông rất tâm đầu ý hợp với thành quả thi ca của ông Trần Tiến Dũng. Bài thơ Ông nhẩm đọc tại phi trường Nội Bài chẳng những có nhiều chữ "đái" (hiểu là thải nước tiểu ra khỏi cơ thể) mà còn có thêm câu: "và cầm cặc nhịp nhịp từng giọt." Ngòi bút có bản lãnh không kiêng sợ từ ngữ thô tục bất nhã. Thô tục nhưng đúng chỗ có sức mạnh riêng của nó, bất nhã mà đắc địa có tính đa năng của nó. Nhưng thơ Trần Tiến Dũng không đạt được các tiêu chuẩn này; trái lại nó biểu thị tính pervers của tác giả, và cụ thể hơn nữa, nó là triệu chứng perversion sexuelle, loạn dâm; đương nhiên là trong suy tưởng, không phải là qua hành động. Bệnh nhân pervers có những thác loạn trí năng đa dạng. Họ có thể có những luận điểm phản xã hội, chống cộng đồng (luận điểm "không chống cộng"). Họ có thể hiểu sai nội dung của một vấn đề (ngày nay nhân loại "không chống cộng mà chống toàn trị"), họ có thể giảng sai ý nghĩa của một từ ngữ ("chống" là bạo lực, là tập thể). Họ có xu hướng hành động sai đường lối, họ dễ "lạc đường". (Lạc đường theo kiểu Đào Hiếu, không phải Lạc đường vào lịch sử theo kiểu Nguyễn Mạnh Côn).

Bệnh án Vũ Ánh

Trước đây ông Vũ Ánh từng nêu nghi vấn rằng nếu Miền Nam thắng cộng sản thì có thể người cộng sản sẽ bị người quốc gia đày đọa, hành hạ, ngược đãi còn hơn người cộng sản đã hành xử đối với người quốc gia sau ngày 30.04. Tôi đã có bài "chống" bài viết này.

Mới dây, Ông lại có bài viết về cuốn sách Đức, A reporter's love for a wounded people / Đức, Tình yêu của một phóng viên cho một dân tộc nhiều đau thương. Tác giả sách này làUwe Siemon-Netto,một phóng viên chiến trường gốc Đức. Sau đây là trích đoạn thứ nhất từ bài viết của ông Vũ Ánh: "Những phụ nữ và trẻ thơ chết trong Tết Mậu Thân ở khắp nơi tại miền Nam hay ở miền Bắc từ sự độc ác của bất cứ phe nào trong cuộc chiến đều đáng thương cả. Họ đều là những thường dân!".

Tác giả hành văn thiếu chính xác: dịp Tết Mậu Thân chỉ có phụ nữ và trẻ thơ ở miền Nam là nạn nhân, ở miền Bắc không có thảm cảnh đó. Ông Vũ Ánh chứng tỏ có triệu chứng dysgraphie, loạn năng viết. Trích đoạn thứ hai: "Cái ác này (cái ác trong vụ Mỹ Lai, TVT chú) cũng không thua gì cái ác khi những đạn pháo kích của Cộng quân bắn một cách bừa bãi vào trường tiểu học Cai Lậy năm 1971 hay vào bất cứ khu vực đông dân cư nào thời chiến tranh. Ấy thế mà khi sang đây, ở đất nước Mỹ, ở thời đại văn minh của các phương tiện truyền thông mà còn có một cựu ký giả như tác giả cuốn sách nói trên phân biệt cái ác có chính sách và cái ác không phải là chính sách. Phân biệt nặng nhẹ từ những hành động tàn ác thì không nói làm gì, nhưng thiên lệch và biện minh cho cái ác là điều khó chấp nhận."

Trước hết, Siemon-Netto không hề biện minh cho cái ác. Chia sẻ công luận, tác giả người Đức lên án phe quốc gia trong hai trường hợp: vụ thảm sát Mỹ Lai và hành động giết tên đặc công Việt cộng của tướng Nguyễn Ngọc Loan. Chỉ có hai tình huống đó. Tôi nghĩ giả thử ông Vũ Ánh muốn hài tội thêm phe quốc gia thì Ông sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi tìm cách đưa thêm bằng chứng liên quan đến những hành động tàn bạo của Miền Nam hay Đồng minh. Trong khi đó Việt cộng không những chỉ tàn sát đồng bào Huế vào dịp Tết Mậu Thân và giết trẻ thơ ở trường tiểu học Cai Lậy mà còn bắn giết đồng bào vô tôi vạ qua ném lựu đạn vào đêm lửa trại tại sân vận động Qui Nhơn, qua nả đại bác lên Đại lộ Kinh hoàng, qua "cường tập" vào đoàn người rút chạy khỏi Pleiku, qua đánh bom giết cả trẻ sơ sinh ở nhà hàng Mỹ Cảnh v.v.. Ngoài ra còn nhiều vụ khủng bố thanh toán "phản động" mà nạn nhân là những Lê Minh Trí, Nguyễn Văn Bông, Trần Anh v.v.. Đó là nói về con số nạn nhân.

Nhưng quan trọng hơn là cung cách ứng xử của hai phe khi phạm "cái ác". Viên trung úy người Hoa Kỳ trong vụ Mỹ Lai phải ra toà án quân sự. Tướng Nguyễn Ngọc Loan không hề nhận được một hình thức tưởng thưởng nào. Trái lại, tên đặc công ném lựu đạn khủng bố vào sân vận động Qui Nhơn hiện là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy. Những tên chỉ huy quân đội Việt cộng nả đại bác vào thường dân trên đường trốn chạy loài quỉ đỏ đều được lên cấp thăng chức. Cái ác phe quốc gia vẫn mang tính nhân bản, nó tuân phục lương tri, nó chịu phép pháp lý. Cái ác của cộng sản là thứ ác phi nhân, là loại ác thú tính, là kiểu ác được Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tố Hữu đề cao. Tôi thách ông Vũ Ánh kiếm tìm được tác giả hay tác phẩm nào thuộc thư tịch Miền Nam có những thành quả trí tuệ thuộc loại của cộng sản mà tôi vừa kể. Ở đây, ông Vũ Ánh, y như ông Nguyễn Hưng Quốc, hiểu sai nội dung cái ác. Ông là một bệnh nhân pervers, trí năng Ông bất bình thường, nói đúng ra là thác loạn. Trong chiến tranh quốc-cộng vừa qua, có ba cấp độ tàn ác. Tàn ác nhất là Việt cộng, thứ đến là đoàn quân viễn chinh Pháp (đốt nhà, hãm hiếp, chặt đầu) và thứ ba mới đến quân đội Đồng minh. Quân lực Việt Nam Cộng Hoà không hề ác. Từng là phóng viên chiến trường, ông Vũ Ánh biết rõ hơn ai hết điều này.

Chế độ Việt Nam Cộng Hoà đã cưu mang, đào tạo, ưu đãi ông Vũ Ánh. Từ tận cùng vô thức, từ vực sâu tàng thức, Ông dành cho chế độ Miền Nam nhiều cảm tình. Ông biết ơn chế độ quốc gia. Nhưng nay Ông bỗng dưng quay lại chống báng tập thể tỵ nạn, đả kích cộng đồng lưu vong, phê phán Vietnamese diaspora. Hiện giờ nơi bệnh nhân Vũ Ánh tồn tại cùng một lúc hai tình cảm, hai thái độ trái ngược nhau đối với đồng hương quốc ngoại. Ông vừa yêu vừa ghét cùng một đối tượng tâm lý. Chung qui cũng vẫn lại là ambivalence. Thực ra tính hai chiều của tình cảm vốn là bình thường nhưng nếu không vượt qua được mâu thuẫn tâm thần thì nó trở thành bệnh lý. Trong các tâm bệnh thường có những trường hợp như vậy, yêu và ghét, khẳng định và phủ định; khiến bệnh nhân không thể lựa chọn một thái độ dứt khoát mà trở thành lưỡng lự, nửa nọ nửa kia.

Post-traumatic Syndrome

Khoa tâm bệnh lý (psychopathologie) cố gắng mô tả một cách có hệ thống và phân loại các bệnh chứng tâm lý. Mức độ rối loạn tâm thần có thể đạt cường độ gây nên một hội chứng rõ nét, kéo dài, gây rối trong cuộc sống nhưng chưa làm tan rã nhân cách. Thuật ngữ chuyên môn gọi là "nhiễu tâm" (névrose). Phân tích những căn nguyên gây rối loạn tâm lý còn phải tìm cách xác định cơ chế bệnh sinh, tức quá trình hình thành các triệu chứng. Thông thường có thể phân biệt những cơ chế thần kinh bên cạnh những cơ chế tâm lý. Cơ chế thứ nhất do những tổn thương hệ thần kinh gây ra (ví dụ sau tai biến mạch máu não), triệu chứng học tương đối rõ ràng, đơn giản.

Cơ chế thứ hai thuộc lĩnh vực tỳ vết tâm linh, thường đa dạng, phức tạp. Phản ứng của người bệnh có thể mang dạng thức bù trừ, thoái lùi, thu mình, tự ti, tự vệ; hay ngược lại, người bệnh có thể phản ứng hung hăng, thách đố, tấn công, khiêu khích, gây hấn. Có trường hợp nạn nhân chuyển sang chí hướng tìm về với tôn giáo. Lập luận của ông Vũ Ánh và/hoặc chủ trương của ông Nguyễn Hưng Quốc tựa hồ muốn khích bác công luận, quấy nhiễu số đông thuộc tình huống thứ hai (tấn công, gây hấn). Phân tâm học chủ xướng đây đều là những hình thái của vô thức bị dồn nén nên tìm cách biểu lộ bằng những hành vi bất thường nhằm giải toả các xung đột thầm kín bên trong. Nhật Tiến, Nguyễn Ngọc Ngạn giống Vũ Ánh, Nguyễn Hưng Quốc.

Lưu vong là một hoàn cảnh bất thường. Tỵ nạn là một thách đố số mệnh. Hầu hết những người tỵ nạn lưu vong đều mang những chấn thương tâm thần. Thư tịch y khoa nghiên cứu vấn đề này rất đầy đủ và gọi chung các rối loạn tâm lý do ly hương, tù đày, gia cảnh tan nát, thất thoát tài sản, hội nhập khó khăn v.v..là hội chứng hậu chấn thương, post traumatic syndrome (PTS), còn gọi là post traumatic stress disorder (PTSD). Nói chung, tác động mạnh mẽ của những hoàn cảnh sống bất lợi đối với bản thân trên những vùng đất lạ không hay ít hiếu khách thường gây nên tình trạng tinh thần suy sụp, có khi đột ngột, lắm khi tiệm tiến.

Gia đình tôi đến Đức tháng hai năm 1984. Cơ quan Hồng Thập Tự và Trung tâm Độc Lập thấy ngay nhu cầu phải tìm hiểu về những rối loạn tâm thần ở người tỵ nạn Việt Nam trên đất Tây Đức (độ đó nước Đức chưa thống nhất) và cá nhân tôi được lựa chọn để làm công việc này. Công trình nghiên cứu hoàn tất được công bố trên tạp chí Độc Lập số tháng ba năm 1988, được đài phát thanh BBC truyền bá về Việt Nam và được chuyển sang Đức ngữ để in vào một chuyên san nhân dịp kỷ niệm thập niên thành lập Trung tâm Độc Lập năm 1990. Đồng thời bệnh viện tôi làm việc là một bệnh viện chuyên về y khoa tâm-thể, nhận điều trị những ca bệnh lý với biểu hiện là thực thể nhưng về căn nguyên thì các yếu tố tâm lý đóng vai trò quan trọng.

Cho nên chắc thế nào cũng có khía cạnh méo mó nghề nghiệp ở đây. Tuy nhiên tôi nghĩ rằng nhị vị Vũ Ánh và Nguyễn Hưng Quốc vẫn đang cùng đứng chung hàng ngũ chống cộng với tôi. Tôi không tin rằng cái gọi là Nghị quyết 36 chi phối được nhị vị. Riêng đối với ông Nguyễn Hưng Quốc, tôi không tán thành quan điểm cho rằng ông Quốc viết ba bài "chống và không chống" là nhằm mong có ngày Việt cộng cho phép ông về Việt Nam. Đối với tôi, nếu ông Quốc cần về Việt Nam thì chính Việt cộng cũng cần Ông về vì như thế, cả hai bên đều có lợi. Huống chi ông Nguyễn Hưng Quốc và ông Vũ Ánh đều có những đóng góp hữu giá cho thư tịch và báo chí trong tinh thần thượng tôn tự do dân chủ. Tác phẩm Văn học Việt Nam dưới Chế độ Cộng sản, Nhà Xuất bản Văn Nghệ, 1991, là một công trình biên khảo khá công phu của ông Nguyễn Hưng Quốc, dẫu được viết vào thời điểm Ông còn "chống cộng". Phần ông Vũ Ánh thì chắc cũng từng có bài viết bình tâm, bình thường, công minh, chính trực.

Nói tóm và nói gọn, tôi không mặn mà với cách nhìn theo đó hai ông Vũ Ánh và Nguyễn Hưng Quốc đã rời bỏ thế đứng của người quốc gia vì những lý do chính trị. Với tôi, lý do quan trọng nhất là lý do bệnh lý. Hai ông cần sự thông cảm. Hai ông cần được chia sẻ tâm tư.

Công luận hải ngoại nên là môi trường dưỡng trí cho hai ông Vũ Ánh và Nguyễn Hưng Quốc.

BS Trần Văn Tích, QYHD/9
[ Đọc Tiếp ]

28 tháng 6, 2013

Mạng Internet Của Chú Chệt: Một Cái Chuồng Khổng Lồ



Mạng Internet Của Chú Chệt:
Một Cái Chuồng Khổng Lồ

Cách đây 13 năm, khi còn làm tổng thống Mỹ, Bill Clinton đã từng nói rằng nỗ lực kiểm soát mạng Internet tại Trung Quốc cũng chẳng khác chi chuyện "dùng đinh đóng thạch Jell-O vào tường." Vào lúc đó dường như ông ta chỉ phát biểu một điều rất hiển nhiên. Bằng chính bản chất cố hữu của nó, Internet là một mạng lưới được phát tán rộng rãi và dùng quá nhiều kênh kết nối nên không thể nào bị ngăn chặn. Nói đúng hơn, nó tựa hồ đã có khả năng mở rộng thế giới ra cho người sử dụng, ngay cả ở những nơi bị bưng bít. Cũng giống như kỹ thuật thông tin trước đó đã từng góp phần lật đổ nhiều chế độ độc tài của quá khứ (ví dụ như vai trò của điện tín trong cuộc cách mạng Bôn-sê-vít tại Nga vào năm 1917 và hệ thống đài phát thanh sóng ngắn trong quá trình phá vỡ Liên Xô vào năm 1991), mạng Internet chắc rồi cũng sẽ xói mòn nhà nước độc tài của Trung Quốc. Quyền tiếp cận thông tin được tăng cường trong một phạm vi rộng lớn và khả năng trao đổi dễ dàng với những kẻ có cùng chí hướng khắp hoàn cầu được xem là sẽ mang lại cho người sử dụng Internet một nguồn quyền lực phi đối xứng có thể làm suy nhược sức mạnh của nhà nước Trung Quốc và trở thành một lực lượng đấu tranh vì dân chủ.

Nhưng những kỳ vọng đó đã tan thành mây khói. Nền thống trị độc tài của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) không chỉ vẫn cứ ngang nhiên tồn tại trước sự lan tràn của mạng Internet, nhà nước do họ kiểm soát còn triển hiện tài năng tuyệt vời trong việc uốn nắn kỹ thuật để phục vụ cho mục đích của riêng họ. Nó đã tạo điều kiện để họ có thể kiểm soát xã hội Trung Quốc gắt gao hơn và làm gương cho các chế độ áp bức khác noi theo. Đảng và nhà nước Trung Quốc đã bố trí thành công một đoàn quân đáng gờm—bao gồm công an mạng, kỹ sư cương kiện, thiết kế viên nhuyễn kiện, lực lượng giám sát mạng, và nhiều đội tuyên truyền trực tuyến được trả lương—để theo dõi, thanh lọc, kiểm duyệt, và hướng dẫn người sử dụng mạng tại Trung Quốc. Các công ty cung ứng dịch vụ Internet do tư nhân làm chủ được phép phát triển mạnh với điều kiện là họ không đi trệch đường lối của đảng.

Nếu đây là một bản báo cáo đặc biệt về tình hình Internet tại bất cứ một quốc gia phương Tây nào, thì chắc chắn sẽ không có gì nhiều để nói về vai trò của chính phủ; thay vào đó, nó sẽ tập trung vào những công ty phát triển mạnh trên mạng, suy đoán về những ngành công nghiệp sẽ bị đổ vỡ trong thời gian sắp đến, và tìm hiểu về vấn đề mạng Internet đang biến đổi cuộc sống cá nhân như thế nào. Những điều đó cũng được quan tâm tại Trung Quốc, nhưng bản báo cáo này sẽ tập trung vào vai trò của chính phủ vì đó là yếu tố kỳ lạ nhất về mạng Internet của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc đã bỏ ra một nỗ lực lớn lao để đảm bảo tính đặc thù của mạng Internet trên đất nước họ, không phải chỉ riêng quyền tự do biểu đạt bị hạn chế mà ngay cả những ngành công nghiệp được xây dựng chung quanh mạng Internet cũng phải tập trung vào việc phục vụ cho các mục tiêu quốc gia cũng như các mục tiêu thương mãi.

Những Bức Tường Có . . . Lỗ Tai

Trớ trêu thay, lá thư e-mail đầu tiên của Trung Quốc—được viết để gởi đến một mạng lưới học thuật quốc tế vào ngày 14 tháng 9, 1987—đã hãnh diện tuyên bố rằng: "Qua Vạn Lý Trường Thành, chúng ta có thể với đến mọi ngóc ngách trên thế giới." Tuy nhiên, bên trong biên giới quốc gia, ĐCSTQ đã thiết lập một cách có hệ thống nhiều kế hoạch như Trường Thành Chống Lửa (để ngăn chặn những trang mạng ngoại quốc "không ai ưa" như Facebook, Twitter, và YouTube) và khiên Kim Thuẫn (để theo dõi các hoạt động trong nước). Họ còn hợp tác chặt chẽ với các công ty mạng nội địa đáng tin cậy như Baidu (một đầu máy truy cập), Tencent (một cổng dịch vụ Internet), Renren (một phiên bản mô phỏng Facebook xếp hàng đầu của Trung Quốc), và Sina (một công ty truyền thông trực tuyến bao gồm Weibo, một dịch vụ micro-blog tương tự Twitter).

Trong số những dịch vụ mới xuất hiện này, micro-blog là dịch vụ có tầm ảnh hưởng lớn nhất đối với đời sống hàng ngày của người Trung Quốc. Nó tạo điều kiện để tin tức và quan điểm được lan tỏa bằng những phương thức mà trước kia không thể nào thực hiện được, thâm nhập vào mọi gia đình có gắn mạng Internet tại Trung Quốc. Sau khi ngăn chặn Twitter và Facebook, chính quyền đã cho phép các mạng micro-blog và dịch vụ truyền thông xã hội trong nước phát triển để trở thành những công ty thay thế đáng tin cậy, nằm trong vòng kiểm soát của họ. Nhờ vậy những công ty này đã tăng trưởng theo hàm số mũ, vượt quá mức độ thành tựu trước kia của Twitter trên thị trường Trung Quốc rất xa.

Google, công ty truy cập hàng đầu của phương Tây, đã miễn cưỡng tuân thủ luật chơi của Trung Quốc trong một thời gian ngắn, bằng cách đưa vào sử dụng một đầu máy truy cập có công năng tự kiểm duyệt, nhưng cuối cùng đã rút bỏ dịch vụ đó trong năm 2010, không phải vì những hạn chế áp đặt mà vì bị người Trung Quốc xâm nhập quấy phá. Các đội quân phá hoại mạng của Trung Quốc thường xuyên xâm nhập vào trương mục e-mail của giới bất đồng chính kiến cũng như những hệ thống máy tính của giới truyền thông ngoại quốc dám đăng tải những nguồn tin nhạy cảm về các lãnh tụ Trung Quốc. Gần đây họ lại tạo ra tin tức hàng đầu với những vụ đánh cắp kỹ thuật của các công ty công nghệ quốc phòng Hoa Kỳ và dò thám cơ sở hạ tầng chủ chốt của nước này để tìm tòi những yếu điểm dễ bị tổn thương của họ. Những đợt xâm nhập tấn công tại hải ngoại được xem là đã mang lại cho các công ty Trung Quốc không ít bí mật thương nghiệp và cung cấp cho Giải Phóng Quân nhiều tri thức có giá trị về guồng máy quốc phòng của các quốc gia khác.

ĐCSTQ đã đạt được một thành tựu mà trước đây chẳng mấy ai nghĩ là có thể thực hiện được: xây dựng một hệ thống mạng mang tính đặc thù trên toàn lãnh thổ quốc gia. Mạng Internet của Trung Quốc có thể ví như một sân chơi được rào kín và do phụ huynh đóng vai trò canh gác. Giống y như mạng Internet mà phần lớn mọi người ở thế giới bên ngoài được hưởng thụ, nó cũng lộn xộn và bướng bỉnh, nhưng cũng có thể cung cấp lắm loại tiêu khiển như trò chơi, phương tiện mua sắm, và nhiều thứ khác nữa. Tạo điều kiện để mạng Internet với bản sắc Trung Quốc này có thể phát triển mạnh là một bộ phận quan trọng trong việc xây dựng một cái chuồng tốt đẹp hơn. Nhưng có điều lúc nào nó cũng bị giám sát và thao túng.

Nỗ lực kiểm soát của chính quyền lắm lúc tỏ vẻ phi lý, thậm chí lố bịch, nhưng người sử dụng lại là kẻ trở thành mục tiêu của sự nhạo báng. Nhiều cơ quan của chính phủ đã đầu tư mạnh vào đủ loại nhuyễn kiện nhằm theo dõi và phân tích hành vi của người sử dụng mạng vừa để đo lường dư luận của quần chúng vừa để kiềm chế những mối đe dọa trước khi chúng lan truyền, và chính quyền trừng trị tàn nhẫn những kẻ vi phạm luật lệ. Vào năm 2009, Lưu Hiểu Ba, một nhà văn Trung Quốc, bị kết án 11 năm tù vì tội tham gia soạn thảo một bản hiến chương đòi hỏi chấm dứt chế độ độc tài và kêu gọi công dân mạng ký tên ủng hộ. Vào thời điểm đó, ở Trung Quốc rất ít người biết đến Lưu Hiểu Ba, một nhà vận động dân chủ đã nhiều lần bị tống tù, và chẳng mấy ai xem được bản tuyên ngôn này. Ông ta trở thành một nhân vật nổi tiếng ở bên ngoài Trung Quốc sau khi được trao giải Nobel Hòa Bình vào năm 2010, nhưng vì chế độ kiểm duyệt khắt khe nên đại bộ phận dân chúng ở trong nước vẫn không biết ông là ai (danh tính của ông được liệt vào bản danh sách đồ sộ và ngày càng gia tăng về những "từ khóa nhạy cảm" bị cấm lưu hành trên mạng).

Cũng vào năm 2009, sau những trận bạo động tại Tân Cương, một khu vực tự trị ở trên miền tây bắc hẻo lánh, chính quyền cắt đứt khâu kết nối giữa hệ thống mạng của khu vực này với phần lãnh thổ còn lại của Trung Quốc cũng như với toàn thể thế giới bên ngoài. Bằng cách nhấn một cái nút "ngừng khẩn cấp" trên mạng, họ đã cô lập khu vực này gần cả một năm trời. Và vào tháng 3 năm 2012, khi các mạng xã hội tung ra tin đồn về một toan tính đảo chính tại Bắc Kinh, chính phủ tạm thời phong tỏa một số dịch vụ micro-blog và bắt giam 6 người.

Cục Jell-O Lắc Lư

Liệu nhà nước Trung Quốc có thể tiếp tục kiểm soát, thao túng, và phá hoại mạng Internet một cách vô hạn định chăng? Có nhiều lý do để khẳng định điều đó sẽ không xảy ra. Khi ông Clinton đưa ra lời phát biểu nổi tiếng về ẩn dụ đóng thạch Jell-O vào tường bằng đinh, chỉ có 20 triệu người Trung Quốc sử dụng mạng Internet. Bây giờ cái chuồng đã căng phồng ra để chứa đựng hơn 560 triệu người, hầu như gần bằng tổng số công dân mạng của Bắc Mỹ và châu Âu gộp chung. Các tỉnh nông nghiệp và nghèo khó hơn là nơi có tỉ lệ tăng trưởng nhanh nhất về mức sử dụng mạng Internet, một phần là vì số lượng người kết nối bằng thiết bị di động tăng vọt và vượt quá số lượng người kết nối bằng máy tính. Mạng Internet không còn là giới hạn riêng của dân thành phố, có học thức, và tương đối khá giả. Đại bộ phận nông dân bây giờ lên mạng để nghe nhạc, tiêu khiển với nhiều trò chơi bằng điện thoại di động, và xem thời tiết, chứ không phải để làm blog phát biểu bất đồng chính kiến. Nhưng ngay đến cả những người sử dụng thờ ơ nhất cũng có thể bị lôi cuốn vào các cuộc tranh luận chính trị trực tuyến, và mạng Internet là nơi mà người dân có thể bày tỏ ý kiến cũng như phê phán chính phủ một cách tương đối tự do.

Trong cuộc sống riêng tư, người dân lúc nào cũng cằn nhằn, và trước bàn ăn trong bữa cơm tối nhiều gia đình thường xuyên chế giễu các tiết mục tuyên truyền được dọn ra trên đài truyền hình của nhà nước. Nhưng năng lực biểu đạt quan điểm bất đồng trên mạng dưới dạng tập thể là một điều mới mẻ. Hàng triệu người dùng Internet được xem là thuộc lọai phản động cấp thấp, đục đẽo dần dần lâu đài bệ vệ của đảng và nhà nước bằng ngôn từ hài hước, phẫn nộ, và thái độ yếm thế bi thương. Nhưng chỉ có những kẻ bị liệt vào loại đe dọa nhà nước—dựa trên một định nghĩa lỏng lẻo và có thể bao gồm việc phê phán lãnh tụ hoặc công khai bộc lộ bất bình—mới bị lựa ra để trừng phạt.

Có nhiều khi, những lời phàn nàn trực tuyến cũng có thể mang lại kết quả và nhanh chóng đưa kẻ phạm tội đến trước mặt công lý. Khi bị một chính ủy quân đội sỉ nhục, một cô chiêu đãi viên hàng không đã tung lên mạng những hình ảnh liên quan đến vụ việc. Chẳng bao lâu sau đó công dân mạng đã khám phá ra tên tuổi, chức vụ cũng như đơn vị công tác của y và cuối cùng y đã bị cho thôi việc. Khi một cán bộ bị chụp ảnh thản nhiên vui cười tại hiện trường của một tai nạn khủng khiếp, quần chúng mạng phát hiện y đeo một chiếc đồng hồ xa xỉ và họ đã nhanh chóng tìm ra thêm nhiều bức ảnh khác xác nhận y đeo trên tay đủ thứ đồng hồ xa xỉ. "Đại gia đồng hồ" (biệt hiệu mà sau đó họ đã đặt cho y) vì thế cũng bị sa thải.

Những thắng lợi nhỏ nhoi như thế này càng ngày càng phổ biến, khiến hàng triệu cán bộ của ĐCSTQ choáng váng. Nhiều công dân mạng tin rằng cán cân quyền lực đã chuyển hướng: trong một cuộc thăm dò dư luận do một tạp chí của Nhân Dân Nhật Báo, cơ quan ngôn luận của đảng, thực hiện vào năm 2010, hơn 70% người được phỏng vấn đồng ý rằng giới cán bộ địa phương bị "khủng bố mạng" uy hiếp.

Tuy nhiên, ảnh hưởng của loại khủng bố mạng này đối với đảng, nhìn tổng thể, không nghiêm trọng như đối với giới cán bộ địa phương. Quần chúng mạng có thể xơi tái đám cán bộ tham nhũng cấp thấp ở địa phương vì đó là điều mà giới lãnh đạo đảng cho phép. Họ có thể chế giễu kiểm duyệt, trêu cợt bộ máy tuyên truyền của đảng, và nhạo báng người sáng tạo ra Trường Thành Chống Lửa. Họ có thể đả kích cả cái hệ thống nắm quyền xóa bỏ trương mục của họ để rồi cho phép họ xuất hiện dưới một tên mới, và tiếp theo là đến lượt những trương mục mới này lại bị xóa bỏ. Nếu những kẻ bất đồng chính kiến chỉ hoạt động trên mạng và không có tổ chức, thì giới cai quản chẳng màng quan tâm.

Nhưng, đồng thời, những đoạn tíu tuýt và các bài blog nhạy cảm hơn, nêu đích danh các nhà lãnh đạo cao cấp để đả kích hay, nghiêm trọng hơn, kêu gọi xuống đường biểu tình, đều cấp tốc bị xóa bỏ, lắm lúc ngay cả trước khi chúng được đưa lên mạng. Các nhà hoạt động trực tiếp thách thức các tổ chức của trung ương đảng hay toan tính quy tụ số đông (như trường hợp của ông Lưu Hiểu Ba) đều sớm bị đập tan trước khi họ có thể cấu thành một mối đe dọa. (Sản phẩm khiêu dâm cũng chính thức bị kiểm duyệt, nhưng vẫn cứ lan tràn vô tội vạ.) Phần còn lại của cái mạng hỗn loạn này chiếm hết thời gian, năng lực, và tiền bạc của người dân vẫn cứ tiếp tục vận hành, hầu như hoàn toàn chẳng bị sách nhiễu. Hoạt động của giới bất đồng chính kiến chỉ là một bộ phận nhỏ nhưng có uy lực lớn trong tổng thể của hỗn hợp này.

Chủ Nghĩa Độc Tài Thích Ứng

Đối với giới lãnh đạo đảng, mạng Internet đã tạo nên nhiều thử thách tế nhị. Phương thức biểu đạt ý kiến tập thể trên mạng, do giới sử dụng micro-blog có nhiệt tâm công ích dẫn đầu (với hàng triệu người theo dõi), hiện đang tập trung sự chú ý của quần chúng vào những vấn đề tái diễn thường xuyên như an toàn thực phẩm và ô nhiễm, thêm vào đó nó còn bộc lộ hố ngăn cách giữa kỳ vọng và thành tích thực tế. Điều này có nghĩa là chính quyền phải đề xuất nhiều biện pháp đáng tin cậy hơn để đối phó với các cuộc khủng hoảng, chẳng hạn như tình trạng ô nhiễm không khí đột ngột gia tăng ở một mức độ lớn lao trong tháng giêng và tháng hai vừa qua. Nói tóm lại, mạng Internet đòi hỏi trung ương đảng phải quản trị có hiệu quả hơn trong quá trình duy trì chế độ độc tài.

Đây là bản thiết kế mạng của cái mà các học giả gọi là "chủ nghĩa độc tài thích ứng" và nó lại có cả một thị trường quốc tế. Trung Quốc bán ra nước ngoài nhiều bí quyết kỹ thuật, bao gồm thiết bị giám sát và thanh lọc mạng Internet. Huawei và ZTE, hai công ty hàng đầu của Trung Quốc, cung cấp cương kiện cho một số nước tại Trung và Đông Nam Á, Đông Âu, và châu Phi, bao gồm Kazakhstan, Việt Nam, Belarus, Ethiopia, và Zambia. Trong số này, nhiều nước muốn nới rộng mức sử dụng mạng Internet nhưng cương quyết duy trì quyền kiểm soát chặt chẽ về mặt chính trị cũng như kỹ thuật. Trung Quốc đã liên kết với những quốc gia này và hàng tá quốc gia khác, bao gồm Nga, trong cuộc tranh chấp mang tính toàn cầu với các nước dân chủ phương Tây về vấn đề mạng Internet cần phải được quản trị như thế nào.

Các nhà bất đồng chính kiến của Trung Quốc cho rằng tự do là việc xác định cái chuồng của mình lớn cỡ nào. Có người lý giải rằng, qua mạng Internet của mình, Trung Quốc đã xây dựng thành công một cái chuồng lớn nhất và được xếp đặt tốt nhất thế giới. Không kém sức thuyết phục, có người lại cho rằng Trung Quốc đã tạo nên một kết cấu quái đản, cồng kềnh, và đắt tiền—một thủ đoạn cướp giật quyền kiểm soát một cách liều lĩnh để mua thêm thời gian cho đảng. Nhìn từ quan điểm này hay quan điểm kia, xem xét kỹ lưỡng tòa kiến trúc đồ sộ này sẽ làm sáng tỏ vấn đề đã được đặt ra từ lâu là liệu năng lực dân chủ hóa có phải là một bản chất cố hữu của mạng Internet hay không.

Tác giả: Gady Epstein
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: The Economist

[ Đọc Tiếp ]

18 tháng 6, 2013

Wake Up and Dream



Wake Up and Dream

By
Nam Hải Trường Sơn

In contemporary Vietnamese political discourse, when an article begins patronizingly with an imperative like "don't hold on to a dead dream, focus on the present" atop an epigraphical photograph proudly depicting the "red flag with a yellow star" unfurling beneath a beautiful bright sky, the reader has ample reasons to believe it belongs to the communist regime's propaganda machine. The fact that it is written in the native language further bolsters the belief.

But it is not the case, apparently at least, with a recent blog post bearing the same characteristics originally published on Xin lỗi Ông (meaning "Excuse me, Sir" in English) and subsequently re-posted by several popular Vietnamese-language websites, most notably by BBC-Vietnamese under the shortened title of "Đừng giữ một giấc mơ đã chết" (which is, of course, the Vietnamese equivalent of "Don't hold on to a dead dream"). Its author, Jonathan London, is a foreigner, presumably an American, who teaches political sociology at the City University of Hong Kong.

Surprisingly (or perhaps not, if one ascertains his motives from a different perspective), London praised the current regime's flag as "already beautiful and simple" and took issue with those who continue to embrace the old one with unabated passion: "I find it hard to understand when a number of people who support political reforms in Vietnam still want to wave the flag of the Republic of Vietnam." But instead of trying to find out the root causes of the conundrum, as any earnest undergraduate student of sociology would do, the professor chose an easy but unbecomingly pretentious route—to launch a broad-stroked campaign of character assassination.

The Fallacy of Freeloading Labels

The pejorative salvos were aimed not only at millions of Vietnamese (and their friends) abroad who have the freedom to wave the "yellow flag with three red stripes" in the open, but also at millions upon millions more at home who can only do so in the confines of their hearts—for fear of having to follow in the footsteps of Nguyễn Phương Uyên and Đinh Nguyên Kha. It is ironic indeed that, on the very day London published his controversial blog post, these two university students were summarily sentenced to unconscionably long prison terms, to be followed by equally unjustifiable house arrests—as usual, by a party-controlled court. Their "crimes" were nothing more than a peaceful display of different political views and, yes, the "ugly and not so simple" flag.

London's piece is rather short, yet it is rich in freeloading language and sensationalism. To start off, metaphorically or otherwise, how on earth is a "dead dream" possible? But, more importantly, even if this oxymoronic term is capable of making any sense above the derogatory level, does it accurately reflect the true aspirations of the flag-wavers? There is also a gaping hole between waving the old flag and being so backward as to warrant a necessary development of "a brain independent of the past." The gap ought to be filled for the two to connect, otherwise the characterization risks becoming a name-calling insult of the worst kind. In this instance, London failed to provide even a paltry justification for the linkage.

Moreover, this flag-waving activity was then discounted as a form of "regurgitation of the past . . . which is certainly not a road promising a bright future." The disparaging nature of regurgitation, as a metaphor, is less obvious in English as one needs to etymologically deconstruct the word to get to its retch-and-champ image. However, the Vietnamese equivalent used by London—nhai đi nhai lại—literally means chewing the cud, and as such directly conjures up vivid visions of ruminant quadrupeds and glaringly divulges its attendant derogation.

In a follow-up piece titled "A Dark Day, Paths Forward?" (first written in English and later translated into Vietnamese), London tried to soften his stance and convey remorse. Yet, instead of retracting the gist of the argument which induced the onslaught of predominantly negative reactions (and hence his "dark day") in the first place, London doubled down on it with this concluding reiteration: "My post advises Vietnamese to move on from waving opposing flags, to not remain prisoners of history, and get on with the business of pushing forward with real reforms. . ." Here the picture was painted with such broad strokes as to cover an even greater portion of the Vietnamese populace, regardless of their flag affiliations. As if "dead dream holders," "historical cud chewers," and "past-dependent brain-possessors" were not enough to do the trick, London reinforced it with the all-encompassing "prisoners of history" label, again without any evidential persuasion. One cannot help but wonder if his contrition was genuine.

Labels are convenient tools because they do a lot of work for us. But problems will inevitably arise when we let them do too much work for us. To be logically sound, words and terms loaded with evaluative and pejorative freight must be supported by sufficient evidence and justification. London used many highly charged freeloading labels to advance his conclusion but the fact is he never earned the right to rely on them by fulfilling the requisite burden of proof. In logic, as in life, freeloaders rarely get their creators anywhere.

It should also be noted that, in an obvious attempt at damage control, London hastily revised the original post when faced with the fast and furious reactions which had occurred virtually overnight. But what is more troubling is that he then took this post down—together with all of its comments. The quick and complete removal of the post was a clever stroke of gamesmanship indeed, but f
or those who took the time to engage in the discussion (and no doubt for most other readers as well), it was hardly one of sportsmanship. 

The Flags in Contrast

It does not take a vexillologist to figure out that national flags are symbolic of nationhood and identity and that they represent not only the history but also the future of one's nation. The "yellow flag with three red stripes" has a long history, dating back to the first successful resistance movement against Chinese invasion almost 2,000 years ago, under the leadership of the Two Ladies Trưng (Hai Bà Trưng). Riding on the backs of two giant war elephants, the two sisters waved what has since then become known as the Yellow Flag to lead a formidable army of freedom fighters, including a significant number of women, to drive out the Han-dynasty brutish occupiers, and briefly re-established the autonomous state of Vietnam in A.D. 40. Regarded as the most revered heroines in Vietnam's history, the Trưng sisters are powerful symbols of independence, liberty, and egalitarianism.

Moreover, their embodiment in the Yellow Flag reflects a broader worldview that has also stood the test of time. According to the doctrine of the Five Elements, the yellow color corresponds with earth—the fifth element. In Vietnamese culture, the significance of this correspondence can be interpreted in two fundamental ways. The yellow earth not only represents ancestral land—đất tổ or tổ quốc—and its concomitant inviolability of sacred territorial rights. It also symbolizes a universal and all-powerful force that creates, nourishes, sustains, invigorates, ripens, and then re-creates all life forms in cyclic perpetuity. In this latter sense, the Vietnamese notion of motherland—đất mẹ—is virtually synonymous with the terra mater concept in the Western world and that of the divine mother earth or earth mother in other cultures. The yellow color also represents freedom in two different but not unrelated senses. From an earthly or humanistic perspective, it means freedom from domestic oppression or foreign domination; and, in a spiritual or soterial context, it means freedom from worldly worries—a view influenced in part by Buddhism.

In essence, the Yellow Flag thus emblematizes the human ideal of living in harmony not only with one another but also with nature to achieve happiness on earth and beyond. It is no coincidence that a common thread running through the metamorphosis of the final 8 successors of the Yellow Flag in the last 150 years has been the retention of its foundation—the yellow background—both literally and substantively.

It is noteworthy that the flag of the Nguyễn Dynasty from 1890 to 1920 (also known as the flag of Emperor Thành Thái) and the one used by the Republic of Vietnam from 1955 to 1975 are entirely identical. This flag was created by superimposing three horizontal red stripes of equal size on the center of a yellow background (and hence the name "yellow flag with three red stripes"). While the red color signifies beauty, success, and good fortune, the three stripes, as a unit, represent Quẻ Càn, or Qian-gua in Chinese pinyin, the first trigram used in the Book of Changes (one of China's oldest and most influential classic scriptures that contributed in part to the Vietnamese cosmic and earthly outlook). Quẻ Càn is the divination sign representing heaven, strength, expansive energy, fatherhood, and the South. The three red stripes therefore also indicate the vitality of all people living in the three corresponding northern, central, and southern regions of Vietnam. Essentially, taken as a whole, the "yellow flag with three red stripes" stands for the ultimate unity and harmony among the trinity of heaven, earth, and humanity. At least, that is a dream the Vietnamese people (including the so-called flag-wavers, of course) have been trying to realize.

By contrast, what makes the "red flag with a yellow star" loathsome to many Vietnamese is the unpalatable combination of its xenogeny and sanguinary symbolism. Unlike the home-grown Yellow Flag and its offspring, the red flag bears conspicuous marks of foreign origin and influence. It was modeled faithfully on the common format that had created the flags of the "big brothers" heading the international socialist camp, namely the Comintern, the Soviet Union, and the Chinese Communist Party. The red color forming its background has departed from its traditional roots to take on the new meanings of revolution and blood. The yellow pentagram in the middle represents workers, peasants, intellectuals, traders, and soldiers—the five major forces mobilized by the party to fight for socialism (which of course amounts to nothing more than a euphemism for authoritarianism and its own self-interests). For all intents and purposes, this too is another bloody flag of communism and proletarian revolution. It has been built not only with the blood of well-meaning members of those five social groups who were duped by the party into mistaking barbarianism for noble idealism, but also with the blood of millions of innocent people who were—and continue to be—victimized by its totalitarian brutality.

The True "Prisoners of History"

Queerly, in more ways than one, London contended that the era of revolutionary violence has long ended and Vietnamese should find a new road. The implicit suggestion that the flag-wavers are somehow advocating violence is patently false. Flag-waving is, well, just that—flag-waving. In the case of overseas Vietnamese, true, it constitutes an ostentatiously emotional display of patriotism and protest, but it is a far cry from violence-mongering. London did not provide any evidence with regard to their intentions to call for, much less engage in, armed struggle or any other conceivable form of violence. On the contrary, there has been much discussion among Vietnamese political activists, both at home and abroad, about the applicability of the so-called "people power" model—whereby millions of citizens staged non-violent protests nationwide to topple one totalitarian regime after another in eastern Europe during the last twenty years of the previous century. They have also explored the adaptability of certain aspects of Gandhism and shown particular interest in the Orange Revolution in which Ukraine's corrupt and oppressive rulers were overthrown in 2005 by widespread civil disobedience, sit-ins, and general strikes.

On the flip side, has the era of revolutionary violence really ended? The Arab Spring and recent events in the Middle East suggest otherwise. In the case of Vietnam, the savagery has not even subsided. From the bloody land reform campaign in the 1950s to the barbaric Huế Massacre in 1968 to the inhumane re-education camps lasting for 17 years after the capture of South Vietnam in 1975 to the ever-intensified brutality of religious and dissident persecutions of the current two decades (and the recent wrongful convictions of the 14 young Catholic activists in Vinh as well as Nguyễn Phương Uyên and Đinh Nguyên Kha in Saigon are just the tip of the iceberg), the history of the Vietnamese Communist Party (VCP), at least for the last 68 years, is littered with evidence of non-stop revolutionary violence. Indeed, the Vietnamese communists have even cultivated the romanticization of mass murders for political purposes, as illustrated by the following stanza, penned by the late politburo member and deputy prime minister Tố Hữu, one of the regime's most decorated poets:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt!
My translation:
Kill, kill more, allow our hands not a moment of rest
For the rice fields to flourish, the taxes quickly done
For the party to persist, march in unison, hearts as one
Worshipping Chairman Mao, worshipping Stalin... forever ceaseless!
In 2006, the Parliamentary Assembly of the Council of Europe (representing 47 member states with over 800 million citizens) passed the historic Resolution 1481 to condemn, in the strongest possible terms, the crimes committed by communists worldwide which it encapsulated as follows:
The totalitarian communist regimes which ruled in central and eastern Europe in the last century, and which are still in power in several countries in the world, have been, without exception, characterised by massive violations of human rights. The violations have differed depending on the culture, country and the historical period and have included individual and collective assassinations and executions, death in concentration camps, starvation, deportations, torture, slave labour and other forms of mass physical terror, persecution on ethnic or religious grounds, violation of freedom of conscience, thought and expression, of freedom of the press, and also lack of political pluralism.
Furthermore, the Council called on all communist or post-communist parties in its member states and in effect around the world "to reassess the history of communism and their own past, clearly distance themselves from the crimes committed by totalitarian communist regimes and condemn them without any ambiguity." Yet, instead of taking heed, Vietnam's communist rulers have shown determination to continue to travel in the opposite direction by clinging to their own sanguinary history and regurgitating the perennially justificative victories—first against French colonialism (the credit for which should also belong to the nationalists) and then against American "neocolonialism" (the significance of which is at best debatable while its costs and consequences are indisputably horrible). They even succeeded at something that Hồ Chí Minh himself never dared to try: the constitutionalization of the absolute, permanent, and sole leadership of their own party based on communist tenets. Article 4 of the current Constitution of Vietnam stipulates:
The Communist Party of Vietnam, the vanguard of the Vietnamese working class and loyal representative of the interests of the working class, the working people and the whole nation, who adheres to Marxism-Leninism and Ho Chi Minh's thought, is the force assuming leadership of the State and society.
Even those formerly belonging to the upper echelons of the VCP's inner circle have come to the realization that theirs is a political system in death throes and appealing to its pseudo-glorious past is certainly no way out. The ruling class, however, is still inebriated, not with revolutionary zeal or even mistaken idealism, but with brutish power, grand corruption, and their forbidden fruit—outrageous opulence. Recently, in an article lamenting the on-going retrogression, Tương Lai, a top adviser to Vietnam's two previous prime ministers from 1991 to 2006, added yet another urgent wake-up call to the dissenting chorus which, by all accounts, has fallen on deaf ears:
Otherwise, if our leaders continue to turn their back on the people, to hide behind the signboards of an outdated ideology, to cling stubbornly to an obsolete model of anti-democratic totalitarianism, and to lead our nation into a dead-end alley, in order to hang on to their crumbling thrones, their demise will be inevitable.1 (My translation.)
Recognizing who the true "prisoners of history" are, therefore, should not be a difficult enterprise even for the uninitiated.

The Dream of Humanity

As a republic in its infancy, South Vietnam was undoubtedly far from perfect by Western standards. However, its history should be viewed as a sociopolitical project in progress. Also, one should not lose sight of the fact that the nation-building process of this nascent democracy was carried out under the most difficult circumstances imaginable. For the entirety of its existence, the Republic of Vietnam was continually fighting a bloody war to fend off the ruthless forces of the invading North Vietnamese communists who acted as surrogates for their Soviet and Maoist patrons to expand communism to Southeast Asia under the disguise of reunification and liberation.

During the initial 12 years, from 1955 to 1967, the Republic of Vietnam was plagued first by autocratic and nepotistic practices under the Ngô Đình Diệm regime (otherwise known as the First Republic) and then by a series of coups and cavalier short-lived military governments. However, a new constitutional framework was put into place in late 1967 to inaugurate the Second Republic, and by the end of the decade, virtually all of the institutions created by the new constitution had started taking determined and relatively solid—albeit still "infant"—steps towards the goal of building a truly free and democratic society under the rule of law.

Take human rights for instance, as the historians who compiled the Pentagon Papers described it, even the Diệm regime "compared favorably with other Asian governments of the same period in its respect for the person and property of citizens. There is much that can be offered in mitigation of Diem's authoritarianism."2 More significantly, not only did it fare better than other political systems around the region, but as Vietnam scholar Robert F. Turner bluntly brought the comparison close to home: "[I]n every category, across the board, it was far superior to what Ho Chi Minh and his comrades were offering in the North."3

With regard to freedom of the press, the following observation reported in 1970 by Dan Sutherland, a Saigon correspondent for the Christian Science Monitor, can shed some light on the truth of the matter:

[U]nder its new press law, South Vietnam now has one of the freest presses in Southeast Asia, and the daily paper with the biggest circulation here happens to be sharply critical of President Thieu. . . . [S]ince the new press law was promulgated nine months ago, the government has not been able to close down Tin Sang or any other newspaper among the more than 30 now being published in Saigon.4
In his report to the House of Representatives, after completing a congressional field trip to South Vietnam in 1974 to investigate the human rights situation there, Congressman Leo Ryan, a strong critic of U.S. policy in Vietnam, provided this fair and accurate assessment:
[T]he worst charges of widespread repression of fundamental human rights are overblown. There is a vocal, operative political opposition and press. It is not doubted that there are some political prisoners, but neither the populace as a whole nor the opposition political leaders appear to be living in fear of government repression.5
Had it not been for the devastating war of aggression carried out by the communist North and its patrons, South Vietnam would have joined the ranks of the "Asian tigers" by now. It is an oversimplification to characterize the Republic of Vietnam as a "failed regime for numerous reasons" without elaboration. Perhaps the biggest failure of all is that South Vietnam placed too much trust in America—an ally who vowed to stand together to fight against the spread of communism but shamefully betrayed the very survival of this young nation to its iniquitous enemies at the halfway point.

True, nostalgia for the "not-so-bad" former regime has naturally been a strong sentiment among the overwhelming majority of South Vietnamese, especially the overseas diaspora. Moreover, given the retrograde state of sociopolitical affairs in Vietnam since 1975, many Northerners have also recognized its value as the first liberal democracy ever created in Vietnam's history and its increasing prospect of becoming the last and only one. But, by and large, they hold no illusions about its genuine flaws, imperfections, and growing pains. It is a simplistic affront to equate their flag-waving (visible or suppressed) with a desire to return to the alleged bad old days. Rather, it represents a yearning to embark on a historic journey back to the future when a purified version of the Republic of Vietnam can be revived. With all those foibles and defects stripped away, what remains is the splendid dream of humanity with a Vietnamese twinkle—the enjoyment of life and liberty in harmony with one another and with nature under the protection of the rule of law and democratic institutions to pursue earthly happiness and, possibly, cosmic enlightenment.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam (and their apologists) to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers in their efforts to turn this beautiful dream into reality. That is what may be termed a bona fide focus of our times.



Notes

1Tương Lai, "Những Bàn Chân Nổi Giận," Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ, June 7, 2013. Web accessed June 8, 2013. An English version of this article, titled "Vietnam's Angry Feet," also appeared in the New York Times on the same date. Unfortunately, its translation contains a number of inaccuracies. Take this very quote for instance, literally lost in translation is the key word "tiếp tục" (meaning "continue" in English) which substantially betrays the original intent. What the author tries to convey here is a partial condition based on an on-going ontological fact, whereas the omission of that critical word renders the entire sentence wholly conditional or hypothetical.
2The Pentagon Papers (Senator Gravel Edition, Boston: Beacon Press, 1971), vol. 3, p. 253. Officially titled United States – Vietnam Relations, 1945–1967: History of US Decision Making Process on Vietnam Policy, this 46-volume document is a top-secret report on America’s political and military involvement in Vietnam from 1945 to 1967, completed in 1971 by the United States Department of Defense, but not fully declassified and released until June 2011.
3Robert F. Turner, "Myths and Realities in the Vietnam Debate," in The Vietnam Debate: A Fresh Look at the Arguments, ed. John Norton Moore (Lanham, MD: University Press of America, 1990), 162.
4Dan Sutherland, "Free-swinging Press Keeps Saigon Ducking," Christian Science Monitor, September 18, 1970.
5The United States House of Representatives, Vietnam and Korea: Human Rights and U.S. Assistance, A Study Mission Report of the Committee on Foreign Affairs 5 (94th Cong., 1st Sess., February 9, 1975).




[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn