Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



29 tháng 6, 2012

Bài Thuyết Giảng Nobel Của Bà Aung San Suu Kyi


Kính thưa Quốc Vương Hoàng Hậu Bệ Hạ, Thái Tử Điện Hạ, Quý Ngài Quan Khách, Thành Viên Lỗi Lạc của Ủy Ban Nobel Na Uy, Các Bạn Thân Mến:

Cách đây nhiều tháng năm dài, lắm lúc tưởng chừng như đã trải qua bao số kiếp, khi còn sinh sống tại Oxford, tôi từng có dịp cùng với đứa con trai nhỏ, Alexander, theo dõi chương trình phát thanh Các Đĩa Nhạc Trên Hoang Đảo. Đómột chương trình nổi tiếng (và theo tất cả những gì tôi biết, hiện giờ vẫn còn đang tiếp tục), đó là nơi mà các danh nhân từ khắp mọi nẻo đường đời được mời đến để thảo luận về tám đĩa nhạc, một món xa xỉ phẩm, và một cuốn sách (không thuộc nhóm Kinh Thánh và toàn btác phẩm của Sheakspeare) mà họ muốn có bên mình trong trường hợp bị bỏ rơi trên một hoang đảo. Cả hai mẹ con chúng tôi thích thú theo dõi và khi chương trình chấm dứt Alexander hỏi liệu tôi có nghĩ rằng một ngày nào đó tôi có khả năng được mời đến nói chuyện trên chương trình ấy hay không. “Sao không?” tôi trả lời qua loa. biết rằng nói chung chỉ có những nhân vật nổi tiếng mới đến tham gia chương trình này, nên Alexander lại tiếp tục hỏi tôi, bng một mối quan tâm chân thành, vì nguyên do nào mà tôi nghĩ tôi có khả năng được mời. Tôi suy nghĩ một thoáng rồi trả lời: “Có lẽ bởi vì lúc đó mẹ đã đoạt được Giải Nobel về văn chương,” và cả hai mẹ con cùng cười. Triển vọng ấy nghe qua thật thú vị nhưng khó có khả năng trở thành hiện thực.
(Bây giờ tôi không còn nhớ vì sao tôi đã trả lời như thế, chắc có lẽ vì lúc ấy tôi vừa đọc xong một tác phẩm của một Khôi Nguyên Nobel nào đó, hoặc có lẽ vì danh nhân trên chương trình Hoang Đảo hôm ấy là một văn sỹ nổi tiếng.)
Vào năm 1989, khi Michael Aris, người chồng hiện giđã quá cố của tôi, đến thăm trong lúc tôi đang bị quản thúc tại gia lần đầu, anh báo cho tôi hay rằng một người bạn, John Finnis, đã đề cử tôi tranh Giải Nobel Hòa Bình. Lần nầy tôi cũng lại cười. Michael thoáng ngạc nhiên, nhưng rồi hiểu ngay tại sao tôi lại buồn cười. Giải Nobel Hòa Bình? Một triển vọng thú vị, nhưng cơ hồ không có khả năng xảy ra! Thế thì tôi đã cảm tưởng gì khi thực sự được trao Giải Nobel Hòa Bình? Câu hỏi này đã được đặt ra với tôi nhiều lần và chc chn đây là cơ hội thích đáng nhất để xem xét Giải Nobel có ý nghĩađối với tôi, và hòa bình có ý nghĩa đối với tôi.
Như tôi đã lập lại lm lần trong nhiều cuộc phỏng vấn, tôi nghe tin mình được trao Giải Nobel Hòa Bình trên đài phát thanh vào một buổi tối. Điu đó tuyệt nhiên không làm cho tôi ngạc nhiên lắm vì trước đó một tuần tôi được nhắc đến trên một số chương trình truyền thông là một trong những ứng viên hàng đầu của giải thưởng này. Trong lúc soạn thảo bài diễn văn này, tôi đã cố gắng hết sức đhồi tưởng lại phản ứng tức thời của tôi đã ra sao đối với bản tin công bố giải thưởng ấy. Tôi không còn chắc lm, nhưng tôi nghĩ đại đ như thế này: “Ồ, thế là họ đã quyết định trao giải thưởng ấy cho mình.” Cảm tưởng ấy dường như chẳng mấy chân thật bởi vì trong một ý nghĩa nào đó tôi cảm thấy chính mình cũng chẳng thực sự hiện hữu trong khoảnh khắc ấy.
Trong thời gian bị quản thúc tại gia, tôi thường xuyên cảm thấy hình như mình không còn là một phần của thế giới hiện thực nữa. Có căn nhà tạo nên thế giới riêng cho tôi, có một thế giới của những người mất tự do như tôi đang chung sống với nhau trong ngục tù như một cộng đồng, và có một thế giới của những người tự do; mỗi thế giới là một hành tinh khác nhau đang mưu cầu một quĩ đạo riêng biệt cho chính mình trong một vũ trụ dửng dưng. Tác động của Giải Nobel Hòa Bình là lại lần nữa đã kéo tôi trở v với thế giới của nhân loại ở bên ngoài khu vực cô lập mà tôi đã sống, và đã khôi phục cảm giác chân thật cho tôi. Tất nhiên điều này không xảy ra ngay lập tức, nhưng khi tháng ngày trôi qua và khi tin tức về những phản ứng đối với giải thưởng lan truyền qua làn sóng truyền thông, tôi mới bắt đầu thấu hiểu ý nghĩa của Giải Nobel. Nó đã khiến tôi thực sự hiện hữu thêm một lần nữa; nó đã kéo tôi về với cộng đồng nhân loại bao la. Và điều quan trọng hơn là Giải Nobel đã khiến thế giới chú ý tới công cuộc đấu tranh dân chủ và nhân quyền tại Miến Điện. Chúng tôi đã không bị lãng quên.
Bị lãng quên. Người Pháp nói chia ly là chết đi một tí. Bị lãng quên cũng là chết đi một tí. Bị lãng quên là đánh mất đi một số khâu liên kết neo chặt chúng tôi với phần còn lại của nhân loại. Trong chuyến viếng thăm Thái Lan mới đây của tôi, khi tôi gặp những người di cư lao động và tỵ nạn từ Miến Điện đến, nhiều người đã kêu gào thảng thốt: “Xin đừng quên chúng tôi!” Ý họ muốn nói: “Xin đừng quên cảnh ngộ của chúng tôi, xin đừng quên làm những gì bà có thể làm để giúp đỡ chúng tôi, xin đừng quên chúng tôi cũng cùng thuộc về thế giới của bà.” Khi Ủy Ban Nobel trao Giải Nobel Hòa Bình cho tôi, họ đã thừa nhận rằng những người bị đàn áp và cô lập tại Miến Điện cũng là một phần của thế giới, họ đã thừa nhận tính nhất thể của nhân loại. Bởi vậy đối với tôi, việc tiếp nhận Giải Nobel Hòa Bình có nghĩa là chính cá nhân mình phải nới rộng mối quan tâm về dân chủ và nhân quyền ra ngoài lãnh thổ quốc gia. Giải Nobel Hòa Bình đã mở ra một cánh cửa trong lòng tôi.
Khái niệm hòa bình của người Miến Điện có thể được giải thích là niềm hạnh phúc phát sinh từ sự đoạn tuyệt những yếu tố ngăn trở sự hòa hợp và toàn vẹn. Từ nyein-chan dịch theo nghĩa đen là sự mát dịu hữu ích khởi sinh một khi ngọn lửa đã được dập tắt. Ngọn lửa của khổ đau và xung đột đang hoành hành khắp nơi trên thế giới. Tại đất nước chúng tôi, hận thù vẫn chưa chấm dứt ở miền cực bắc; ở phía tây, bạo lực giữa các nhóm sắc tộc dẫn đến nạn đốt phá nhà cửa và chém giết nhau vừa mới xảy ra chỉ vài hôm trước khi tôi bắt đầu cuộc hành trình đ đến đây hôm nay. Tin tức về những cuộc bạo hành ở các nơi khác trên trái đất lúc nào cũng đầy rẫy. Những tường trình về nạn đói, bệnh tật, ly tán, thất nghiệp, nghèo khổ, bất công, kỳ thị, thành kiến, cuồng tín: tất cả là thực trạng hàng ngày của chúng ta. Đâu đâu cũng có mặt những lực lượng tiêu cực đang ăn mòn các nền tảng hòa bình. Đâu đâu cũng có thể chứng kiến tình trạng phung phí một cách vô ý thức những nguồn tài nguyên vật chất và nhân lực cần thiết để duy trì hài hòa và hạnh phúc trong thế giới của chúng ta.
Đệ Nhất Thế Chiến tiêu biểu cho một sự lãng phí kinh khủng về tuổi trẻ và tiềm năng, một sự tiêu hoang tàn khốc những lực lượng tích cực trên hành tinh của chúng ta. Thi ca của thời kỳ này có một ý nghĩa đặc biệt đối với tôi bởi vì lần đầu tiên tôi đọc loại thơ đó là khi tôi mới bước vào lứa tuổi ngang ngửa với những chàng trai trẻ đang phải đối mặt với hiểm họa tàn tạ trước lúc chớm nở. Trước khi tử trận vào năm 1916, một thanh niên Mỹ chiến đấu cùng với Binh Đoàn Lê Dương của Pháp đã viết rằng anh ta có thể gặp gỡ cái chết: “ở một chiến lũy tranh chấp nào đó;” “trên một sườn đồi tan hoang, loang lỗ vết tích bom đạn nào đó,” hay “giữa đêm khuya tại một thành phố đang ngùn ngụt bốc cháy.” Tuổi trẻ, tình yêu và cuộc sống vĩnh viễn bị hủy hoại bằng những nỗ lực vô nghĩa nhằm chiếm lấy những nơi chốn vô danh, chẳng còn ai nhớ tới. Và để làm gì? Gần một thế kỷ đã trôi qua nhưng chúng ta vẫn chưa tìm ra câu trả lời thỏa đáng.
Nếu xét từ một mức độ ít thô bạo hơn, phải chăng chúng ta vẫn chưa cảm thấy tội lỗi vì thái độ liều lĩnh và hoang phí đối với tương lai cũng như tấm lòng nhân đạo của chúng ta? Chiến tranh không phải là đấu trường duy nhất để bức tử hòa bình. Bất cứ nơi nào đau khổ bị phớt lờ nơi đó sẽ có mầm mống xung đột, bởi vì đau khổ hạ thấp phẩm giá con người, cấu tạo đắng cay và cuồng nộ.
Một khía cạnh tích cực của cuộc sống cô lập là tôi có rất nhiều thời gian để nghiền ngẫm về ý nghĩa của những ngôn từ và giới luật mà trước đó tôi đã biết đến và đã chấp nhận suốt cả cuộc đời. Là một Phật tử, ngay từ khi còn là một đứa trẻ thơ, tôi đã được nghe về dukha, mà thường được dịch tổng quát là khổ. Có thể nói là gần như mỗi ngày, những người già, mà nhiều khi chưa hẳn đã già lắm, sống quanh tôi thường hay thì thầm “khổ, khổ” mỗi khi họ phải chịu đựng những cơn đau nhức, hoặc khi họ gặp phải những tai nạn không may, bực dọc nho nhỏ. Tuy nhiên, chỉ trong những năm tháng bị quản thúc tại gia tôi mới quay lại truy tầm đến tận căn gốc bản chất của sáu điều khổ lớn. Đó là: sinh, lão, bệnh, tử, xa lìa người thân, và bị ép buộc sống gần gũi với người mà mình không yêu thương. Tôi khảo sát từng nỗi khổ ấy, không phải trong bối cảnh tôn giáo mà trong bối cảnh của cuộc sống thường nhật của chúng ta. Nếu khổ đau là một phần không thể tránh khỏi trong cuộc tồn sinh của chúng ta, chúng ta nên cố gắng giảm thiểu nó càng nhiều càng tốt bằng những cách thức thực dụng và trần thế. Tôi đã suy ngẫm về hiệu năng của những chương trình tiền-và-hậu sản cũng như việc chăm sóc sản phụ và trẻ em; về những tiện nghi cần thiết cho lớp dân số bước vào tuổi già; về những dịch vụ y tế toàn diện; về những chương trình nuôi dưỡng nhân đạo và các trung tâm tế bần. Tôi đặc biệt quan tâm đến hai loại khổ đau sau cùng: khổ do bị chia ly với người mình yêu thương và khổ do bị buộc phải sống gần gũi với người mình không yêu thương. Đức Phật của chúng ta đã trải nghiệm những gì trong đời mà khiến Ngài phải gộp nhập hai trạng thái này vào trong sáu điều đau khổ lớn? Tôi đã nghĩ đến những tù nhân và những người tỵ nạn, nghĩ đến những công nhân di cư và những nạn nhân của tội buôn người, nghĩ đến khối quần chúng lớn lao trên địa cầu bị bật gốc rễ, bị kéo giật khỏi gia cư, phải xa lìa người thân và bạn hữu, buộc phải sống cho hết đời giữa những người xa lạ không phải lúc nào cũng muốn hoan nghênh mình.
Chúng ta may mắn được sống trong thời đại mà phúc lợi xã hội và trợ giúp nhân đạo được công nhận không phải chỉ là điều ước muốn mà còn là một nhu cầu cần thiết. Tôi thấy may mắn được sống trong một thời đại mà số phận của những tù nhân lương tâm ở bất cứ nơi đâu đều trở thành mối quan tâm của mọi dân tộc khắp mọi nơi, thời đại mà dân chủ và nhân quyền được công nhận một cách rộng rãi, cho dù vẫn chưa phổ quát, là những quyền bẩm sinh của tất cả mọi người. Trong những năm bị quản thúc tại gia, tôi thường xuyên vin vào những đoạn mà tôi tâm đắc nhất trong lời nói đầu bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền để tiếp thêm nguồn sức mạnh cho bản thân không biết đã bao lần:
……. việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đã đưa tới những hành động dã man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và hiện thân của một thế giới mà trong đó mọi người được hưởng tự do ngôn luận và tín ngưỡng cũng như được giải thoát khỏi  sợ hãi và khốn cùng đã được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của người thường dân,
……. điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống lại áp bức và bạo quyền…
Nếu có người hỏi vì sao tôi tranh đấu cho nhân quyền ở Miến Điện, những đoạn trích trên đây sẽ cung cấp cho họ câu trả lời. Nếu có người hỏi vì sao tôi tranh đấu cho nền dân chủ ở Miến Điện, ấy là vì tôi tin rằng cơ chế và việc thực thi dân chủ là cần thiết để bảo đảm cho nhân quyền.
Trong năm qua, có nhiều dấu hiệu biểu thị nỗ lực của những người tin tưởng vào dân chủ và nhân quyền đang bắt đầu kết trái tại Miến Điện. Đã có những thay đổi theo chiều hướng tích cực; đã có những bước tiến theo chiều hướng dân chủ hóa. Nếu tôi chủ xướng lập trường lạc quan thận trọng, thì điều đó không phải vì tôi không tin tưởng vào tương lai mà chỉ vì tôi không muốn cổ vũ  niềm tin mù quáng. Nếu không có niềm tin vào tương lai, không có xác tín rằng những giá trị dân chủ và nhân quyền căn bản không chỉ là thiết yếu mà còn là khả dĩ cho xã hội của chúng tôi, thì phong trào của chúng tôi đã không thể đứng vững trong nhiều năm tháng có sức hủy diệt ấy. Một số chiến hữu của chúng tôi đã ngã xuống ngay tại đồn lũy, một số khác rời bỏ chúng tôi, nhưng nhóm nòng cốt tận tụy thì vẫn mạnh mẽ và kiên định. Nhiều lúc nghĩ về những năm tháng đã qua, tôi cảm thấy rất ngạc nhiên là đã có rất nhiều chiến hữu giữ được tinh thần kiên định trước những hoàn cảnh thử thách cam go nhất. Niềm tin mà họ đặt vào sự nghiệp của chúng tôi không hề mù quáng; niềm tin ấy dựa trên sự đánh giá sáng suốt về sức nhẫn nại của chính họ, và lòng kính trọng sâu sắc đối với những khát vọng của dân tộc chúng tôi.
Chính do những thay đổi gần đây tại đất nước chúng tôi mà hôm nay tôi được gặp gỡ quí vị; và những thay đổi đó có được là nhờ quí vị và những người yêu chuộng tự do và công lý khác đã góp phần kiến tạo một mối nhận thức toàn cầu về hoàn cảnh của chúng tôi. Trước khi tiếp tục nói về đất nước chúng tôi, tôi xin được cất tiếng nói thay cho tất cả những tù nhân lương tâm của chúng tôi. Hiện nay tại Miến Điện vẫn còn nhiều tù nhân như thế. Điếu đáng lo sợ là vì những người bị giam cầm nổi tiếng nhất đã được phóng thích, những người còn lại, những kẻ không ai biết tiếng, sẽ bị lãng quên. Sở dĩ tôi có mặt đứng ở nơi đây hôm nay là vì tôi đã từng là tù nhân lương tâm. Khi quí vị nhìn thấy tôi và lắng nghe tôi nói, xin quí vị hãy nhớ lấy một sự thật thường được nhắc nhở rằng có một tù nhân lương tâm không thôi thì cũng là đã quá nhiều. Con số những tù nhân lương tâm chưa được trả tự do, con số những tù nhân lương tâm chưa được tiếp cận với lợi ích của công lý tại đất nước chúng tôi lớn hơn con số một ấy rất nhiều lần. Xin quí vị hãy nhớ đến họ và xin hãy làm tất cả những gì có thể để giúp họ được trả tự do vô điều kiện và trong thời gian sớm nhất.
Miến Điện là đất nước đa sắc tộc và niềm tin vào tương lai của Miến Điện chỉ có thể xây dựng trên nền tảng của tinh thần đoàn kết chân thực. Kể từ ngày chúng tôi giành được độc lập vào năm 1948, chưa hề có một giai đoạn nào mà chúng tôi có thể tuyên bố là toàn thể đất nước được sống trong cảnh bình yên. Chúng tôi chưa thể phát triển được niềm tin và sự hiểu biết cần thiết để xóa bỏ những căn nguyên gây ra xung đột. Niềm hy vọng được dâng cao nhờ những cuộc ngưng chiến từ đầu thập niên 1990 cho đến năm 2010 để rồi sụp đổ trong vòng vài ba tháng. Một động thái thiếu cân nhắc cũng đủ để phá hủy các cuộc ngừng chiến đã được duy trì trong một thời gian dài. Trong mấy tháng gần đây, những cuộc đàm phán giữa chính phủ và các lực lượng sắc tộc đã và đang đạt tiến bộ. Chúng tôi hy vọng rằng những thỏa thuận ngừng chiến sẽ dẫn đến những dàn xếp chính trị được xây dựng trên nền tảng khát vọng của tất cả các sắc tộc, và trong tinh thần đoàn kết.
Đảng chính trị Liên Đoàn Quốc Gia vì Dân Chủ của tôi và tôi đã sẵn sàng và mong muốn đảm trách bất cứ vai trò nào trong tiến trình hòa giải quốc gia. Những biện pháp cải tổ đã được chính phủ của Tổng thống U Thein khởi động chỉ có thể duy trì được với sự hợp tác khéo léo của tất cả các lực lượng bên trong: quân đội, toàn bộ các sắc tộc, các đảng phái chính trị, truyền thông, các tổ chức xã hội dân sự, cộng đồng doanh nghiệp, và quan trọng hơn hết là công chúng. Chúng tôi có thể nói rằng công cuộc cải cách này chỉ có hiệu quả nếu cuộc sống của nhân dân được cải thiện vàtrên phương diện này, cộng đồng quốc tế đóng một vai trò trọng yếu. Viện trợ nhân đạo và phát triển, các thỏa thuận song phương và đầu tư phải được phối hợp và cân nhắc để bảo đảm rằng những yếu tố này đồng bộ xúc tiến một nguồn tăng trưởng kinh tế, chính trị, và xã hội có tính quân bình và bền vững. Tiềm năng của đất nước chúng tôi là hết sức to lớn. Điều kiện này cần được nuôi dưỡng và phát triển để kiến tạo nên một xã hội không chỉ thịnh vượng hơn mà còn hài hòa và dân chủ hơn để nhân dân chúng tôi có thể sống trong hòa bình, an toàn, và tự do.
Hòa bình trên thế giới của chúng ta là bất khả phân. Chừng nào mà những lực lượng tiêu cực còn mạnh hơn những lực lượng tích cực tại bất kì đâu chừng ấy tất cả chúng ta vẫn phải đối mặt với hiểm nguy. Chúng ta có thể thắc mắc liệu tất cả mọi lực lượng tiêu cực có bao giờ bị loại trừ hoàn toàn chăng. Câu trả lời đơn giản là: “Không bao giờ!” Nhân tính luôn luôn bao gồm cả hai mặt thiện và ác. Tuy nhiên, con người vẫn nắm trong tay khả năng hoạt động để tăng cường thiện tính và giảm thiểu hay vô hiệu hóa ác tật. Hòa bình tuyệt đối trong thế giới chúng ta là một mục tiêu không thể đạt được. Nhưng đó là một mục tiêu mà cuộc hành trình của chúng ta buộc phải tiếp tục hướng đến; mắt chúng ta đăm đăm hướng về mục tiêu đó như người lữ hành trong sa mạc đăm đăm dõi theo ngôi sao dẫn đường đưa mình đến nơi giải thoát. Ngay cả khi chúng ta không đạt được hòa bình hoàn hảo trên trái đất, bởi vì hòa bình hoàn hảo không thuộc về trái đất này, những nỗ lực chung để đạt đến hòa bình sẽ đoàn kết mọi cá nhân và mọi dân tộc trong niềm tin tưởng và tình thân hữu và hỗ trợ cho việc kiến tạo một cộng đồng nhân loại an toàn hơn và nhân từ hơn.
Tôi sử dụng từ “nhân từ hơn” sau biết bao cân nhắc thận trọng; tôi xin nói đó là sự cân nhắc thận trọng qua nhiều năm tháng. Trong các thú vị của nghịch cảnh, và xin thưa rằng chúng chẳng có được là bao, thì tôi đã tìm thấy được hương vị ngọt ngào nhất, cái quý giá hơn cả, đó là bài học mà tôi đã học được từ giá trị của lòng nhân từ. Mỗi một hành vi nhân từ mà tôi đã được nhận, dù lớn hay bé, đều khiến tôi tin rằng chẳng bao giờ có đủ lòng nhân từ cho thế giới của chúng ta. Nhân từ là đáp ứng nguyện vọng và nhu cầu của tha nhân bằng cảm thông bén nhạy và hơi ấm hồn hậu. Chỉ cần một cái chạm khẽ của lòng nhân từ cũng đủ sức nhấc bỗng một tâm hồn trầm uất. Lòng nhân từ có khả năng thay đổi đời sống con người. Na Uy thể hiện lòng nhân từ mẫu mực bằng cách mở rộng vòng tay đón nhận những người không chốn dung thân trên trái đất này và cho họ một mái ấm gia đình, bằng cách cung cấp nơi ẩn náu cho những kẻ bị xua đuổi ra khỏi bến bờ an toàn và tự do trên chính quê hương của mình.
Người tị nạn hiện diện khắp tất cả mọi miền trên thế giới. Vừa qua khi tôi đến thăm trại tị nạn Maela ở Thái Lan, tôi đã gặp những người rất tận tụy cố gắng hết sức mình mỗi ngày để chăm lo cho cuộc sống của người trong trại bớt được gian khổ phần nào hay phần đó. Họ bày tỏ mối quan ngại của người tỵ nạn đối với “sự mỏi mệt của nhà tài trợ,” mà cũng có thể diễn dịch thành “sự mỏi mệt của lòng trắc ẩn.” “Sự mỏi mệt của nhà tài trợ” tự bộc bạch một cách chính xác qua việc cắt giảm nguồn tài trợ. Nhưng “sự mỏi mệt của lòng trắc ẩn” không tự bộc bạch một cách hiển nhiên qua việc cắt giảm quan tâm. Cái này là hậu quả của cái kia. Liệu chúng ta có thể nuông chiều sự mệt mỏi của lòng trắc ẩn chăng? Phải chăng cái giá đáp ứng những nhu cầu của người tị nạn nặng hơn cái giá phải trả cho hậu quả của việc dửng dưng đứng nhìn, nếu không muốn nói là nhắm mắt lại, trước nỗi khổ đau của họ? Tôi khẩn thiết kêu gọi những nhà tài trợ trên toàn thế giới hãy cung cấp đầy đủ các nhu cầu thiết yếu cho những người đang tìm kiếm chốn dung thân này, mà lắm khi chỉ là sự tìm kiếm trong vô vọng.
Tại trại Maela, tôi đã có những cuộc thảo luận quí giá với các viên chức Thái Lan điều hành tỉnh Tak, nơi có trại tị nạn Maela này và nhiều trại khác. Họ cho tôi biết về một số vấn nạn nghiêm trọng hơn liên quan đến các trại tị nạn: vi phạm luật bảo vệ rừng, sử dụng thuốc nghiện bất hợp pháp, cất nấu rượu lậu, những vấn nạn trong công tác kiểm soát bệnh sốt rét, bệnh lao phổi, sốt xuất huyết và bệnh dịch tả. Những quan ngại của cơ quan công quyền cũng chính đáng như những quan ngại của người tị nạn. Các quốc gia chủ nhà cũng đáng được quan tâm và hỗ trợ cụ thể để đối phó với những khó khăn liên quan đến trách nhiệm của họ.
Mục tiêu tối hậu của chúng ta là phải tạo ra một thế giới không còn những con người tha phương, vô gia cư, và vô vọng, một thế giới mà từng góc nhỏ là mỗi thánh đường nơi mỗi cư dân có tự do và khả năng sống trong hòa bình. Mỗi ý nghĩ, mỗi lời nói, mỗi hành động góp phần làm tăng trưởng tính tích cực và tính toàn vẹn là đều góp phần xây dựng hòa bình. Mỗi một chúng ta đều có khả năng thực hiện việc đóng góp ấy. Chúng ta hãy chung tay để gắng sức kiến tạo một thế giới hòa bình, nơi mà chúng ta có thể ngon giấc bình yên và thức dậy tràn trề hạnh phúc.
Ủy Ban Nobel kết thúc bản tuyên bố đề ngày 14 tháng 10 năm 1991 bằng dòng chữ: “Thông qua việc trao tặng Giải Nobel Hòa Bình . . . cho bà Aung San Suu Kyi, Ủy Ban Nobel Na Uy mong ước được vinh danh người phụ nữ này vì những nỗ lực không mệt mỏi của bà, mong ước được bày tỏ sự ủng hộ của chúng tôi đối với rất nhiều cá nhân trên toàn thế giới đang nỗ lực thu đạt thành quả dân chủ, nhân quyền và hòa giải dân tộc bằng những phương tiện hòa bình.” Khi tôi tham gia phong trào dân chủ tại Miến Điện tôi không hề nghĩ đến khả năng một ngày nào đó tôi có thể được trao tặng bất cứ một giải thưởng hay vinh dự nào. Giải thưởng mà chúng tôi đã cố sức để giành lấy là một xã hội công bằng, an toàn, và tự do để nhân dân chúng tôi có thể hiện thực hóa trọn vẹn tiềm năng của mình. Vinh dự ấy đã tiềm tàng trong nỗ lực của chúng tôi. Lịch sử đã ban cho chúng tôi một cơ hội để cống hiến tâm huyết cho sự nghiệp mà chúng tôi đặt trọn niềm tin. Khi Ủy Ban Nobel chọn vinh danh tôi, con đường mà tôi đã chọn theo ý nguyện tự do của mình đã trở thành một hành trình bớt đơn độc hơn. Do vậy tôi xin cảm ơn Ủy Ban, cảm ơn nhân dân Na Uy cùng tất cả các dân tộc khắp nơi trên thế giới đã ủng hộ để giúp tôi tăng cường niềm tin trong công cuộc tìm kiếm hòa bình chung. Xin cảm ơn quý vị.
Tác giả: Aung San Suu Kyi
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Nguồn: Nobel Lecture by Aung San Suu Kyi
 Oslo, 16 June, 2012
[ Đọc Tiếp ]

28 tháng 6, 2012

Lá Bài Dầu Khí Tại Biển Đông


Cuối tuần qua, Tổng Công Ty Dầu Khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) lặng lẽ tuyên bố rằng hiện thời họ đã sẵn sàng tiếp nhận mọi đề án đấu thầu của các công ty ngoại quốc nhằm thăm dò và phát triển 9 lô dầu khí mới tại Biển Đông. Động thái này phản ánh một trong những nỗ lực trắng trợn nhất của Trung Quốc trong việc khẳng định quyền lợi hải dương của họ tại những vùng biển tranh chấp — và tạo thành một thách thức trực tiếp đối với các yêu sách riêng của Việt Nam.

Khác với những lô mà Trung Quốc đã đề xuất trong năm 2010 và 2011, những lô mới này hoàn toàn nằm trong những hải vực bị tranh chấp tại Biển Đông. Như bản đồ dưới đây hiển thị, những lô mới này nằm ngoài bờ biển miền Trung Việt Nam và chiếm một diện tích hơn 160.000 ki-lô-mét vuông. Mép phía Tây của một số lô xem ra chỉ cách bờ biển Việt Nam chưa tới 80 hải lý, nằm gọn trong Vùng Đặc Quyền Kinh Tế của nước này. Tất cả các lô này đều lấn vào những lô của PetroVietnam, chí ít là cục bộ, và có tiềm năng bao gồm cả những lô mà các công ty dầu khí nước ngoài hiện đang tiến hành hoạt động thăm dò.  

Có lẽ các công ty ngoại quốc sẽ không hợp tác với Trung Quốc trong việc mưu cầu đầu tư tại những lô đang bị tranh chấp này. Tuy nhiên, hành động của CNOOC vẫn có ý nghĩa đặc biệt vì một số lý do khác. Trước tiên, việc tuyên bố những lô này biểu thị Trung Quốc lại tiến thêm một bước nữa trong nỗ lực tăng cường phạm vi quyền hạn tại các hải vực bị tranh chấp này. Ví dụ, chỉ mới trong tuần rồi, Trung Quốc đã nâng địa vị hành chánh của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ cấp khu vực lên cấp huyện trong tỉnh Hải Nam. 
Trừ phi các công ty ngoại quốc ký kết hợp đồng sản xuất và chia lời với CNOOC và bắt đầu các hoạt động thăm dò tại những lô này, tuyên bố của CNOOC vẫn mang tính chất biểu tượng nhiều hơn thực tiễn. Tuy nhiên, nó rất có khả năng gia tăng tình trạng căng thẳng và phức tạp hóa nỗ lực xử lý yêu sách của tất cả các quốc gia trong vùng.
M. Taylor Fravel

Việc phác họa những lô thăm dò do một công ty dầu khí quốc doanh Trung Quốc thực hiện không những nới rộng phạm vi quyền hạn theo yêu sách của Trung Quốc mà còn tăng cường cơ sở pháp lý cho lập trường của họ trong việc phản đối các hoạt động của Việt Nam tại những hải vực tranh chấp này. Trong quá khứ, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc thách thức tính hợp pháp của những hoạt động thăm dò và phát triển do Việt Nam thực hiện bằng cách tuyên bố rằng những hoạt động đó nằm trong hải vực của Trung Quốc. Bây giờ, Trung Quốc có thể khẳng định rằng chúng vi phạm các luật lệ nội địa có liên quan đến việc phát triển tài nguyên.

Thêm vào đó, tuyên bố của CNOOC lại tiếp tục tạo nên nhiều nghi vấn về việc phối hợp giữa các tác nhân trong lãnh vực hải dương tại Trung Quốc. Khi những lô dầu khí này được loan báo, Thứ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Trình Quốc Bình đang có mặt tại Hà Nội để hội đàm với ASEAN nhằm thực thi Tuyên Bố Về Bộ Ứng Xử 2002. Không cần phải nói, tuyên bố của CNOOC đã phá hoại nỗ lực bắt đầu từ mùa hè năm ngoái nhằm đeo đuổi một phương thức ôn hòa hơn trong việc xử lý những yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông. Hơn nữa, nó còn tạo ra nhiều mối nghi ngờ về nỗ lực của Bắc Kinh trong việc xem nhẹ các tranh chấp hải dương và cải thiện quan hệ song phương với Việt Nam cùng với địa vị của thỏa thuận được ký kết vào tháng 10 năm 2011 về những nguyên tắc cơ bản để giải quyết những vấn đề hải dương. 

Ngoài ra, vị trí của những lô dầu khí này còn ám chỉ rằng Trung Quốc (hay chí ít là CNOOC) có thể diễn giải rằng đường chín đoạn trên bản đồ Trung Quốc phản ánh "quyền lợi lịch sử" của họ tại Biển Đông. Một yêu sách như thế sẽ không phù hợp với Công Ước Luật Biển Liên Hiệp Quốc (UNCLOS), vì quyền lợi hải dương chỉ có thể đòi hỏi dựa trên các địa mạo. Bằng nhiều loại thỏa thuận và tuyên bố khác nhau, Trung Quốc vẫn thường xuyên cam kết tuân thủ UNCLOS trong việc tranh chấp. 

Thời điểm đưa ra tuyên bố này cũng khá kỳ quặc. Một mặt, đây có lẽ là phản ứng của Trung Quốc trước tình hình mà họ xem là có nhiều thách thức tái diễn từ các đối thủ chính của họ trong các vụ tranh chấp tại Biển Đông. Phi Luật Tân quyết liệt phản đối tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại Bãi Cạn Scarborough từ hồi tháng tư, trong khi đó Việt Nam vừa thông qua một đạo luật biển để điển chế hóa yêu sách chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa cũng như quyền lợi hải dương của họ. Mặt khác, tuyên bố của CNOOC xảy ra trước kỳ nhóm họp thường niên của Diễn Đàn Khu Vực ASEAN chỉ có hai tuần, làm tăng sự chú ý của khu vực đối với những tranh chấp mà Trung Quốc mong muốn giải quyết bằng biện pháp song phương hơn. 

Trừ phi các công ty ngoại quốc ký kết hợp đồng sản xuất và chia lời với CNOOC và bắt đầu các hoạt động thăm dò tại những lô này, tuyên bố của CNOOC vẫn mang tính chất biểu tượng nhiều hơn thực tiễn. Tuy nhiên, nó rất có khả năng gia tăng tình trạng căng thẳng và phức tạp hóa nỗ lực xử lý yêu sách của tất cả các quốc gia trong vùng.



Tác giả: M. Taylor Fravel  
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn 
Nguồn: The Diplomat 

(M. Taylor Fravel là một PGS Khoa Học Chính Trị và thành viên của
 Chương Trình Nghiên Cứu An Ninh tại  MIT.  
Độc giả có thể theo dõi ông trên Twitter @fravel.)
[ Đọc Tiếp ]

25 tháng 6, 2012

Phá chợ xây siêu thị: Một bước đi giật lùi!

(VnMedia) - "Ở Việt Nam, khái niệm siêu thị khá mới, nhưng ở châu Âu thì đây là khái niệm của 40 năm trước. Hiện nay các thành phố ở châu Âu đều có chợ nông dân và đây lại chính là khái niệm hiện đại" - TS Greertman (tổ chức HealthBridge - Canada), nói.
Không chỉ đánh giá bằng cảm tính, tiến sĩ Stephanie Greertman (tổ chức HealthBridge - Canada) đã có những phân tích hết sức sâu sắc về những giá trị thực tế chợ truyền thống đối với cả người dân đô thị cũng như những người nông dân.

Thay chợ bằng siêu thị: Tăng nguy cơ cho sức khoẻ


TS Greertman
Trong khi chính những nhà quản lý ở Hà Nội lo lắng về chuyện mất an toàn vệ sinh thực phẩm từ chợ, thì theo tiến sĩ Greertman, đối với đại bộ phận dân cư thành phố, chợ là nơi mà họ có thể mua thực phẩm tươi sống với giá phải chăng, điều mà họ khó có thể tiếp cận trong các hệ thống siêu thị.
“Từ bỏ các chợ thực phẩm truyền thống để chuyển sang phát triển các siêu thị và đại siêu thị đang mang lại những ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển văn hoá, kinh tế, xã hội cũng như lối sống và kem theo đó là những tác động đến sức khoẻ của người dân thành phố” - TS Greertman nói.
“Việc làm hạn chế sự tiếp cận của người dân tới thực phẩm tại các chợ truyền thống sẽ gây ra những tác động rất quan trọng đối với sức khỏe người dân đô thị. Khi không còn chợ và siêu thị gần nhà, người dân sẽ không đi mua sắm thường xuyên mà mua với số lượng nhiều hơn mỗi lần đi. Như vậy họ ít mua thực phẩm tươi sống hơn, thay vào đó là những thực phẩm đông lạnh và đã chế biến có hạn sử dụng dài. Việc sử dụng các sản phẩm giàu năng lượng nhưng ít chất dinh dưỡng này là nguy cơ gây ra các bệnh như tim mạch, đột quỵ, tiểu đường…” - TS Greertman lo ngại.
Ngoài ra, theo phân tích của bà Greertman, về mặt bản chất, các siêu thị cần có bán kính phục vụ khách hàng lớn hơn so với chợ truyền thống để có thể đảm bảo mục tiêu lợi nhuận. Điều này có nghĩa là hầu hết người dân vẫn cần phải lái xe đến siêu thị khiến nhu cầu giao thông cơ giới gia tăng và gây thêm sức ép lên hệ thống hạ tầng giao thông trong đô thị.

Thiệt cho cả người tiêu dùng và sản xuất nội địa

Một điều có lẽ rất ít người nói đến do họ không nhận thức được hay vì nguyên nhân nào khác khiến nó bị bỏ qua, đó là lợi ích của người tiêu dùng sẽ bị ảnh hưởng khi phụ thuộc vào siêu thị. Mặt khác, chính những người sản xuất trực tiếp trong vùng lân cận cũng có nguy cơ bị mất thị trường.
Theo TS Greertman, trước kia, những thực phẩm được bày bán chủ yếu là những sản phẩm được trồng và sản xuất trong vùng. Tuy nhiên, với sự gia tăng của toàn cầu hóa, điều này không còn đúng nữa.
“Khi một môi trường thực phẩm quá tập trung vào các siêu thị, lượng thực phẩm nhập khẩu sẽ gia tăng, bao gồm cả thực phẩm chế biến và tươi sống. Điều này không có nghĩa là bản thân các chợ không bán các thực phẩm nhập khẩu. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, số lượng và chủng loại thực phẩm nhập khẩu ở chợ ít hơn nhiều so với ở siêu thị, có thể tới 90%. Thông thường, chợ là nơi bán chủ yếu những thực phẩm được sản xuất ở các vùng lân cận của thành phố.” - TS Greertman phân tích.

Xóa chợ để xây siêu thị, nông dân Hà Nội có thể mất đi cơ hội cung cấp hàng hóa nông sản,
 còn người thành thị giảm cơ hội tiếp cận rau quả tươi

Ngoài ra, bà còn cảnh báo, nếu quá tập trung vào phát triển siêu thị, quyền kiểm soát nguồn cung thực phẩm trên thị trường sẽ được giao cho các công ty tư nhân. Các công ty sẽ quyết định bán sản phẩm gì, nhập thực phẩm từ đâu và sẽ mở siêu thị ở đâu.

Cơ quan quản lý của thành phố có thể quy định những nơi mở siêu thị nhưng những công ty điều hành có thể đóng cửa những siêu thị ở những nơi không sinh lời. Như ví dụ của Brazil, sau cuộc khủng hoảng tài chính đầu năm 2000, các công ty đã quyết định đóng cửa một loạt siêu thị để đảm bảo lợi nhuận của mình, dẫn tới số lượng các siêu thị giảm từ 3,961 (năm 1996) xuống còn 2,962 (năm 2002).” - TS Greertman dẫn chứng.

Trong khi đó, các chợ truyền thống đã hoạt động hàng trăm năm và khó bị đóng cửa bởi lý do khủng hoảng kinh tế. Những hộ kinh doanh nhỏ trong chợ cần ít lượng khách hàng hơn so với các siêu thị để duy trì lợi nhuận. Có thể có những người phải nghỉ bán, nhưng rất khó để toàn chợ đóng cửa vì lý do đó.

"Vậy tác động của sự thay đổi về mặt thực phẩm khi thay chợ bằng siêu thị là gì? Đó là tác động về mặt kinh tế dẫn đến ít cơ hội việc làm, giảm cơ hội kiếm sống cho người nghèo đô thị, giảm việc làm... và tiền lưu thông trong nền kinh tế địa phương cũng ít hơn" - TS Greertman nói.

Giấc mơ hiện đại hoá và bước đi “giật lùi” 

Mọi người hẳn sẽ kinh ngạc khi ai đó cho rằng, việc thay chợ bằng siêu thị không những không phải là đang hiện đại hoá mà thực chất lại là một sự “giật lùi”. Tuy nhiên, TS Greertman đã chứng minh đây là nhận định có cơ sở.

"Như thế nào gọi là hiện đại? Ở Việt Nam, khái niệm siêu thị khá mới, nhưng ở châu Âu thì đây là khái niệm của 40 năm trước. Tuy nhiên, hiện nay các thành phố ở châu Âu đều có chợ nông dân và đây lại chính là khái niệm hiện đại" - TS Greertman cho biết.


Hà Nội đang cố gắng xóa bỏ chợ để xây siêu thị, trong khi đó, "chợ nông dân" trong thành phố lại là khái niệm hiện đại ở Châu Âu
“Văn minh, hiện đại có thể đang được dùng như một cái cớ để người ta từ bỏ các không gian truyền thống quen thuộc vốn tạo nên bản sắc và linh hồn thành phố. Việt Nam hãy cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đưa ra những kế hoạch xoá bỏ chợ hay nâng cấp chợ truyền thống trong đô thị thành các trung tâm thương mại hay siêu thị. Thực tế đã cho thấy, những gì mất đi sẽ khó có thể lấy lại được, hoặc sẽ chỉ có thể lấy lại được với một cái giá rất đắt. ” - TS Greertman “cảnh báo”.
Theo bà, chắc chắn vẫn có những cách để thực hiện các thay đổi tích cực trong khi vẫn tôn trọng các giá trị truyền thống đẹp đẽ.
“Một thành phố sống động vẫn có thể có sự pha trộn của nhịp điệu nhanh và chậm, của các tòa nhà cao tầng và thấp tầng, của các trung tâm thương mại và các khu chợ truyền thống ngoài trời cung cấp các thực phẩm tươi sống và các sản vật địa phương khác. Tất cả sẽ góp phần làm nên sức sống của một thành phố.” - TS Greertman khẳng định.
“Hãy làm sạch thay vì xóa bỏ các chợ để thay thế chúng bằng những siêu thị hay các chuỗi cửa hàng tiện ích lạnh lùng, vô cảm. Để đảm bảo các chợ dân sinh thực hiện chức năng hỗ trợ tốt cho cấu trúc kinh tế xã hội trong thành phố, điều quan trọng là tiếng nói của người bán hàng và khách hàng cần được cơ quan chức năng lắng nghe khi xây dựng các kế hoạch cải tạo lại chợ. Họ cần được tham gia công bằng vào các quá trình thương lượng, quy hoạch, thiết kế và xây dựng lại chợ.” - TS Greertman chân thành góp ý.
Tuệ Khanh (VnMedia)
[ Đọc Tiếp ]

Lũng Đoạn Kinh Tế Nhờ Chế Độ Độc Tài

Người Việt Nam đang sẵn sàng nổi giận khi nói đến Trung Quốc. Tấm lòng phẫn nộ thể hiện trong các cuộc biểu tình ngày Chủ Nhật vừa qua. Nhưng mối lo sợ còn thấy trong những bài viết lan truyền trên mạng. Một nhà báo mạng báo động: “Không còn nghi ngờ gì nữa! Quê Hương đã tràn ngập bóng Trung Quốc!”

Biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội hôm nay ngày 3 tháng Bảy năm 2011. 
Nguồn hình: AFP.

Lo sợ về các thủ đoạn của người Trung Quốc đã trở thành một nỗi ám ảnh trong lòng người Việt trong mấy chục năm qua; tạo nên những câu chuyện gần như huyền thoại. Người Trung Quốc đã sang Việt Nam gạ mua móng trâu, bò với giá rất cao, khiến nhiều người Việt Nam đi chặt chân trâu, bò (của mình hay chặt trộm); gây nên nạn thiếu trâu cầy. Người Trung Quốc phổ biến Ốc Bưu sang Việt Nam, gây thiệt hại mùa màng. Người Trung Quốc thu mua đồng vụn giá cao gây ra nạn ăn cắp đồng, phá mạng lưới dây điện, vân vân. Người Trung Quốc đi mua mèo với giá cao gây ra nạn dịch chuột kinh hoàng. Các tỉnh như Lào Cai, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên… rộ lên “cơn sốt đỉa” vì người Trung Quốc sang mua đỉa với giá cao; nhiều người Việt rủ nhau đi nuôi đỉa! Hội Động vật học Việt Nam đã phải báo động: Nếu nuôi đỉa bừa bãi, không kiểm soát được, đỉa tràn ra môi trường tự nhiên nhiều quá thì hậu họa sẽ không thể lường được. Các chuyện trên không biết chắc là đúng sự thật được bao nhiêu phần trăm; giống như những chuyện Cao Biền trấn yểm long mạch nước ta, chuyện Hoàng Phúc đi tìm đất huyệt, vân vân. Nhưng chúng phát xuất từ trong dân gian, cho thấy mối lo lắng vẫn ám ảnh người Việt từ hàng ngàn năm chưa dứt.

Nhà báo Văn Quang mới phổ biến một bài kể ra những “thủ đoạn của các con buôn người Trung Quốc” lũng đoạn thị trường Việt Nam. Và đây là những chuyện thật, hầu như ai cũng biết, có thể tin được. Thí dụ, chuyện hàng đoàn xe vận tải chở dưa hấu, rau quả sang Trung Quốc bán, nằm la liệt ở cửa khẩu làm mọi thứ thối rữa chỉ còn nước đổ đi. Hay ở thị trấn Mỹ Phước, Đồng Tháp Mười, các thương lái Trung Quốc đến trả giá cao thu mua “khóm” (dứa) không cần đợi khóm chín mà còn xanh cũng mua, miễn to là được. Họ chỉ đặt cọc 10 triệu đồng, đến khi các chủ vựa Việt Nam sẵn sàng hai thùng, 42 tấn trái cây, thì họ biến đâu mất, nhà buôn Việt Nam đành chịu lỗ. Trong khi đó thì các nhà máy chế biến như Công ty Rau quả Tiền Giang không mua được dứa, sản xuất đình trệ.

Lại thêm chuyện mua cua ở Huyện Năm Căn, Cà Mau, có lúc lên đến 60, 70 người Trung Quốc sử dụng chiếu khán du lịch, tạm trú rồi đi thu mua cua; nhiều lái buôn sau đó biến mất. Ở huyện Cái Bè - Tiền Giang, họ cũng đến thu mua chuối khiến nhiều nhà vườn đã đốn bỏ các cây ăn trái khác để trồng chuối; được một thời gian rất ngắn rồi bỏ, các chủ vườn chịu thiệt. Tại Bến Tre thương lái Trung Quốc đã chiếm thị trường thạch dừa; sau đó hạ giá mua xuống chỉ còn một phần ba. Những người sản xuất thạch dừa ở Bến Tre rơi vào thế “sống dở chết dở” vì lỡ đầu tư sản xuất rồi, làm ra hàng hóa không biết bán cho ai. Một thủ đoạn đáng sợ nhất là họ mua gạo Việt Nam, trộn gạo hạng tốt với gạo xấu, rồi đem bán qua nước khác, gọi đó là gạo tốt. Người tiêu dùng các nước sẽ dần dần không còn tín nhiệm gạo Việt Nam nữa.

Ngoài những “thủ đoạn” trên, ai cũng biết còn có chuyện người Trung Quốc sang khai thác bè nuôi cá ở Vũng Rô, Tuy Hòa, ở bên quân cảng Cam Ranh.

Nhưng sở dĩ người Trung Quốc có thể lũng đoạn lập bè đánh cá ở những nơi đó, chính vì chính quyền Việt Nam đã làm ngơ. Nếu có những lái buôn ngoại quốc khác biết những cơ hội làm ăn kiếm lời như vậy, thì chắc ai cũng làm, chứ không phải chỉ có người Trung Quốc. Nhìn vào phản ứng của các cán bộ nhà nước Việt Nam thì thấy thủ phạm chính gây ra các tệ nạn đó là do chế độ độc tài chứ không phải vì lòng tham của các lái buôn.

Như trên báo Người Lao Động viết: “Một căn nhà nhỏ trong hẻm sâu, gia chủ chỉ cần thuê công nhân sửa chữa nhỏ, lập tức có nhân viên của phường, thành phố đến làm việc ngay… còn mấy cái bè nuôi cá to đùng của ông bạn hàng xóm ngang nhiên đem vào đất nhà mình để khai thác, rồi tự tiện đem tàu đến thu hoạch trước mũi chủ nhà; vậy mà vẫn im lặng như tờ. Đến khi báo chí phanh phui thì lại lúng ta lúng túng như gà mắc tóc, rồi thì ông đổ cho bà, bà bảo tại ông...”

Cũng giống như vậy, khi chúng ta coi lại những câu chuyện về thu mua dứa, thu mua cua, hay thạch dừa, thì thấy nguyên nhân chính khiến nhiều người Việt bị lừa gạt và thiệt thòi là vì nước Việt Nam không có luật pháp bảo vệ các hợp đồng thương mại. Đúng ra, chắc phải có luật, nhưng người ta không biết đến, không dùng, và nhà nước không thi hành, có thể vì đồng lõa với gian thương. Trong một quốc gia bình thường, ai ký những hợp đồng mua dứa, mua cua như trên mà không làm đúng sẽ bị luật pháp trừng phạt. Luật lệ đặt ra không phải chỉ bảo vệ các người làm thương mại, mà chính là để bảo vệ chữ Tín trong việc thương mại.

Những người Việt bị lừa, chở rau trái lên đến cửa ải rồi xe nằm ụ đến nước héo úa, thối rữa, lý do chính là họ không được luật pháp bảo vệ. Những người bán cua, bán dứa bị lừa, không thể nói chỉ vì họ dại dột mà lý do chính cũng vì họ không được luật pháp bảo vệ.

Ai lo về luật pháp? Chính quyền của đảng Cộng sản Việt Nam. Tại sao họ không lo thi hành luật pháp, bảo vệ người Việt? Khi được hỏi vì sao chính quyền Việt Nam cho phép hàng ngàn lao động phổ thông Trung Quốc vào nước ta làm những việc như đào đất, phụ hồ quét dọn... mà những việc này lao động Việt Nam không được sử dụng trong lúc nạn thất nghiệp tràn lan, ông Nguyễn Đại Nghĩa thuộc sở lao động thành phố Hải Phòng nói: “Các nhà thầu Trung Quốc nêu lý do không sử dụng lao động Việt Nam là vì tình trạng mất cắp thường xảy ra.”

Nếu có người ăn trộm ăn cắp thì đó là công việc của chính quyền phải điều tra, trừng phạt theo luật lệ. Bao nhiêu cảnh sát công an để làm gì, chỉ lo đi ngăn cản những người biểu tình yêu nước mà không lo chống trộm cắp? Một cán bộ cao cấp như ông Nguyễn Đại Nghĩa mà trả lời như vậy, chứng tỏ chính quyền cộng sản tự nhận mình không lo được việc chống trộm cắp, nên để cho người Trung Quốc họ tự lo lấy. Mà cách của họ lo lấy là đem lao động người Trung Quốc vào cướp công việc làm của người Việt Nam! Nếu bây giờ họ đòi mang cảnh sát, công an của họ vào lo lấy việc an ninh, chắc cũng chịu hay sao? Hay là việc đó đã xẩy ra rồi?

Tóm lại, từ việc lái buôn Trung Quốc đánh lừa dân Việt Nam, đến chuyện các nhà thầu Trung Quốc đem người sang cướp công việc làm của lao động Việt Nam, lý do chính là do chế độ cai trị độc tài đảng trị, các quan chức toàn quyền, không cần đến pháp luật nên cũng không bao giờ lo bảo vệ luật pháp và dùng luật pháp bảo vệ dân. Họ đã quen như vậy từ hơn nửa thế kỷ nay rồi. Như vụ bè nuôi cá ở Tuy Hòa và Cam Ranh, một nhà báo việc trên tờ báo Thanh Niên: “Lại một quả bom nữa được gài. Chỉ thấy tội cho các cấp quản lý của mình là rất ngây thơ.”

Thật ra, chỉ có các nhà báo ngây thơ chứ các quan chức cộng sản không hề ngây thơ. Các cán bộ đã quen nể sợ các “đồng chí anh em vĩ đại” và nay lại được các đồng chí anh em “đấm mõm” no đầy bụng, họ làm cái gì cũng có lợi cả chứ không phải vì ngây thơ! Các quan chức tham nhũng đã tạo địa bàn cho các lái buôn trục lợi. Họ không cần bảo vệ dân bằng pháp luật vì họ không cần được dân bỏ phiếu bầu. Họ chỉ cần trung thành với cấp trên trong băng đảng, là tha hồ làm giầu. Khi nào còn chế độ độc tài thì không thể tránh tình trạng đó!

Chỉ có người dân Việt Nam bị thiệt. Nếu không phải các lái buôn người Trung Quốc vào nước ta dùng các thủ đoạn ma mãnh đánh lừa người Việt, thì với bộ máy chính quyền như hiện nay, sẽ có những lái buôn nước khác. Không cần người Trung Quốc, bất cứ người nước nào thấy có thể mua chuộc được chính quyền nước khác, họ cũng tìm đường lũng đoạn.

Chỉ bao giờ cả hệ thống tham nhũng, thối nát và bất lực này được xóa bỏ thì người Việt mới đỡ bị lừa gạt trắng trợn.
Ngô Nhân Dụng   
[ Đọc Tiếp ]

23 tháng 6, 2012

Nghi Vấn Vương Chiêu Quân

Mỹ nhân lừng lẫy lịch sử Trung Hoa là người Việt?
Nhiều người biết Vương Chiêu Quân là một trong “tứ đại mỹ nhân” của Trung Hoa cổ đại. Nhưng tại một làng quê nhỏ vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam cũng có một Vương Chiêu Quân mà đền thờ còn hiển hiện và thần tích còn ghi rõ.

Mỹ nhân lừng lẫy lịch sử Trung Hoa…
Theo các tài liệu lịch sử chính thống thì Chiêu Quân tên là Vương Tường, cũng được gọi là Vương Chiêu Quân, là con gái một gia đình thường dân ở Nam Quận, nay là huyện Hưng Sơn, tỉnh Hồ Bắc, được tuyển vào nội cung vào khoảng sau năm 40 TCN, đời vua Hán Nguyên Đế.
Năm 33 TCN, thiền vu Hung Nô là Hô Hàn Tà đến kinh đô Trường An để tỏ lòng thần phục nhà Hán. Ông đã được vua Hán Nguyên Đế ban cho 5 cung nữ, một trong số này là Vương Chiêu Quân.
Theo Hậu Hán Thư thì trong suốt thời gian ở hậu cung, Chiêu Quân chưa hề được gặp mặt nhà vua. Đến khi được triệu kiến để chuẩn bị sang Hung Nô, sắc đẹp của nàng đã khiến Hán Nguyên Đế sững sờ muốn đổi ý, nhưng không được.

Tranh vẽ Vương Chiêu Quân
Tranh vẽ Vương Chiêu Quân

Chiêu Quân trở thành vợ Hô Hàn Tà và sinh được 2 trai, 1 gái.
Năm 31 TCN, Hô Hàn Tà chết, Chiêu Quân muốn trở về Trung Quốc, nhưng Hán Thành Đế đã buộc nàng phải theo tập quán nối dây của người Hung Nô và Chiêu Quân trở thành vợ của thiền vu tiếp theo là Phục Chu Luy Nhược Đề, con trai lớn của Hô Hàn Tà với người vợ trước.
Trong cuộc hôn nhân mới này nàng có 2 người con gái. Sau khi chết, Chiêu Quân được táng tại "Thanh Trủng", Nội Mông. 
Xung quanh nhân vật Vương Chiêu Quân, trong dân gian còn tồn tại rất nhiều giai thoại và truyền thuyết. Câu chuyện về Chiêu Quân được gọi Chiêu Quân Cống Hồ đã trở thành một điển tích trong văn học Trung Hoa cổ đại.

… quê ở Thái Bình?
Tôi tình cờ đến làng Diêm Tỉnh, xã Thụy Dũng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình - một làng quê nhỏ ở đồng bằng Bắc Bộ vào đúng ngày hội của làng, 13 tháng 3 Âm lịch.
Tại đây, tôi đã rất bất ngờ khi được cụ Hoàng Ngọc Phin, năm nay 84 tuổi mời đến dự hội với lời giới thiệu: “Hôm nay là ngày sinh của Bà Chúa Vương Chiêu Quân người làng này. Vì vậy, ban tế toàn là nữ và sẽ có màn tế Nữ Quan”. 
Nghĩ đến một sự trùng tên nên tôi hỏi lại: “Có phải Chiêu Quân cống Hồ không? Bà ấy ở Trung Quốc cơ mà” thì cụ Phin khẳng định: “Đúng là Chiêu Quân cống Hồ đấy, nhưng là người làng này”.
Thấy tôi một mực không tin, cụ lấy từ trong tủ ra một cuốn sách mỏng sách bằng giấy bản đã ố vàng, mép nhiều trang đã sờn, dày đặc chữ Nho và bảo: “Bác không tin thì xem đây. Đây là bản Thần tích ghi chép về Bà Chúa mà làng tôi đã lưu giữ mấy trăm năm nay rồi. Ngoài ra còn bản sắc phong từ thời Khải Định nữa”.

Cụ Phin và cuốn Thần tích
Cụ Phin và cuốn Thần tích

Chỉ tay vào dòng chữ trên trang ngoài cùng, cụ rành giọt giải nghĩa luôn: “Ở đây viết rõ là cuốn Thần tích này được chép lại từ năm đầu triều Lê Chiêu Thống (1786). Đến năm Khải Định thứ tám triều Nguyễn (1924) thì sửa lại”.
Theo Thần tích thì vào thời thuộc Hán, ở “phủ Hạ bát đụn tang” (tám cái gò cao nổi lên ở vùng Hạ - người dân Diêm Tỉnh coi quê mình nằm trong vùng đó) có ông Vương Thức người nước Nam, thời trẻ học rộng biết nhiều được cử làm Kim Thành thái thú, sau về Lâm Ấp, có vợ là Phạm Thị Dụ.
Đêm 12 tháng 3, bà nằm mộng thấy con rắn cuốn, sau sinh quý nữ. Lúc sinh ra, hương thơm bay ngào ngạt, có 3 con rồng xuất hiện trên bầu trời. Cũng ngày đó, ở kinh đô có 3 tiếng động lớn kinh động sơn hà, hàng đàn muông thú kéo về. Vương Thức đặt tên con là Vương Tường. Lớn lên đóng cửa học hành, môn gì cũng giỏi. Năm 14 tuổi được coi là bậc “quốc sắc thiên hương”, không ai so được.
Đời Hán đế, ngày 8 tháng 1, Hoàng đế nằm mơ thấy một ông tiên cho biết ở phía Nam xuất hiện một người con gái kỳ tài, có một không hai (hộ quốc tý dân, trung trinh vô nhị) tại nhà quan Thái thú. Sáng hôm sau vua hội bá quan kể lại giấc mơ. Triều đình thảo luận rồi cử Diên Thọ đến tận nơi xem xét, họa lại chân dung đem về báo cáo.
Diên Thọ đến gặp, Vương Tường không tiếp mà cứ ngồi đọc sách. Sau đó tự mình vẽ chân dung rồi gửi cho Diên Thọ mang về. Nhận được chân dung, Hán đế triệu Vương Thức về gặp và hậu thưởng cho các bậc cao niên. Sau đó lệnh đưa Vương Tường vào cung, đặt tên là Chiêu Quân.
Diên Thọ bực tức vì nàng đã lạnh nhạt với mình nên đưa bức tranh vẽ Chiêu Quân ngầm giới thiệu với vua Hồ. Vua Hồ đòi Hán đế phải gả cho người trong tranh. Vì bang giao hai nước, Hán đế phải đồng ý.
Sang Hồ, Chiêu Quân có một cái áo bảo vệ nên Hồ vương không thể gần gũi được. Nàng bảo phải kiên trì, 16 năm sau mới được gần gũi. Một hôm, Chiêu Quân yêu cầu xây một cây cầu nổi. Cầu xây xong, rất nhiều cá và rồng hiện về. Có một con rồng vàng dài hơn một trượng hiện ra, nàng liền theo đó đi mất.

Sắc phong
Sắc phong

Năm Vĩnh Hựu (triều Lê Ý Tông, 1735- 1740), Chiêu Quân được phong “Hiển linh tạ thuận thiên vi thái tỷ công chúa”, được thờ ở 12 đền trong “Bát đụn tang”. Thần tích còn ghi rõ bà sinh ngày 12 tháng 3, mất ngày 13 tháng 12. Vào hai ngày này, người dân thôn Diêm Tỉnh tổ chức Lễ hội tại đền Bà Chúa.

Vùng đất mỹ nhân một thuở
Theo lời cụ Phin thì đền Bà Chúa đã có từ xưa lắm rồi. Hàng năm hội đền được tổ chức rất trang nghiêm, thành kính. Anh Hoàng Ngọc Lễ, con trai cụ Phin còn cho biết: “Ngày trước, ở sân đền có một cây đa to lắm, phải đến hàng chục người ôm. Sau này, cây bị sét đánh chết mất. Ngày trước, con gái làng này đẹp nổi tiếng cả vùng. Bây giờ thì không được như xưa nữa”. 

Đền Bà Chúa
Đền Bà Chúa

Khi tôi cùng cụ Phin ra đền, nghi lễ dâng hương đang diễn ra. Điều đặc biệt ở lễ hội này là trừ đoàn đại biểu chính quyền và các cụ phụ lão là có nam giới, còn lại tất cả những người vào làm lễ dâng hương đều là nữ.
Tôi tranh thủ quan sát ngôi đền, tuy mới được tu tạo song các đường nét đều tinh xảo và cổ kính. Trên nóc đền là hình lưỡng long chầu nguyệt, hiên trước của đền là 3 chữ “Tạc quyết linh”- nghĩa là nơi linh thiêng. Trên hai cột chính trước cửa là đôi câu đối bằng chữ Hán: “Nam thổ giáng sinh phù đế mộng; Bắc phương tuyệt sắc hiển thần cơ”, theo cụ Phin nghĩa là: “Sinh ra tại nước Nam ứng với giấc mộng của nhà vua; Là bậc tuyệt sắc ở xứ Bắc hiển hiện do thần linh”.

Lễ dâng hương tại đền Bà Chúa
Lễ dâng hương tại đền Bà Chúa

Trong đền, nổi bật trên ban thờ là bức đại tự có 4 chữ “Quốc sắc thiên hương”  và mấy đôi câu đối nữa. Nội dung các câu đối này đều ca ngợi vẻ đẹp, tài năng và sự hiển linh của Bà Chúa. Trong đó có đôi câu đối chỉ rõ dân Diêm Tỉnh phải thường xuyên cúng lễ vào các dịp tuần tiết: “Diêm hải ba thương tình đại tiết; Tỉnh điền địa di tự thường nghi”.
Trong hậu cung, bên trong khám thờ che rèm kín là bức tượng của Bà Chúa. Không biết tượng được tạc bao giờ song vẫn toát lên vẻ đẹp tinh khôi, cao quý của một trang tuyệt sắc. 

Hậu duệ của Bà Chúa
Hậu duệ của Bà Chúa

Đúng 9 giờ, màn tế “Nữ Quan”, nghi thức chính của lễ hội bắt đầu. Trong tiếng nhạc réo rắt, 17 cô gái trong trang phục truyền thống nhiều màu sắc sắp thành hai hàng, do một nữ quan dẫn đầu trang trọng tiến vào. Đắm mình trong tiếng nhạc, lời ca và không khí tưng bừng, tôi cứ bâng khuâng tự hỏi: “Phải chăng có thật một Vương Chiêu Quân ở xứ này?”
Nguyễn Khắc Nguyệt
(Bee.net.vn)
[ Đọc Tiếp ]

20 tháng 6, 2012

Người Dân Việt Gian Nan Vì Trung Quốc

Cam Ranh: Bè cá của chủ nhân Trung Quốc đã tồn
tại trên vịnh Cam Ranh trên 10 năm - thuysanvietnam.vn
Trong giai đoạn hiện nay, khi tâm trạng của người dân Việt yêu nước chưa hết khắc khoải, bất an cho vận nước do rừng đầu nguồn trọng yếu của Tổ Quốc bị người Trung Quốc thuê hàng loạt và dài hạn, xương sống của quê hương bị họ án ngữ theo sự mời gọi của “chính sách lớn của đảng và nhà nước” cho khai thác bô xít Tây Nguyên, nhiều công trình trọng yếu bị người Trung Quốc trúng thầu, nền kinh tế nước nhà bị họ lũng đoạn, biển cả của tổ tiên bị Trung Quốc lấn chiếm…, thì mới đây, người dân lại càng bất an trước tình trạng người Phương Bắc dưới dạng “doanh nhân” tới “an nhiên” “nuôi cá” ở Vũng Rô, thậm chí ngay tại cảng chiến lược trọng yếu Cam Ranh, đó là chưa kể mới đây nhất có tin “Hải Phòng tràn ngập lao động Trung Quốc”!


Người Tàu trên đất Việt
Qua bài tựa đề “Gian nan với chú Ba Tàu”, nhà văn Trần Khải lưu ý:
Trong khi Việt Nam lăng ba chi bộ, đánh võng giữa Biển Đông, thì lặng lẽ anh Tàu đưa dân tràn ngập, mở mặt trận biển người ở Hải Phòng, cấy du kích biển ở ven cảng Cam Ranh, cửa biển Vũng Rô, hay vùng Côn Đảo... Anh Tàu muốn gì? Có phải muốn Việt Nam tung hô vạn tuế Bắc Vương? Thì đã tung hô rồi.
Tình trạng “anh Tàu đưa dân tràn ngập” quê hương Việt Nam đó hẳn không tránh khỏi phản ứng mạnh mẽ của người dân Việt  biết nghĩ tới quê hương. Có lẽ đây là lý do khiến độc giả của báo Đất Việt, có tên Nguyễn An Liên, báo động rằng “Chẳng bao lâu nữa, toàn bộ 63 tỉnh, thành trên cả nước đều có bóng dáng của bọn giặc Tàu”.
Hải Phòng: Đường Đông Phương ở Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng. Ở công trình này, tên các con đường nội bộ đều do nhà thầu Trung Quốc đặt - Ảnh: C.V.K.
Hải Phòng: Đường Đông Phương ở Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng. Ở công trình này, tên các con đường nội bộ đều do nhà thầu Trung Quốc đặt - Ảnh: C.V.K.
Một độc giả khác tên Minh Hối Hạn bày tỏ bất bình rằng “ Từ Hải Phòng, Quảng Ninh, Bình Dương, Đắk Nông, Vũng Tàu… cho đến Khánh Hoà, Cam Ranh, chính quyền ở đâu cũng nói ‘không quản lý được’. Ai chủ trương bảo kê?”.
Theo tác giả Chiều Thu, thì bây giờ “chính phủ thả lỏng cho các quan địa phương: địa phương nào thì chính quyền nơi ấy quản lý. Cứ tiền vào là OK. Bọn Trung Quốc nó nằm thóp các quan Việt Nam từ trên xuống dưới chỉ hám tiền nên…người Trung Quốc tràn ngập Việt Nam…Tiền lên ngôi, đạo đức xuống cấp, con người vô cảm với đồng loại, với đất nước …!
Trong khi Việt Nam lăng ba vi bộ, đánh võng giữa Biển Đông, thì lặng lẽ anh Tàu đưa dân tràn ngập, mở mặt trận biển người ở Hải Phòng, cấy du kích biển ở ven cảng Cam Ranh, cửa biển Vũng Rô, hay vùng Côn Đảo... Anh Tàu muốn gì?
nhà văn Trần Khải
Một Cựu Đảng Viên nêu lên câu hỏi rằng “có bao nhiêu sư đoàn quân Tầu núp bóng công nhân hiện đang có mặt trên khắp đất nước ta?”
Vẫn theo độc giả này thì “bọn quan tham từ chóp bu cho đến tép riu chỉ mãi mê tập trung theo dõi, đàn áp những người yêu nước và nông dân và tranh thủ vơ vét cho đầy túi tham nên đã mặc sức cho bọn Tầu hoành hành như ở chỗ không chủ”.
Nhà văn Trần Khải trong bài “Gian nan với chú ba Tàu” vừa nói nhận thấy vấn đề hiện “không dễ giải quyết” khi tình hình trở nên đáng ngại “từ biển tới rừng, từ hàng lậu tới người lậu”, và ông nhấn mạnh rằng: “Chỉ tới thời này (Việt Nam) mới sáng mắt ra trước tình hữu nghị 2 nước đời đời khả vấn như thế”. Tác giả nhân tiện nêu lên câu hỏi:
Ai bảo anh Tàu có văn hóa? May ra chỉ với Đài Loan là Bắc Kinh nhân nhượng. Anh Tàu không hề như Hà Nội, luôn luôn giở trò kích động 3 dòng thác cách mạng để xúi Hà Nội đánh phá, triệt hạ Sài Gòn...Nhưng Bắc Kinh luôn luôn nhìn Đài Bắc như tình anh xem cốt nhục, không chơi trò tự đẩy dân mình Sinh Bắc Tử Nam làm chi.

“Giặc ngoài” chẳng thấy, chỉ thấy “thù trong”
Còn blogger Hà Sĩ Phu lại “Ước làm người Tàu trên đất Việt!”, khi ông nêu lên những câu hỏi xem chừng như chua chát nhưng rất chí lý trước cảnh nhiễu nhương “một tư nhân Trung Quốc đã ‘chiếm lĩnh truyền hình cáp Quy Nhơn’”. Đó là “ Sự nhạy cảm chính trị bậc thầy của một Đảng Cộng sản biến đâu mất, hay đã dùng để ứng phó với dân chúng hết rồi ? “Giặc ngoài” chẳng thấy, chỉ thấy “thù trong” nơi nhân dân ư?”
TS Hà Sĩ Phu nhân tiện lưu ý rằng “một đầu óc đui mù cũng phải bật lên hai chữ: Trung Quốc” qua một loạt các sự kiện như vụ bauxite Tây Nguyên, tình trạng cho : “thuê” đất rừng ở vùng biên giới nhạy cảm, cho “doanh nhân” Trung Quốc nuôi cá ở cảng Cam Ranh…TS Hà Sĩ Phu nêu ngay câu hỏi “ Mà Trung Quốc là ai?”, rồi tác giả nhắc lại rằng “chính Đảng CS Việt Nam đã xác định đây là “kẻ thù truyền kiếp” chưa bao giờ từ bỏ âm mưu thôn tính nước ta! Điều này cả thế giới đều biết, người Việt Nam nào cũng biết, chẳng lẽ chỉ những người lãnh đạo Việt Nam hôm nay lại bỗng dưng không biết ?” TS Hà Sĩ Phu nhấn mạnh rằng giới cầm quyền không thể không biết. Và ông nói tiếp:
Nhưng nếu biết sao không phổ biến tinh thần cảnh giác ấy đến toàn quân, toàn dân, mà lại chủ trương thủ tiêu tinh thần cảnh giác ái quốc bằng 16 chữ “vàng dởm”, sao cứ để những hiện tượng nguy hiểm đến anninh quốc gia xúc tiến ngày một nhiều thêm, cứ như thể hai anh lái buôn (nội xâm và ngoại xâm) đã thống nhất một phương án “diễn biến hòa bình, gậm nhấm hòa bình, thôn tính hòa bình, tự diễn biến, tự dâng hiến” trên hình hài đau thương của Tổ quốc vậy?

Sinh viên biểu tinh chống Trung Quốc bị đàn áp thẳng tay. AFP
Sinh viên biểu tinh chống Trung Quốc bị đàn áp thẳng tay. AFP
Thương binh nặng đâu, nhân dân tự phát đâu, phải tiến vào những nơi đã để cho người Tàu được trá hình “rải quân” trên những nơi trọng yếu, chứ sao lại ngoặt sang tấn công một ông Tiến sĩ Hán nôm biết bênh dân nghèo, tấn công một đảng viên 82 tuổi quyết dành quãng đời còn lại cho sự Minh bạch của đất nước? Đây chính là mối lo “chệch hướng” chứ không gì khác. Chuyện chệch hướng này là vô tình hay chủ tâm?
TS Hà Sĩ Phu lưu ý rằng người Tàu tự do quá, ngang nhiên quá khi họ tới Việt Nam lúc nào, trốn biệt tăm lúc nào giới hữu trách không ai biết. Như vậy, người Tàu quả là “công dân loại 1” ngay trên quê hương Việt Nam trong khi người Việt bản xứ chỉ là “công dân loại 2”. Như vậy “ai mới là chủ nhân “của đất nước này?
Qua bài “Ai nguy hiểm hơn ai ?”, blogger Nguyễn Hưng Quốc trình bày 3 “ý nghĩa đáng chú ý” về xã hội, kinh tế và quốc phòng liên quan đến sự hiện diện của người Tàu “tràn ngập” quê hương Việt Nam. TS Nguyễn Hưng Quốc giải thích rằng về phương diện xã hội thì đa số người Trung Quốc di trú tới Việt Nam “không đúng quy định của luật pháp”; về mặt kinh tế thì “công việc của họ hoàn toàn là lậu”; nhưng phương diện quốc phòng mới nghiêm trọng nhất khi người Tàu có mặt ngay tại địa điểm nhạy cảm như ở quân cảng Cam Ranh khiến có thể dẫn tới hậu quả khôn lường cho Việt Nam.
Tác giả nêu lên câu hỏi rằng tại sao những người Trung Quốc đến làm lậu ở Cam Ranh lâu đến vậy mà chính quyền Việt Nam không phát hiện được ? Chỉ đến khi dân chúng tố cáo, một số cơ quan truyền thông xôn xao thì giới cầm quyền mới chịu ‘chỉ đạo” ‘rà soát” tình hình ? Câu trả lời mà đa số đều nhắc tới là vì tiền, dù vấn đề có nguy hại đến an ninh quốc gia. Vẫn theo TS Nguyễn Hưng Quốc:
Thương binh nặng đâu, nhân dân tự phát đâu, phải tiến vào những nơi đã để cho người Tàu được trá hình “rải quân” trên những nơi trọng yếu, chứ sao lại ngoặt sang tấn công một ông Tiến sĩ Hán nôm biết bênh dân nghèo, tấn công một đảng viên 82 tuổi quyết dành quãng đời còn lại cho sự Minh bạch của đất nước?
TS Hà Sĩ Phu
Đáng nói hơn nữa là những người Trung Quốc này làm gì ở Việt Nam? Nếu họ chỉ làm lậu không thì về phương diện kinh tế và xã hội, hậu quả đã rất đáng lo ngại. Còn nếu họ làm thêm việc gì khác nữa thì hậu quả thật không thể lường hết được. Nhất là khi tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc không còn kìm giữ được nữa. Trong trường hợp ấy, rõ ràng là Trung Quốc đã có sẵn một lực lượng nằm vùng khổng lồ.
Có khi không cần đánh, họ cũng thắng. Bất cứ người nào có chút lương tri cũng đều biết điều đó. Nhưng tại sao chính quyền Việt Nam có vẻ như không biết? Tại sao họ vẫn dửng dưng? Nó vượt ra ngoài khả năng quản lý của họ ư? Họ thiếu nhân sự ư? Nhất định là không phải. Tất cả những người có chút tên tuổi từng tham gia biểu tình đều được ba, bốn công an cặp kè như vậy.

Công nhân Trung Quốc làm việc trên công trường khai thác bauxite Tân Rai - Ảnh: Tuổi Trẻ.
Công nhân Trung Quốc làm việc trên công trường khai thác bauxite Tân Rai - Ảnh: Tuổi Trẻ.
Thời ấy, người ta gọi đó là hiện tượng “người mọc đuôi”. Tại sao với các trí thức được họ đào tạo, có người là đảng viên của họ, họ lại sợ đến như vậy mà với người Trung Quốc thì không? Tại sao? Thực tình, tôi không hiểu. Không thể hiểu.

Qua bài “Người Trung Quốc không mong gì hơn thế”, tác giả Ngô Văn Lang không quên lưu ý rằng Trung Quốc quyết định đây là thời cơ ngàn vàng của họ, và họ đã chuẩn bị “rất bài bản, rất cẩn thận cho quá trình thôn tính Việt Nam”, mà mở đầu là thôn tính từng phần qua những hành động như thuê rừng đầu nguồn, khai thác bô-xít Tây Nguyên, đầu tư nhiều công trình trọng yếu, lo lót để được nuôi cá ngay tại nơi trọng yếu chiến lược. Tác giả báo động:
Đây là âm mưu vô cùng thâm độc trên con đường thôn tính Việt Nam, thế mà Trung ương và địa phương làm ngơ, không có động thái gì để đuổi họ ra khỏi vịnh biển chiến lược quốc gia này. Thôn tính thị trường Việt Nam bằng hàng hóa Trung Quốc, và chủ yếu là hàng hóa chất lượng kém để đầu độc người Việt Nam, và với mục đích vô hiệu hóa nền sản xuất và kinh doanh của Việt Nam.
Trung Quốc hiểu rằng hàng hóa không chỉ là hàng hóa, mà hàng hóa còn là văn hóa. Người Việt Nam hàng ngày dùng đồ Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng một cách từ từ nhưng sâu đậm bởi văn hóa Trung Quốc. Trung Quốc thôn tính truyền hình Việt Nam bằng vô số phim Trung Quốc, và đã thành công kinh khủng khi khiến cho thanh niên Việt Nam thuộc sử Trung Quốc hơn là sử Việt NamCâu hỏi mà người Việt Nam phải đặt ra là: “Tại sao Trung Quốc lại thành công được như vậy?”. Nếu mỗi người Việt Nam đều đặt câu hỏi đó thì Trung Quốc có tài giỏi đến mấy cũng không thành công được.

2012-06-18
[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn