Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



28 tháng 3, 2012

Giới Truyền Thông Việt Ngữ Không Nhầm, Xin Chớ Vu Oan! (2)

Nguyên văn lời giải thích cụm từ Revolutions of 1848 trong bài viết ở trang mạng Wikipedia là như thế này: "Revolutions of 1848, sometimes referred to as the Spring of Nations or Springtime of the Peoples." Như đã được trình bày ở trên: những cuộc cách mạng này không những có tên là Spring of Nations, Springtime of Peoples mà còn là Springtime of Nations và chữ springspringtime trong ba cụm từ này đều chỉ có nghĩa là mùa xuân. Nhưng khác với đặc tính mơ hồ lưỡng khả của chữ spring, tức là có thể có nghĩa là mùa xuân hoặc có nghĩa là nhún nhảy, bật dậy (và được Lưu Nguyễn Đạt cường điệu hóa thành cuộc nổi dậy của quần chúng), chữ springtime chỉ có một nghĩa là mùa xuân. Lợi dụng đặc tính này, Lưu Nguyễn Đạt đã tự tiện bỏ đi cụm từ Springtime of the Peoples trong nguyên văn và diễn giải một cách phiến diện rằng: Revolutions of 1848, còn được gọi là “the Spring of Nations” hay là những cuộc nổi dậy của giới tiểu tư sản và lao động .... Đây là lối trích dẫn bằng chứng theo chiều hướng chọn lọc và thiếu trung thực: Ngài tiến sĩ chỉ trình làng cụm từ Spring of Nations (bằng chứng có lợi cho mình vì spring có ý nghĩa nước đôi và như vậy có thể suy diễn theo chiều hướng bật dậy hay nổi dậy) và ém nhẹm cụm từ Springtime of the Peoples (bằng chứng bất lợi cho mình vì springtime chỉ có nghĩa là mùa xuân và như vậy có tác dụng hủy hoại luận điểm chính của bài viết).

Beijing Spring được chính người Hoa (tại Trung Quốc cũng như Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và các nơi khác trên thế giới) dịch là 北京之春 (Bắc Kinh Chi Xuân) tức là Mùa Xuân Bắc Kinh. Trang mạng Wikipedia Hoa ngữ miêu tả Beijing Spring như sau:
北京之春是中國於1977年—1978年間的一個短暫政治自由時期,其名稱來自1968年捷克斯洛伐克的布拉格之春政治運動。10
Bắc Kinh Chi Xuân là một thời kỳ tự do chính trị ngắn ngủi từ năm 1977—1978 tại Trung Quốc, danh xưng này xuất xứ từ cuộc vận động chính trị của Mùa Xuân Praha tại Tiệp Khắc vào năm 1968. 
Tương tự, người Nhật, người Đức và người Pháp cũng dịch sang tiếng nước họ theo ý nghĩa mùa xuân: 北京の春, Pekinger Frühling, và Printemps de Pékin. Một hiện thực lịch sử cần phải xác minh là chẳng có một cuộc nổi dậy của quần chúng nào xảy ra giữa Mùa Xuân Bắc Kinh cả. Trong giai đoạn ngắn ngủi này đảng cộng sản và nhà nước Trung Quốc chỉ nới lỏng việc kiểm soát quyền tự do ngôn luận để người dân có thể công khai phê phán những sai lầm trong quá khứ của chính quyền Mao và cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Hoạt động chính của người dân (đại đa số là sinh viên, học sinh và giới trí thức) là được phép làm Đại Tự Báo, tức là viết ý kiến của mình trên giấy (bằng chữ lớn để độc giả dễ đọc) rồi dán vào những bức tường mang tên Tường Dân Chủ (đại bộ phận tập trung trên con đường mang tên Tây Đan tại Bắc Kinh nên sự kiện này còn được gọi là Vận Động Dân Chủ Tây Đan). Có người cho rằng đây chỉ là thủ đoạn chính trị của Đặng Tiểu Bình: Phát động phong trào phê bình Mao để tạo uy tín, lấy lòng dân và đả kích phe Hoa Quốc Phong, nhưng khi đã giành được quyền lực và thấy có người muốn "lạm dụng" quyền tự do này để chỉ trích mình thì lại trở tay bịt miệng họ. Giữa năm 1979, chính quyền Đặng cho ban hành những điều khoản hình sự khắt khe như tội phản cách mạng và tội gây nguy hại cho an ninh quốc gia nhằm ngăn chận mọi mầm mống có thể tái sinh của Tường Dân Chủ và Đại Tự Báo. Bởi thế nếu dịch Beijing Spring theo chiều hướng nghĩa đen là Cuộc Nổi Dậy Tại/Của Nhân Dân Bắc Kinh là vượt quá sự thực một cách phi lý.

Nguyên văn trong bài Wikipedia "Beijing Spring a period of political liberalization in the People's Republic of China in the late 1970s" bị Lưu Nguyễn Đạt dịch thành: "Beijing Spring hay giai đoạn chính biến nhân dân giải phóng tại Trung Quốc cuối thập niên 1970s". Lời dịch không những vụng về, thiếu lưu loát mà xét kỹ còn thiếu tính chính xác, không phù hợp với thực tế. Tôi chỉ đề cập một điểm chính: political liberalization có nghĩa là tự do hóa chính trị trong khi đó political liberation mới có nghĩa là giải phóng chính trị, và trong trường hợp này không thể xem là đồng nghĩa.

Beirut Spring, Lebanon SpringCedar Spring là những tên gọi khác của Cedar Revolution. Cây tuyết tùng (cedar) là một vật biểu tượng trên quốc kỳ và quốc huy của Lebanon. Mùa Xuân Beirut hay Mùa Xuân Tuyết Tùng đánh dấu thời kỳ nhân dân Lebanon nổi dậy biểu tình sau khi Thủ Tướng Rafik Hariri bị ám sát vào ngày 14 tháng 2, 2005 để phản đối sự chiếm đóng quân sự của Syria trên đất nước họ từ năm 1976 và đòi hỏi chính quyền thân Syria cải cách dân chủ hoặc hạ đài. Một danh xưng khác ít được biết đến hơn là March 14 (14 Tháng Ba), được dùng để biểu thị đỉnh điểm tượng trưng cho cuộc cách mạng này khi tổng số người biểu tình vượt quá mức 1 triệu. Như sẽ được giải thích ở phần dưới, Mùa Xuân Beirut hay Mùa Xuân Tuyết Tùng là một bộ phận của Mùa Xuân Ả Rập 2005 và như vậy cũng được dùng theo chiều hướng ẩn dụ mùa xuân. Trong những bằng chứng khác, chẳng hạn như lời giải thích ở đề mục Cedar Revolution của Wikipedia, danh xưng Cedar Spring cũng được dịch sang tiếng bản xứ theo ý nghĩa mùa xuân:
Other names include the Cedar Spring (Arabic: ربيع الأرز - Rabi' el Arz), in reference to the prevailing season when protests first broke out, and also as an allusion to famous freedom and independence movements like the Prague Spring and Damascus Spring.11
Những tên gọi khác bao gồm Mùa Xuân Tuyết Tùng (tiếng Ả Rập là: ربيع الأرز - Rabi' el Arz), để nhắc đến tiết mùa đang xảy ra đương thời khi những cuộc phản đối bắt đầu bùng nổ, và cũng là một cách nói bóng gió để tạo quy chiếu với những phong trào độc lập và tự do nổi tiếng như Mùa Xuân Praha và Mùa Xuân Damas.
Croatian Spring được chính người Crô-át dịch sang tiếng mẹ đẻ của họ là Hrvatsko proljeće mà trong đó Hrvatsko có nghĩa là thuộc về Crô-át và proljecé là mùa xuân (chữ đồng nghĩa với springtime trong tiếng Anh). Tương tự, người Đức, người Pháp, người Tây Ban Nha cũng dịch là Mùa Xuân Crô-át: Kroatischer Frühling, Printemps croate, Primavera de Praga. Croatian Spring là tên gọi thời kỳ đấu tranh của người Crô-át vào năm 1971-1972 nhằm phản đối chính sách đồng hóa ngôn ngữ của chính quyền Tito và đòi hỏi nới rộng quyền lợi chính trị và kinh tế cũng như duy trì dân tộc tính của người Crô-át trong liên bang Nam Tư. Xin thưa cùng ngài tiến sĩ, Yugoslavia là Nam Tư chứ không phải là Tiệp Khắc đâu nhé.

Damascus Spring được dịch sang tiếng Ả Rập là ربيع دمشق, tiếng Pháp là Printemps de Damas, và tiếng Đức là Damaszener Frühling: tất cả đều chỉ có nghĩa là Mùa Xuân Damas. Hay nói như lời một nhà báo tại Algérie:
Certains l'appellent « le printemps de Damas », d'autres « le printemps de la Syrie », établissant une sorte de parallélisme avec les printemps de Prague, de Varsovie et de Beijing.12 
Một số người gọi nó là "mùa xuân Damas", những kẻ khác mệnh danh là "mùa xuân Syrie", tạo nên một mối tương đồng với những mùa xuân Praha, Warswava và Bắc Kinh.
Trong Mùa Xuân Damas cũng không có một cuộc biểu tình hay nổi dậy của quần chúng nào cả, đây chỉ là một giai đoạn thảo luận chính trị và xã hội tích cực trong giới xã hội dân sự tại Syria. Danh xưng này được giải thích trên Wikipedia như sau:
The Damascus Spring was a period of intense political and social debate in Syria which started after the death of President Hafiz al-Asad in June 2000 and continued to some degree until autumn 2001, when most of the activities associated with it were suppressed by the government.13
Mùa Xuân Damas là một giai đoạn tranh luận chính trị và xã hội sôi nổi tại Syria, bắt đầu sau cái chết của Tổng Thống Hafiz al-Asad vào tháng 6 năm 2000 và, trên một mức độ nào đó, tiếp tục cho đến mùa thu năm 2001, khi hầu hết những hoạt động liên quan đến chuyện này đều bị chính phủ ngăn chận.
Cũng theo Wikipedia, đặc trưng của Mùa Xuân Damas là sự ra đời của những muntadāt tức là những cuộc hội họp kiểu xa-lông hay diễn đàn tại tư gia của những người có cùng tâm chí để thảo luận những vấn đề chính trị và xã hội. Mùa Xuân Damas được đánh dấu bằng hai tài liệu chính trị quan trọng. Tuyên Ngôn 99 (do 99 người trong giới chuyên nghiệp, nghệ sĩ, và trí thức ký tên) yêu cầu chính quyền tiến hành cải cách hành chính, kinh tế, và luật pháp, nhưng không trực tiếp chỉ trích Tổng Thống Bashar al-Asad và đảng Ba'th. Tuyên Ngôn 99 được công bố vào tháng 9 năm 2000 và được xem là một nhân tố khởi động Mùa Xuân Damas. Tuyên Ngôn 1.000 (do 1.000 người trong giới chuyên nghiệp, nghệ sĩ, và trí thức ký tên và được công bố vào tháng giêng năm 2001) cũng lặp lại những yêu cầu cải tổ của Tuyên Ngôn 99 nhưng tiến xa hơn với đòi hỏi thay thế sự thống trị độc đảng bằng thể chế dân chủ đa đảng. Yêu cầu "quá trớn" này của Tuyên Ngôn 1.000 đã khiến giới lãnh đạo chính quyền Syria lo ngại và quyết định đàn áp thẳng tay mọi hoạt động của giới xã hội dân sự, dẫn đến sự kết thúc của Mùa Xuân Damas vào mùa thu năm đó.

Harare Spring miêu tả thời kỳ có nhiều triển vọng chính trị lạc quan sau khi lãnh tụ phong trào dân chủ đối lập Morgan Tsvangirai và Tổng Thống Robert Mugabe ký kết một hiệp ước vào tháng 9 năm 2008 để hai bên cùng chia sẻ quyền lực bằng cách thành lập chính phủ liên minh, và hợp tác để thực thi những cải cách mà hai bên đã đồng thuận trong hợp ước này. Đây là một giai đoạn đánh dấu sự chấm dứt bạo loạn và bạo động đã kéo dài nhiều năm trước đó và để báo hiệu một tương lai chính trị sáng sủa hơn. Bởi vậy nếu dịch là Cuộc Nổi Dậy Tại Harare là không hợp lý. Chỉ có ý nghĩa ẩn dụ của mùa xuân tràn trề hy vọng mới chính xác và thích hợp. Đáng tiếc là chỉ sau hai năm, niềm lạc quan chính trị này đã bắt đầu nhanh chóng phai tàn, chủ yếu là vì sự ngoan cố và tráo trở của Mugabe, chẳng hạn như đánh giá của ký giả Constantine Chimakure:
The country failed to inch forward in 2011, going backwards instead. The gains made in the first two years of the loose coalition government — the Harare Spring — began to be eroded as the contest for political turf intensified.14 
Đất nước này đã thất bại trong việc tiến dần về phía trước trong năm 2011, ngược lại nó đã thoái bộ. Những lợi ích gặt hái được trong hai năm đầu của chính phủ liên minh lỏng lẻo đó — tức là Mùa Xuân Harare — đã bắt đầu bị xói mòn khi cuộc đấu tranh giành địa bàn chính trị gia tăng cường độ.
Kathmandu Spring cũng được dùng theo chiều hướng mùa xuân để ám chỉ những phong trào dân chủ trong những năm 1990, 2006, và 2011 tại Kathmandu. Ở Nepal mùa xuân có một ý nghĩa chính trị đặc biệt vì nó tượng trưng cho đỉnh điểm của phe cách mạng, như lời của nhà báo nổi tiếng Kanat Mani Dixit: "Spring is the 'season of discontent' when Nepal sees political upheaval..." ("Xuân là 'mùa bất mãn' khi Nepal chứng kiến biến động chính trị..."). Kathmandu Spring cũng dược dịch ra tiếng Pháp là Printemps de Kathmandou, chẳng hạn như trong nhận định sau đây của ký giả kiêm sử gia Claude Arpi: 
En 1990, en effet durant le Printemps de Kathmandou, des violentes émeutes populaires ont forcé le roi Birendra à promulguer une nouvelle constitution.15
Vào năm 1990, trong Mùa Xuân Kathmandou những cuộc bạo động của quần chúng trên thực tế đã bắt buộc vua Birenda phải ban hành một hiến pháp mới. 
Prague Spring được dịch sang tiếng Czech là Pražské jaro và tiếng Slovak là Pražská jar mà trong đó cả jaro lẫn jar đều chỉ có nghĩa là mùa xuân, theo Wikipedia tiếng Czech16 cũng như tiếng Anh.17 Tương tự như Mùa Xuân Bắc Kinh, trong suốt Mùa Xuân Praha này cũng chẳng có một cuộc nổi dậy của nhân dân nào cả. Ngược lại, đây chỉ là một chương trình cải cách kinh tế và chính trị theo chiều hướng từ trên xuống dưới do Alexander Dubček phát động sau khi đắc cử chức Bí Thư Thứ Nhất của Đảng Cộng Sản Tiệp Khắc. Những chính sách chủ yếu của chương trình cải cách được mệnh danh là "chủ nghĩa xã hội với một khuôn mặt nhân tính" này bao gồm: (1) phân hóa bộ phận nền kinh tế tập trung, (2) phân hóa quyền hành chính, (3) tái tổ chức Tiệp Khắc thành một liên bang, và (4) nới rộng quyền tự do của công dân trong một số lãnh vực như ngôn luận, truyền thông, và du lịch. Trong nhiều thứ tiếng khác, chẳng hạn như Đức, Pháp, Hoa, Ý, Tây Ban Nha, Prague Spring cũng được dịch là Mùa Xuân Praha: Prager Frühling, Printemps de Prague, 布拉格之春, Primavera di Praga, Primavera de Praga (primavera trong tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha đều có nghĩa là mùa xuân).

Riyad Spring thực sự chỉ ám chỉ sự lên tiếng của gới trí thức có khuynh hướng cải cách tại Saudi Arabia vào đầu năm 2003 nhằm đòi hỏi nới rộng dân quyền và cải tổ thể chế. Hoạt động chính của họ là phát biểu luận thuật và phê phán qua các phương tiện truyền thông đại chúng, chẳng hạn như đăng tải bài viết trên báo Al-Watan. Trên thực tế, trong giai đoạn này cũng chẳng có một cuộc nổi dậy của quần chúng nào cả. Từ Điển Bách Khoa Larousse miêu tả le printemps de Riyad như sau:
... le début de l'année 2003 est marqué par une accélération de la vie politique – le « printemps de Riyad » –, un mouvement de réforme constitué d'intellectuels islamistes et libéraux, sunnites et chiites, appelant à une ouverture du système politique et réclamant la tenue d'élections, une monarchie constitutionnelle, un État de droit, une justice indépendante.18
... đầu năm 2003 được đánh dấu bằng sự tăng tốc của đời sống chính trị "Mùa Xuân Riyad" —, một phong trào cải cách do những nhà trí thức tự do Hồi giáo, thuộc cả hai phái Sunni và Shia, cấu thành để lên tếng kêu gọi sự cởi mở của hệ thống chính trị và đòi hỏi việc thực thi tuyển cử, một thể chế quân chủ lập hiến, một Nhà Nước pháp quyền, và một nền công lý độc lập.
Rangoon Spring cũng mang tính ẩn dụ của mùa xuân mặc dù những cuộc biểu tình của quần chúng kéo dài từ mùa xuân sang đến gần cuối mùa hạ vào năm 1988 tại Rangoon, như nhận định của ký giả Hannah Beech trong một bài viết về nhà đấu tranh dân chủ Aung San Suu Kyi:
In 1988 the dutiful Asian daughter went home to care for her ill mother. That Rangoon summer grew into Burma's version of a Prague spring.19
Năm 1988 người con gái Á châu hiếu thuận ấy trở về quê hương để chăm sóc mẹ già lâm bệnh. Mùa hè Rangoon năm đó đã trở thành phiên bản Miến Điện của một mùa xuân Praha.
Ý nghĩa mùa màng của biến cố chính trị này cũng được thể hiện qua các tên gọi khác của nó như Mùa Hè Dân Chủ hoặc Mùa Xuân Rangoon:
The movement for democracy gains momentum during the so-called 'Democracy Summer' or 'Rangoon Spring', culminating in a mass uprising on 8 August that spreads from Rangoon across the entire country.20
Phong trào dân chủ giành được đà trong khoảng thời gian được mệnh danh là 'Mùa Hè Dân Chủ' hay 'Mùa Xuân Rangoon', đạt cực điểm vào ngày 8 tháng 8 bằng cuộc nổi dậy của quần chúng từ Rangoon lan tỏa ra khắp toàn quốc.  
Hoặc là Mùa Xuân Dân Chủ, như báo L'Humanité đã từng đề cập trong một bài viết về nhà đấu tranh dân chủ Win Tin của Miến Điện:
Il était rédacteur en chef du quotidien Hanthawathi et vice-président de l'association des écrivains de Birmanie lors de son arrestation, intervenue quelques mois après le coup d'État militaire, en septembre 1988, qui a mis fin au « printemps démocratique ».21
Ông ta là tổng biên tập viên của nhật báo Hanthawathi và phó chủ tịch hội nhà văn Miến Điện vào thời điểm bị bắt giữ, xảy ra mấy tháng sau khi cuộc đảo chính quân sự kết liễu "Mùa Xuân Dân Chủ" vào tháng 9, 1988.
Hoặc là Ngưỡng Quang Chi Xuân (Ngưỡng Quang là tên Hán Việt của Rangoon), như tiên đoán của báo Đại Kỷ Nguyên về tính tất yếu của một biến cố tương tự trong tương lai:
任何人為劃分的邊界都不能阻擋春天的腳步,今天的“阿拉伯之春”明天就將是“德黑蘭之春”、“北京之春”、“平壤之春”、“河內之春”、“仰光之春” ….22

Bất cứ ai muốn phân cách biên giới cũng không thể ngăn chặn nổi bước tiến của mùa xuân, "Mùa Xuân Ả Rập" của hôm nay ngày mai sẽ là "Mùa Xuân Tehran", "Mùa Xuân Bắc Kinh", "Mùa Xuân Bình Nhưỡng", "Mùa Xuân Hà Nội", "Mùa Xuân Ngưỡng Quang" ....
Seoul Spring được chính người Hàn Quốc dịch sang tiếng mẹ đẻ của họ là 서울의봄23 tức là Mùa Xuân (봄) Của (의) Seoul (서울). Tương tự, hai nước láng giềng gần nhất của họ là Nhật Bản và Trung Quốc cũng dịch nó theo chiều hướng mùa xuân: ソウルの春24 và 汉城之春. Trang mạng Hoa ngữ Bách Độ Bách Khoa miêu tả "Hán Thành Chi Xuân" như sau:
1979年10月26日朴正熙被部下情报部长金载圭刺杀,由崔圭夏任代总统,韩国出现了一个短暂的“汉城之春”。25
Ngày 26 tháng 10, 1979 Phác Chính Hy bị cục trưởng tình báo ám sát, Thôi Khuê Hạ lên nhậm chức tổng thống thay thế, và một "Mùa Xuân Hán Thành" ngắn ngủi như vậy đã xuất hiện tại Hàn Quốc.
Một trang mạng Hoa ngữ khác đã trình bày chi tiết hơn như sau:
197910月釜山和马山爆发大规模学生运动,朴正熙政权在如何应对方面出现分歧,最后主张和解的中情局局长金载圭刺杀了力主镇压的总统及其警卫长,国务总理圭夏代理总统职务,他废除第九号总统紧急令,解除对民主人士金大中的软禁,释放政治犯,表示将尽快修改宪法,一度出现“汉城之春”的民主趋势。26
Trước cơn bạo phát của những cuộc biểu tình có quy mô lớn do sinh viên học sinh phát động vào tháng 10 năm 1979, giới lãnh đạo trong chính quyền Phác Chính Hy không nhất trí về mặt chọn lựa biện pháp ứng phó. Nhưng cuối cùng Cục Trưởng Cục Tình Báo Trung Ương của phe chủ trương hòa giải, Kim Tái Khuê, đã thành công ám sát vị tổng thống cực lực chủ trương trấn áp này cùng chỉ huy trưởng lực lượng cảnh sát bảo vệ ông ta. Thủ Tướng Thôi Khuê Hạ, sau khi lên nắm chức tổng thống thay thế, đã bãi bỏ lệnh khẩn cấp, giải trừ tình trạng quản thúc tại gia đối với nhà hoạt động dân chủ Kim Đại Trung, phóng thích tù nhân chính trị, và biểu thị sẽ tiến hành việc cải tổ hiến pháp trong một thời gian sớm nhất. Xu thế dân chủ của "Mùa Xuân Hán Thành" như vậy đã được xuất hiện.
Tehran Spring là thuật ngữ biểu thị giai đoạn có nhiều hứa hẹn chính trị sau khi Mohammad Khatami đắc cử tổng thống và những người thuộc phái cải cách của ông chiếm đa số ghế trong Quốc Hội Iran vào năm 1997. Trước kỳ bầu cử này chẳng có một cuộc nổi dậy của quần chúng nào tại Terhan cả và kết quả là một là một điều bất ngờ đối với giới cầm quyền bảo thủ trước đó của Iran. Ý nghĩa ẩn dụ của mùa xuân được nhà báo Ben Barber đặt đối tỉ với mùa đông dài và u ám của Iran như sau:
Reformists swept to power in the elections for the Majlis, giving hopes that the long, green winter of the Islamists was giving way to a sort of Tehran Spring. It was a huge surprise to the Islamic Revolution hard-liners.27
Những nhà cải cách đã thắng lớn trong kỳ bầu cử Quốc Hội để giành lấy quyền lực, tạo nên những niềm hy vọng rằng mùa đông xanh lục, dai dẳng của người Hồi Giáo đang nhường lối cho một loại Mùa Xuân Terhan. Đó là một điều ngạc nhiên lớn lao đối với giới Cách Mạng Hồi Giáo cứng rắn.
Cần lưu ý rằng thuật ngữ "Tehran Spring" cũng còn được dùng để mệnh danh cuộc xuống đường của hàng trăm ngàn người dân Iran trước và sau kỳ bầu cử tổng thống trong năm 2009 trước, để ủng hộ ứng cử viên Mir-Hossein Mousavi của phe đối lập; và sau, để phản đối sự gian lận của phe bảo thủ và đòi hỏi truất phế Tổng Thống Mahmoud Ahmadinejad. Phong trào xuống đường này còn có những danh xưng khác tương đối phổ biến hơn là Green Wave (Làn Sóng Xanh) hay Green Revolution (Cách Mạng Xanh). Màu xanh lá cây là màu sắc tượng trưng cho hy vọng và thống nhất của người biểu tình. Họ mặc áo xanh, quàng khăn xanh, đội mũ xanh, mang cà-vạt xanh, dương biểu ngữ xanh ... để tạo thành một vùng "biển" xanh mỗi khi xuống đường nên phong trào này lại có tên là Sea of Green (Biển Xanh). Gần đây một bộ phim tài liệu với tựa đề Le Printemps de Téhéran: L’histoire d’une révolution 2.0 (Mùa Xuân Tehran: Lịch Sử Của Một Cuộc Cách Mạng 2.0) đang được chiếu nhiều nơi trên thế giới để quảng bá và kỷ niệm phong trào đấu tranh này. Như vậy, dẫu biểu thị thời điểm nào (1997 hay 2009) thuật ngữ "Tehran Spring" cũng được dùng theo chiều hướng ẩn dụ mùa xuân. 

Khảo sát tường tận những ví dụ trên đây, chúng ta có thể thấy rõ spring/mùa xuân trong chức năng thuật ngữ chính trị có phạm vi áp dụng rất rộng rãi. Ẩn dụ mùa xuân có thể được sử dụng để biểu thị một thời kỳ chính trị xã hội có triển vọng lạc quan hơn so với quá khứ do một trong năm hình thức chuyển hóa chính trị sau đây tạo nên:
(1) sự hợp tác hay hòa giải giữa giới lãnh đạo của phe đối lập và chính quyền (Harare Spring, Springtime of Russia 1904); 
(2) công cuộc cách mạng, biểu tình hay nổi dậy của quần chúng nhằm hủy diệt và thay đổi chế độ (Arab Spring, Kathmandu Spring, Rangoon Spring, Spring of Nations), đòi hỏi nới rộng dân quyền, lợi ích kinh tế, và cải tổ thể chế (Croatian Spring, Seoul Spring), giành độc lập và chủ quyền (Beirut/Cedar Spring), hoặc phản đối kết quả bầu cử gian lận (Tehran Spring 2009); 
(3) chương trình cải cách xã hội theo chiều hướng nới rộng tự do và dân chủ do giới lãnh đạo chính quyền thực hiện (Prague Spring), hoặc thậm chí chỉ là sự nới lỏng kềm kẹp trong một vài lãnh vực hạn hẹp do giai cấp thống trị chủ xướng (Beijing Spring);
(4) thắng lợi bầu cử của những chính khách có khuynh hướng cải cách (Terhan Spring 1997); và
(5) luận thuật, phê phán hoặc đòi hỏi của các tổ chức xã hội dân sự hoặc giới trí thức có khuynh hướng cải cách (Damascus Spring, Riyad Spring).
Sở dĩ thuật ngữ "spring" có sức trì cửu tương đối dẻo dai và được sử dụng tương đối phổ biến trong giới sử học cũng như trong giới luận thuật chính trị xã hội chủ yếu là nhờ vào sự hội tụ của ba yếu tố chính sau đây. Thứ nhất, tính súc tích, linh hoạt và khả năng ứng dụng đa dạng của nó tạo được hiệu quả kinh tế hóa ngôn từ (biểu thị ý nghĩa tối đa bằng số lượng từ tối thiểu). Thứ hai, tính cưu mang và tái tạo theo chiều hướng tích cực và lạc quan có tác dụng lãng mạn hóa ngôn từ. Thứ ba, mối liên kết giữa một ẩn dụ lãng mạn và một hiện thực bắt nguồn từ một quá khứ khắc nghiệt khêu gợi tính hiếu kỳ và khuyến dụ việc tìm hiểu, diễn giải và tưởng tượng. Bởi vậy sự ra đời của "Mùa Xuân Ả Rập" cũng là một phát triển tất yếu trên phương diện ngữ nghĩa của một thuật ngữ vốn có một lịch sử khá lâu bền này.
_____________________________________
Chú Thích:
10 "北京之春," Wikipedia. Truy cập ngày 26 tháng 3, 2012.
11 "Cedar Revolution," Wikipedia. Truy cập ngày 26, tháng 3, 2012.
12 M.A.O., "Printemps de Damas: L'illusion perdue," El Watan (25/09/2008). Truy cập ngày 22 tháng 3, 2012.
13 "Damascus Spring," Wikipedia. Truy cập ngày 22 tháng 3, 2012.
14 Constantine Chimakure, "Let's Demand To Be Governed Well," The Independent (29 December, 2011).  Truy cập ngày 22 tháng 3, 2012.
15 Claude Arpi, "L'Inde et le Népal," La Revue de l'Inde (N°1 – octobre/décembre 2005), tr. 182.
16 "Pražské jaro 1968," Wikipedia. Truy cập ngày 21 tháng 3, 2012.
17 "Prague Spring," Wikipedia. Truy cập ngày 21 tháng 3, 2012.
18 "Arabie saoudie," Larousse Encyclopédie. Truy cập ngày 21 tháng 3, 2012.
19 Hannah Beech, "Aung San Suu Kyi: Burma's First Lady of Freedom," Time (December 20, 2010). Truy cập ngày 22 tháng 3, 2012.
20 "Aung San Suu Kyi," More or Less (5 February 2001). Truy cập ngày 22 tháng 3, 2012.
21 "Win Tin Embastillé à Rangoun," L'Humanité (3 mai, 2005). Truy cập ngày 21 tháng 3, 2012.
22 存中劍, "中國軍人學埃及,不學利比亞," 2011年3月1日. 大紀元 (2011年03月02). Truy cập ngày 21 tháng 3, 2012.
23 "서울의봄," Wikipedia. Truy cập ngày 19 tháng 3, 2012.
24 "ソウルの春," Wikipedia. Truy cập ngày 19 tháng 3, 2012.
25 "崔圭夏," 百度百科. Truy cập ngày 19 tháng 3, 2012.
26 "汉城之春," 朱者赤1. Truy cập ngày 19 tháng 3, 2012.
27 Ben Barber, "Shutting down the Terhan Spring," Salon (January 11, 2001). Truy cập ngày 20 tháng 3, 2012.

Trở lại phần (1)              Xem tiếp phần (3)
Đầu Xuân 2012
Nam Hải Trường Sơn
Copyright © 2012 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Giới Truyền Thông Việt Ngữ Không Nhầm, Xin Chớ Vu Oan! (1)

Đầu xuân lướt mạng tình cờ tìm được một bài viết rất thú vị. Thú vị không những vì nó liên quan đến một mùa xuân kỳ diệu — một mùa xuân tràn trề hy vọng của những con người bị cướp mất tự do và nhân phẩm đang hăng hái vùng dậy để hủy diệt gông cùm của độc tài chuyên chế. Thú vị vì cái tít rất mực mô phạm của nó: Xin Quý đài VOA, BBC, RFA, RFI Làm Gương Không Dịch Nhầm “Arab Spring” Là “Mùa Xuân Ả Rập” nữa. Nhưng điều hấp dẫn không kém là phương thức luận giải cũng như cung cách xử lý tư liệu và bằng chứng của tác giả tiến sĩ luật sư Lưu Nguyễn Đạt. Đại khái, trọng tâm lý luận của bài viết này xoay quanh mấy điểm chính sau đây:
Giữa năm 2011, một số chính khách, học giả như Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary R. Clinton và Chủ  tịch Asia Foundation David Arnold có đề cập tới nhóm chữ “Arab spring”, mà một số đài phát thanh, truyền hình, nhà báo Việt ngữ đã dịch nhầm là “Mùa Xuân Ả rập”.  Thật ra “Arab spring”, trong bối cảnh xã hội chính trị này có nghĩa là “Cuộc Nổi Dậy Nhân Dân Ả rập” – vì chữ “spring” ở đây nói tới động tác “nổi lên, nổi dậy”, gần với động tác “rising/uprising”.

Tại sao các chính khác [sic], học giả, nhà báo Âu Mỹ lại dùng tới thuật ngữ “Arab spring/Cuộc Nổi Dậy Nhân Dân Ả rập”?  Chắc vì họ căn cứ vào thuật ngữ thổ dân Ả rập muốn nhấn mạnh tới cuộc khởi nghĩa từ hạ tầng xã hội và tư thế vận động toàn dân/toàn chủng tộc Ả rập nổi dậy chống chế độ phản nước hại dân mà họ từng chịu đựng mấy chục năm qua. ...
Thật vậy, thuật ngữ “Arab spring” không hề có tính cách ẩn dụ mùa màng [seasonal metaphors], nhất là “Mùa Xuân”, vì: ...1
Dạo một vòng quanh các trang mạng Wikipedia phi-Anh ngữ, bạn đọc sẽ thấy, trong hầu hết các ngôn ngữ khác, thiên hạ đều hiểu và dịch thuật ngữ này theo chiều hướng mùa xuân, chẳng hạn như "Primavera Árabe" (Bồ Đào Nha), "Arabischer Frühling" (Đức), "阿拉伯之春" (Hoa), "アラブの春" (Nhật), "Printemps arabe" (Pháp), và "Primavera Araba" (Ý), mà trong đó các chữ "primavera," "frühling," "春," và "printemps" chỉ có nghĩa là mùa xuân chứ không có nghĩa là nổi dậy. Đấy, thú vị không? Đâu phải chỉ riêng giới truyền thông Việt ngữ nhầm, nếu nhầm thì chí ít đại bộ phận truyền thông quốc tế cũng nhầm. 

Nhầm hay đúng? Trung thành hay phản bội? Câu trả lời cho nghi vấn đầy thú vị này dựa trên điều kiện cơ bản là Lưu Nguyễn Đạt cần phải chứng minh cụm từ "the Arab Spring" đang được sử dụng rộng rãi trong (và ngoài) giới truyền thông Anh ngữ (ở khắp nơi trên thế giới) chỉ có nghĩa là "Cuộc Nổi Dậy Của Nhân Dân Ả Rập" trực tiếp theo ý nghĩa mặt chữ của nó là "gần với động tác rising/uprising" chứ không phải là "Mùa Xuân Ả Rập" theo chiều hướng ẩn dụ của springtime (tức là dùng mùa xuân để ám chỉ hay mệnh danh những cuộc nổi dậy của nhân dân tại nhiều nước trong vùng Trung Đông và Bắc Phi). Nhưng điều trớ trêu thú vị nhất là nếu phân tích kỹ càng chúng ta sẽ phát hiện những bằng cớ do Lưu Nguyễn Đạt đưa ra lại xác định một kết luận trái ngược với lời cáo buộc của y.

Ý Nghĩa Từ Điển Của "Spring" 

Dưới dạng danh từ, ngoài ý nghĩa mùa xuân, spring còn có nhiều nghĩa khác, chẳng hạn như: giai đoạn mở đầu một thời kỳ; dòng suối; lò xo, nhíp; tính đàn hồi; động tác nhún, nhảy, nhào, bật dậy; xuất hiện, nảy ra; cội nguồn; động cơ, khí cụ; đường cong, chỗ cong; sự đâm chồi, ra nhánh của cây cối. Không thấy có từ điển nào ghi rõ spring trực tiếp có ý nghĩa là uprising (nổi dậy) hay revolution (cách mạng). Ý nghĩa chính trị của spring mới được đưa vào từ mục của cuốn The Oxford English Dictionary vào năm 1993 dưới dạng dự thảo và được minh định là chuyển nghĩa (transf. là ký hiệu của transferred sense), tức là ý nghĩa đã được chuyển hóa từ nguyên nghĩa:
transf. The initial stages of a period of political liberalization, esp. in a Communist state; the first steps in a programme of political and economic reform. 
Xin lưu ý rằng ở đây spring bao hàm ý nghĩa thời gian chứ không phải là động tác: Những gai đoạn đầu (the initial stages) hoặc là những bước đầu tiên (the first steps). Thứ hai, spring biểu thị cho một thời kỳ tự do hóa chính trị (political liberalization) hoặc một chương trình cải cách chính trị và kinh tế (a programme of political and economic reform), như vậy rõ ràng là spring có một hàm ý chính trị rất rộng rãi, không nhất thiết chỉ cục hạn trong phạm vi cách mạng hay nổi dậy của quần chúng. Hơn thế nữa, những ví dụ mà cuốn từ điển này trích dẫn để minh họa xuất xứ và cách dùng của spring trong ý nghĩa này cũng đều mang tính ẩn dụ của mùa xuân, chẳng hạn như:
[1905    G. Gapon Story of my Life x. 133   That temporary change in the attitude of the Government and the educated class toward each other which has been called the political spring-time of Russia, and which began [in 1904] with the succession of Prince Sviatopolk Mirski to the old post of Plehve.]
Tôi tạm dịch: [... Sự thay đổi tạm thời trong thái độ cư xử hỗ tương giữa Chính Phủ và giai cấp trí thức được mệnh danh là mùa xuân chính trị của Nga, và đã bắt đầu [vào năm 1904] với sự kiện Hoàng Tử Sviatoplk Mirski thừa kế chức vụ cũ của Plehve.]
(Để tránh việc lập đi lập lại xác định, xin lưu ý rằng trong bài viết này tất cả các phần được dịch ra tiếng Việt, cũng những chữ được tô đậm trong nguyên văn và  bản dịch, đều do tôi thực hiện.)
[1968    Sat. Rev. (U.S.) 13 Apr. 8/1   Spring blooms in Prague‥. Spring in Eastern Europe this year is forcing new shoots of freedom out from still-frozen ideological soil.]
[... Mùa xuân nở rộ tại Praha‥. Mùa xuân năm nay tại Đông Âu đang thối thúc những chồi nụ tự do mới vươn lên từ mảnh đất ý thức hệ vẫn còn bị đóng băng.]
Nếu nói rằng chính bản thân chữ spring có ý nghĩa là một cuộc nổi dậy của quần chúng (chứ không phải theo ý nghĩa chuyển hóa hay ẩn dụ của mùa xuân) thì e rằng đó chỉ là một sự kéo dài quá trớn ý nghĩa nội hàm của nó. Trong trường hợp chúng ta áp dụng nguyên tắc từ thiện (le principe de charité) để chấp nhận rằng chữ spring hiểu theo nghĩa đen (nghĩa mặt chữ hay nghĩa từ điển) thực sự biểu thị sự nổi dậy của quần chúng, luận điểm của Lưu Nguyễn Đạt cũng không có cơ sở để đứng vững. Bởi vì trên thực tế thuật ngữ "the Arab Spring" (cũng tương tự như những ví dụ do cuốn The Oxford English Dictionary dẫn chứng) chỉ được dùng dưới dạng ẩn dụ của mùa xuân để ám chỉ giai đoạn cách mạng bùng nổ tại Bắc Phi và Trung Đông trong thời gian qua. Trước khi trình bày những bằng chứng minh họa ý nghĩa ẩn dụ của thuật ngữ "the Arab Spring" trong luận thuật chính trị đương đại, tôi sẽ thảo luận một số vấn đề liên quan đến nguồn gốc ý nghĩa cách mạng cũng như các ý nghĩa khác của mùa xuân trong chức năng thuật ngữ chính trị.

Nguồn Gốc Ý Nghĩa Cách Mạng Của "Spring"
 
Danh xưng "the Arab Spring" thường được xem là dựa trên mô hình của thuật ngữ "the Prague Spring," nhưng đó chỉ là tiền thân mới xuất hiện gần đây của nó. Thực sự, ý nghĩa chính trị của spring ra đời trước thời điểm đó hơn cả một thế kỷ, bắt nguồn từ các cuộc cách mạng xảy ra tại châu Âu vào mùa xuân năm 1848 khi các dân tộc khắp nơi trên lục địa này nổi dậy đòi lật đổ chế độ quân chủ tại đất nước họ. Sau đây là một số biến cố chính:
Ngày 24 tháng 2, 1848: Cách mạng Pháp bức bách vua Louis Phillipe thoái vị, nền Đệ Nhị Cộng Hòa được tuyên bố khai sinh tại Hotel de Ville và nội các mới được quần chúng tụ tập bên ngoài khách sạn này hoan hô xác nhận. Nguồn tin này lan tỏa nhanh chóng và kích thích toàn thể nhân dân châu Âu.
Ngày 3 tháng 3, 1848: Nhà cách mạng tả phái Lajos Kossuth đứng trước Quốc Hội Hungary kêu gọi thành lập chính phủ dân biểu.
Ngày 3 tháng 3, 1848: Cách mạng bùng nổ tại Rhineland.
Ngày 12 tháng 3,  1848: Cách mạng bùng nổ tại Vienna.
Ngày 15 tháng 3, 1848: Cách mạng bùng nổ tại Berlin.
Ngày 18 tháng 3,  1848: Cách mạng bùng nổ tại Milan.
Ngày 21 tháng 3,  1848: Quần chúng kéo đến hoàng cung Đan Mạch để buộc vua Frederick VII phải chấp nhận thành lập chính phủ mới có khuynh hướng tự do và xúc tiến việc soạn thảo hiến pháp.
Dựa vào những mốc thời gian này, cuộc cách mạng 1848 tại Pháp còn được gọi là Cách Mạng Tháng Hai và tại các nước khác là Cách Mạng Tháng Ba. Những người theo phái tự do tại Đức đương thời đã gộp chung lại và mệnh danh chúng là Völkerfrühling hay Frühling der Völker (trong tiếng Đức frühling có nghĩa là mùa xuân và völker có nghĩa là nhân dân hay sát hơn là dân tộc dưới dạng số nhiều). Sau đó, thuật ngữ này được dịch sang tiếng Pháp là le Printemps des peuples tiếng Anh là the Springtime of Peoples, the Springtime of Nations hay the Spring of Nations. Hiển nhiên trong các cụm từ này springtimespring là hai chữ đồng nghĩa, và các thuật ngữ này có thể dịch sang tiếng Việt Mùa Xuân Của Nhân Dân hay sát hơn là Mùa Xuân Của Các Dân Tộc [Châu Âu]. Nhưng ngoài chức năng biểu thị thời gian theo nghĩa đen ra, spring/springtime còn đóng vai trò ẩn dụ theo nghĩa bóng và nhiều học giả đã xác định biểu tượng chính trị của thuật ngữ này. Sau đây là một số ví dụ minh họa.

Sử gia Mike Rapport giải thích rằng: 
Völkerfrühling the 'Springtime of Peoples' a name pregnant with the liberating hopes of the early weeks of the revolutions, when national aspirations suddenly seemed possible.2 
Völkerfrühling 'Mùa Xuân Của Nhân Dân' — một danh xưng cưu mang nhiều ước ao giải phóng trong mấy tuần lễ đầu tiên của những cuộc cách mạng này, khi khát vọng dân tộc đột nhiên dường như có thể khả thi. 
Trong cuốn sử ký 1848: Year of Revolution, Mike Rapport không những đã dùng biểu tượng của mùa xuân mà còn cả mùa hè và mùa thu, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, để trần thuật ba giai đoạn chủ yếu của những cuộc cách mạng này; tiêu đề của ba chương chính trong tác phẩm này được tác giả gọi là: "The Springtime of Peoples" ("Mùa Xuân Của Nhân Dân," để biểu thị niềm phấn khởi và hy vọng giải phóng của nhân dân), "The Red Summer" ("Mùa Hè Đỏ Lửa," để biểu thị cuộc chiến khốc liệt giữa chính quyền và phe cách mạng), và "The Counter-Revolutionary Autumn" ("Mùa Thu Phản Cách Mạng," để biểu thị sự tàn tạ hay thất bại của phe cách mạng).3
 
Giáo sư Jonathan Sperber kết nối nét tương phản chính trị với đặc tính của hai mùa đông và xuân: 
For a few brief weeks, Europe experienced the 'springtime of peoples,' celebrating the end of a decades-long winter of oppression.4
Trong vài tuần ngắn ngủi, Châu Âu đã trải nghiệm được 'mùa xuân của nhân dân,' đón mừng sự kết thúc của một mùa đông áp bức kéo dài cả mấy thập kỷ.
Khi bàn đến nguyên nhân của những cuộc cách mạng này, sử gia Henry Bogdan đã nhận định:
The revolutionary explosion in the spring of 1848, or the 'Springtime of Nations,' as it is often called, was the result of several converging factors.5
Cuộc bùng nổ cách mạng vào mùa xuân 1848, hay 'Mùa Xuân Của Nhân Dân,' như thường được gọi, là kết quả của một số yếu tố đồng quy.
Sử gia Hartmut Pogge von Strandmann thì cho rằng ý nghĩa ẩn dụ của mùa xuân có vẻ quá lý tưởng: 
... the first euphoric phase also had a strong symbolic character, expressed by the rather Utopian term 'the springtime of peoples.'6
... giai đoạn hân hoan ban đầu cũng mang một đặc tính biểu tượng mãnh liệt, được diễn đạt bằng thuật ngữ có vẻ Không Tưởng là 'mùa xuân của nhân dân.'
Giáo sư Stephen Blank cũng đề xuất kết luận tương tự, trong một bài báo mang tựa đề "A New Springtime of the Nations"
Although 1848 was the springtime of nations in Europe, most of those revolutions failed to bring democracy, instead unleashing a dynamic that brought a generation of war to Europe."7
Dẫu năm 1848 là mùa xuân của các dân tộc tại châu Âu, hầu hết những cuộc cách mạng này đã thất bại trong việc tạo dựng thể chế dân chủ, thay vào đó đã khai phóng một nguồn động lực để mang lại cho châu Âu cả một thế hệ chiến tranh.
Cựu Bộ Trưởng Tài Chánh Ba Lan Grzegorz Kolodko đã phác họa lộ trình lịch sử của thuật ngữ the Spring of Nations như sau:
Seven generations ago in 1848 Europe was swept up by the revolutionary wave of the Spring of Nations. One generation ago the year 1989 was written in bold letters into the book of History. And now, in 2011, we have again a Spring of Nations, this time first in North Africa and Mid-East, and possibly soon elsewhere, in sub-Saharan Africa, Central Asia…8
Cách đây bảy thế hệ — vào năm 1848 — làn sóng cách mạng giữa Mùa Xuân Của Nhân Dân đã càn quét khắp châu Âu. Cách đây một thế hệ, năm 1989 được ghi vào thư tịch của Lịch Sử bằng những nét chữ tô đậm. Và bây giờ, vào năm 2011, chúng ta lại có Mùa Xuân Của Nhân Dân, lần này đầu tiên xuất hiện tại Bắc Phi và Trung Đông, và có lẽ chẳng bao lâu nữa sẽ xuất hiện tại các nơi khác, tại vùng châu Phi Nam Sahara, Trung Á... 

Khi Ẩn Dụ Mùa Xuân Trở Thành Thuật Ngữ Chính Trị

Ẩn dụ là một phương thức trần thuật trong đó ngôn từ được vay mượn để miêu tả một sự vật hay khái niệm có ý nghĩa khác với ý nghĩa cốt lõi hay căn bản (tức là ý nghĩa mặt chữ hay nội hàm) của chính ngôn từ đó. Đơn giản hơn, nói theo định nghĩa của Aristotle, ẩn dụ là việc gọi tên sự vật này bằng danh xưng thuộc về sự vật khác. Xuân là mùa tỉnh thức và phục hoạt của tự nhiên. Tại nhiều nơi trên thế giới, khi mùa xuân đến đất trời nồng nàn sinh khí và vạn vật trở nên tươi thắm dưới ánh dương quang rực rỡ, cây cối trơ trụi trong mùa mưa gió bắt đầu đâm chồi nẩy lộc trở lại, muông thú vươn mình trỗi dậy sau chuỗi ngày đông tháng giá. Ở vùng Đông Á, yến oanh réo hót líu lo, mai đào mỹ miều nở rộ, người người hớn hở đón chào năm mới với niềm ước mơ và lời chúc mừng nhau an khang và thạnh vượng. Bởi thế mùa xuân thường được dùng để ẩn dụ hoặc tượng trưng cho sự ra đời hay giai đoạn đầu tràn trề sức sống và triển vọng; quá trình chuyển hóa, tái tạo và đổi mới; mốc đánh dấu sự kết thúc của một quá khứ lạnh lùng và hắc ám; hoặc nguồn hạnh phúc đầm ấm và tương lai xán lạn hơn.

Xuất phát từ Âu Mỹ, như định nghĩa của cuốn The Oxford Enghlish Dictionary gợi ý, mùa xuân (dưới dạng spring/springtime, printemps hay früling, chẳng hạn) còn được dùng làm ẩn dụ chính trị để ám chỉ sự bắt đầu của một thời kỳ chính trị xã hội tốt đẹp hơn theo chiều hướng nới rộng tự do và dân chủ (qua các phương tiện như cải cách kinh tế và chính trị do giới lãnh đạo chủ trương theo chiều hướng từ trên xuống dưới hoặc sự nổi dậy của quần chúng nhằm lật đổ chính quyền độc tài, chuyên chế theo chiều hướng từ dưới lên trên). Kể từ sau năm 1848, trong lãnh vực chính trị xã hội, thuật ngữ spring được sử dụng hoàn toàn dưới dạng ẩn dụ, tức là không cần tuân thủ một cách nghiêm ngặt các hạn chế về mặt thời gian hoặc hình thái hoạt động chính trị. Nói cách khác, các biến cố được mệnh danh là mùa xuân theo chiều hướng này không nhất thiết phải xảy ra trong những ngày tháng của mùa xuân hoặc trong đó công cuộc nổi dậy hay cách mạng của quần chúng phải đóng vai trò chủ yếu. Chẳng hạn như: the Prague Spring Mùa Xuân Praha bắt đầu từ tháng một và kết thúc vào tháng tám năm 1968 qua chương trình cải cách kinh tế và chính trị do Bí Thư Thứ Nhất của Đảng Cộng Sản Tiệp Khắc chủ xướng; hoặc the Beijing Spring — Mùa Xuân Bắc Kinh bắt đầu từ tháng 12 năm 1977 và kết thúc vào cuối năm 1978 qua việc nới lỏng quyền tự do ngôn luận do Đảng Cộng Sản Trung Quốc phát động. 

Lưu Nguyễn Đạt bê nguyên xi 13 ví dụ được liệt kê dưới đề mục "Spring (political terminology)" của Wikipedia9 ra để làm bằng cứ chứng minh luận điểm của mình rằng spring không có nghĩa là mùa xuân (springtime) mà chỉ có nghĩa là nổi dậy (uprising). Nhưng điều trớ trêu rất thú vị là trong tất cả 13 ví dụ này (từ Revolutions of 1848 cho đến Terhan Spring), chữ spring chỉ được dùng, hiểu hoặc dịch theo ý nghĩa ẩn dụ của mùa xuân để ám chỉ, tượng trưng hoặc gián tiếp biểu thị cho một thời kỳ chính trị có nhiều triển vọng lạc quan hơn quá khứ mà trong đó cách mạng hay sự nổi dậy của quần chúng chỉ là một trong nhiều dạng thức khác nhau. Dĩ nhiên spring đã trở thành một thuật ngữ chính trị. Nhưng xin thưa cùng ngài tiến sĩ, spring đã trở thành một thuật ngữ chính trị dưới dạng ẩn dụ của mùa xuân và đó mới là ý nghĩa chân chính của bài viết Wikipedia nêu trên. Điều càng thú vị hơn là Lưu Nguyễn Đạt đã diễn dịch nội dung bài viết này theo ý mình một cách hời hợt và võ đoán, thậm chí lại dấu đi những bộ phận chứng cớ mâu thuẫn với luận điểm của mình.

Trước hết, hoàn toàn phù hợp với nhận định của cuốn The Oxford English Dictionary như đã nêu trên, bài Wikipedia cũng ghi rõ rằng: "The term spring is often used to name periods of political liberalization." Tức là: "Thuật ngữ spring thường được dùng để mệnh danh những thời kỳ tự do hóa chính trị." Như vậy, có nghĩa là spring được dùng (1) để gọi tên hay để tạo danh xưng (to name); (2) để biểu thị ý nghĩa thời gian (periods); và (3) hoạt động chính trị trong thời gian này có phạm vi rất rộng rãi vì tự do hóa chính trị (political liberalization) không nhất thiết chỉ bao gồm sự nổi dậy của quần chúng. Sau đây tôi sẽ lần lượt xét đến đặc tính của những biến cố này (theo thứ tự được liệt kê trong Wikipedia hay bài viết của Lưu Nguyễn Đạt, ngoại trừ đề mục "Arab Spring").

____________________________________
Chú Thích:
1 Lưu Nguyễn Đạt, Xin Quý đài VOA, BBC, RFA, RFI Làm Gương Không Dịch Nhầm 'Arab Spring' Là 'Mùa Xuân Ả Rập' nữa,”  Việt Thức  (February 7, 2012). Truy cập ngày 18 tháng 3, 2012. 
2 Mike Rapport, 1848: Year of Revolution (New York: Basic Books, 2009), tr. 112.
3 Mike Rapport, như trên, tr. 112-334.
4 Jonathan Sperber, The European Revolutions, 1848-1851 (New York: Cambridge University Press, 2005), tr. 132. 
5 Henry Bogdan, From Warsaw To Sofia: A History of Eastern Europe, ed. Istvan Fehervary, trans. Jeanie P. Fleming, (Santa Fe: Pro Libertate Publishing, 1989), tr. 93. 
6 Hartmut Pogge von Strandmann, "1848-1849: A European Revolution?" in The Revolutions in Europe, 1848-1849: From Reform to Reaction, ed. Robert Evans and Hartmut Pogge von Strandmann (Oxford: Oxford University Press, 2000), tr. 5.
7 Stephen Blank, "A New Springtime of the Nations?" The Jamestown Foundation (November 5, 2002). Truy cập ngày 19 tháng 3, 2012.
8 Grzegorz Kolodko, "The Spring of Nations," The Diplomacist (February 18, 2011). Truy cập ngày 20 tháng 3, 2012.
9 "Spring (political terminology)," Wikipedia. Truy cập ngày 21 tháng 3, 2012.

Xem tiếp phần (2)
Đầu Xuân 2012
Nam Hải Trường Sơn
Copyright © 2012 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn