Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



26 tháng 12, 2011

10 Sự Cố Hàng Đầu Của ASEAN Trong Năm 2011

Trong năm 2011, Đông Nam Á bị chìm ngập trong nhiều biến cố chính trị bấp bênh bên miệng hố, tranh chấp lãnh thổ, và thiên tai. Có lẽ cũng quan trọng không kém là vai trò nổi bật của tòa án trong việc xét xử một số nhân vật có nhiều tai tiếng và lắm màu mè của khu vực đang chịu đựng sức mạnh toàn diện của mũi dùi luật pháp. Sau đây là một số sự cố được xếp vào hàng đầu.

1. Đại Thủy Tai Tại Đông Nam Á

Nhiều cơn bão lớn quét qua khu vực với những trận lụt kỷ lục đã khiến hơn 2.000 người tử vong và gây thiệt hại hàng tỉ Mỹ kim cho giới kinh doanh, chủ yếu tại Thái Lan và Phi Luật Tân, nhưng Miến Điện, Campuchia, Lào, và Việt Nam cũng bị đập mạnh. 

Lũ lụt là nỗi âu lo dai dẳng trong suốt gần sáu tháng cuối năm, đạt cực điểm vào giữa tháng 12 khi cơn bão mang tên Washi gây ra nhiều trận lụt chớp nhoáng và nạn lở đất khiến hơn 1.000 người tử vong tại Phi Luật Tân. Cagayan de Ura và Iligan là hai thành phố bị tàn phá lớn nhất, với số nạn nhân vô gia cư lên đến hơn 250.000 người. Cũng như những cơn bão nhiệt đới đã hoành hành trong những tháng đầu năm, thiên tai này đã xảy ra rất đột ngột và hầu như cũng có sức gây chết chóc không kém những trận lụt kéo dài đến cả mấy tháng tại Thái Lan.


Liên Hiệp Quốc ghi nhận rằng Băng Cốc đã được cảnh báo trong nhiều năm qua về nhu cầu phát triển một phương án phòng chống lũ lụt có tầm phối hợp toàn diện. Nhưng chướng ngại lớn lao nhất vẫn là việc thuyết phục chính phủ, và tại Thái Lan điều này lại càng khó khăn hơn vì sự thay đổi nhanh chóng trong giới lãnh đạo đã cản trở năng lực hoạch định những chiến lược dài hạn cho việc chống lũ. 

Các cơ quan viện trợ quốc tế đã phản ứng nhanh chóng bằng cách không vận thực phẩm, đồ tiếp tế, và thuốc men trị giá nhiều triệu Mỹ kim đến vùng bị nạn. Nhưng thái độ mới là chuyện khó thay đổi hơn. Khi mực nước lũ lên cao, chính quyền phàn nàn rằng cư dân không chịu di tản, nói rằng họ sợ bị trộm cướp.

Thái Lan là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới và sản lượng của vụ lúa năm 2012 được mong mỏi sẽ đạt 25 triệu tấn, một con số dự báo mức suy giảm vào khoảng 25%. Từ gia súc cho đến gia cầm và từ máy tính cho đến xe hơi, các ngành nghề vẫn còn đang kiểm kê thiệt hại.

2. Miến Điện Đang Trỗi Dậy?

Cách đây 13 tháng, quân đội Miến Điện chấp thuận tổ chức tuyển cử để mở đường cho chính phủ dân sự lên chấp chính lần đầu tiên kể từ năm 1962. Cuộc bỏ phiếu — mặc dù được mọi người xem là trò giả mạo — đã đưa đẩy đất nước này đi vào phương hướng mà cộng đồng quốc tế hoan nghênh.

Tổng Thống Thein Sein tiến hành việc tu chỉnh các luật lệ về đảng phái chính trị, trả tự do cho khoảng 300 tù nhân chính trị, tìm kiếm đường lối hòa giải với ngẫu tượng tranh đấu vì dân chủ Aung San Suu Kyi, và khiến các nhà quan sát phải sửng sốt với thái độ xem thường Trung Quốc, một nước trong nhóm đồng minh ít ỏi của Miến Điện.

Bắc Kinh đề xuất kế hoạch xây dựng một đập thủy điện siêu cấp tại Miến Điện, nhưng dự án này đã tạo nên một nỗi phẫn uất lớn lao trong nhiều tầng lớp quần chúng địa phương, khiến Naypyidaw phải đình hoãn việc kiến trúc. Chính phủ cũng đã tiến hành việc hợp pháp hóa công đoàn và nới lỏng luật lệ trong lãnh vực kiểm duyệt.

Khối ASEAN với 10 nước thành viên đã tán thưởng những chính sách này và quyết định trao tặng ghế chủ tịch cho Miến Điện vào năm 2014. 

Khi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đến viếng thăm Miến Điện trong một chuyến công du mang tính lịch sử để khuyến khích đất nước này tiến hành nhiều cải cách hơn nữa, Suu Kyi tỏ ý hỗ trợ bằng cách công bố sẽ tham gia cạnh tranh trong kỳ tuyển cử bổ sung sắp tới, một khi đảng Liên Minh Dân Chủ Quốc Gia của bà đã được đăng ký.

Tuy nhiên, vẫn còn 1.700 tù nhân chính trị đang bị cầm tù và nhiều khiếu nại về tình trạng vi phạm nhân quyền vẫn cứ dai dẳng, đặc biệt là tại vùng nông thôn, nơi xung đột chủng tộc còn đang tiếp diễn không ngừng, khiến nhiều người phải đưa ra cảnh báo rằng giai cấp thống trị Miến Điện cần phải tiến xa hơn nữa trước khi có thể thuyết phục những kẻ hoài nghi rằng những cải cách của họ không phải chỉ là biểu hiện bên ngoài.   

3. Mã Lai Trong Sạch

Khi một nhóm gồm nhiều tổ chức phi chính phủ và các đảng đối lập quyết định xuống đường biểu tình để ủng hộ thể chế tuyển cử công bằng, ít ai dự liệu cảnh sát và chính khách tại Kuala Lumpur sẽ phản ứng một cách hà khắc như họ đã làm. 

Lúc đầu Thủ Tướng Najib Razak cố gắng giảm thiểu tính quan trọng của cuộc phản kháng do liên minh Berish tổ chức (trong tiếng Mã Lai "berish" có nghĩa là "trong sạch") nhưng đã đổi giọng sau khi tổ chức Ân Xá Quốc Tế miêu tả biện pháp thẳng tay của chính phủ là một trường hợp đàn áp tồi tệ chưa hề có trong nhiều năm qua tại đất nước ông.

Cảnh sát được bố trí theo kế hoạch gọi là "Chiến Dịch Xóa Bỏ Trong Sạch." Họ ngăn chận đường phố, xuất động súng xịt nước độc, và nổ súng bắn hơi cay khi hàng ngàn người cố gắng tuần hành về phía Vận Động Trường Merdeka. Xô đẩy tán loạn xảy ra sau đó, và người biểu tình đã phân ra thành nhiều nhóm nhỏ để mắng nhiếc và khiêu khích lực lượng cảnh sát được trang bị bằng dùi cui, súng ống, và hơi cay. Tiếp theo, những trận tấn công bằng dùi cui đã bùng nổ.

Lãnh tụ phe đối lập Anwar Ibrahim (bị cáo trong phiên tòa xét xử tội kê gian vừa được kết thúc vào cuối năm) thọ thương sau khi cảnh sát bắn hơi cay vào một đường hầm. Nhưng người biểu tình vẫn tỏ vẻ bất khuất sau khi hơn 1.000 người đã bị bắt giam.

Hầu hết mọi người đều không dám mặc áo vàng, màu sắc biểu tượng của phong trào này. Một người đàn ông bị đấm đá và lôi đi ở bên ngoài Bệnh Viện Hộ Sinh Trung Hoa trong khi hơi cay được phóng vào giữa khuôn viên bệnh viện này cũng như Bệnh Viện Đồng Thiện nằm ngay bên cạnh, hai địa điểm mà người biểu tình đã tìm vào trú ẩn.

4. Thắng Lợi Của Bà Yingluk Khiến Tình Hình Bớt Căng Thẳng 

Trong năm 2011, Thái Lan là quốc gia duy nhất tại Đông Nam Á được trải nghiệm sự đổi mới trong giới lãnh đạo, sau khi Yingluk Shinawatra và đảng Pheu Thai của bà đã hạ bệ Thủ Tướng Abhisit Vejjajiva bằng một thắng lợi long trời lở đất vào hồi tháng 7.

Thắng lợi của bà đã khiến tình hình trong nước cũng như tại biên giới bớt căng thẳng và mở đường cho cựu lãnh tụ Thaksin Shinawatra, bị truất phế trong một cuộc đảo chánh không đổ máu vào năm 2006, và cũng là anh trai của bà, trở về nước. Chiến thắng của bà còn mang lại một ít thời gian ngơi nghỉ cho nhân dân Thái Lan vốn đã quá chán nản trước nhiều trận đối chọi đẫm máu và dai dẳng giữa hai phe Áo Đỏ và Áo Vàng. 

Cũng quan trọng không kém, thắng lợi đã cải thiện bầu không khí chính trị với Phnom Penh, tạo điều kiện cho khả năng giảm bớt căng thẳng ở các vùng dọc biên giới. Khi quân đội Thái Lan và Campuchia đụng độ nhau vào hồi tháng 2, tối thiểu có 10 người chết tại ngôi đền
900 tuổi mang tên Preah Vihear. Thêm 18 người tử vong khi đụng độ lại bộc phát vào hồi tháng 4 ở các nơi khác dọc vùng biên giới.

Nhiều người đã tưởng rằng nhiệm vụ đầu tiên mà Yingluck sẽ làm là đàm phán việc ân xá cho anh trai của mình. Nhưng các kế hoạch ưu tiên của bà đã được thay đổi nhanh chóng khi thảm họa tồi tệ nhất của đất nước bà, kể từ thời Đệ Nhị Thế Chiến, bắt đầu xảy ra. 

Lũ lụt đã gây thiệt hại nặng nề và là yếu tố tái định nghĩa những tháng chấp chính đầu tiên của bà, giành được nhiều tán thưởng của giới ủng hộ, và, có lẽ là điều rất dễ tiên đoán, bị các đối thủ chính trị phê phán. 

5. Khép Màn Một Thời Kỳ Chết Chóc 

Gần 9 năm sau khi phần tử kích tiến Hồi giáo tiến hành các đợt đánh bom khiến 202 người thiệt mạng tại hòn đảo Bali thanh bình của Nam Dương, kẻ đánh bom cuối cùng rốt cuộc đã bị tóm, đánh dấu sự kết thúc của một chiến dịch truy lùng tội phạm mang tính lịch sử cũng như cuộc Chiến Tranh Chống Khủng Bố tại Đông Nam Á theo định nghĩa đã được đặt ra trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ này. 

Omar Patek bị nhà chức trách Pakistan bắt vào hồi tháng giêng sau khi được tình báo Hoa Kỳ chỉ dẫn. Nhưng tin tức này không được công bố suốt cả 2 tháng sau ngày tội phạm bị bắt.

Việc bắt giam Omar Patek đã mang lại một kết thúc có đôi chút an ủi cho gia đình của nạn nhân và chính những kẻ đã sống sót qua cơn bi thảm này, một biến cố báo hiệu sự ra đời của một giới tuyến được mệnh danh Mặt Trận Thứ Hai của cuộc Chiến Tranh Chống Khủng Bố, trải rộng trên địa bàn Đông Nam Á.    

Chẳng bao lâu sau đó Osama bin Laden cũng bị giết.

Patek, một chuyên gia về chất nổ, là phó chỉ huy trưởng tác chiến của tổ chức Jemaah Islamiyah vào thời điểm mà vụ đánh bom đầu tiên tại Bali được tiến hành giữa lời hiệu triệu thành lập một lãnh địa Hồi giáo khắp Đông Nam Á. Patek đang bị tòa án xét xử tại Nam Dương và các nhà chức trách tại Úc, Hoa Kỳ, và Phi Luật Tân cũng muốn y [được dẫn độ về nước họ]. 

6. Quần Đảo Trường Sa

Các nước Đông Nam Á đã chứng kiến một sự gia tăng ngoài ý muốn trong mức căng thẳng về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa khi Trung Quốc cố gắng gồng cơ bắp kinh tế và quân sự ngày càng lớn mạnh của họ. Tình trạng căng thẳng năm nay có lẽ đã đạt mức tồi tệ nhất khi thái độ hung hăng của Trung Quốc trong vấn đề này đã dẫn đến những đợt biểu tình hiếm hoi tại Việt Nam.

Việt Nam, Mã Lai, Brunei, Đài loan, và Phi Luật Tân đều tuyên bố có chủ quyền trên quần đảo này. Tuyên bố của Trung Quốc đầy tham vọng vì Trường Sa tọa lạc ở bên kia bờ đại dương và phần lớn đều nằm trong giới hạn 200 hải lý của Phi Luật Tân và chỉ cách Mã Lai và Brunei bằng một khoảng ném đá rất gần về mặt chính trị. 

Tại Hà Nội, nơi mà Hoàng Sa là một chủ đề mẫn cảm, nhiều đợt biểu tình đã được phép tiến hành trong khoảng thời gian dẫn đến Diễn Đàn Khu Vực của ASEAN được tổ chức tại Bali, và ở đó Trường Sa đã trở thành vấn đề thảo luận quan trọng nhất. Đồng thời cũng có một cuộc vận động nhằm xóa bỏ danh xưng Biển Hoa Nam. Nhưng không ai có thể đồng thuận về chuyện đó. Manila hiện đang xúc tiến danh xưng Biển Tây Phi Luật Tân và Việt Nam gọi nó là Biển Đông.

Rồi Phi Luật Tân quyết định họ đã chịu đựng quá đủ và đưa một phái đoàn gồm 4 chính trị gia ra đảo Pagasa, nơi có 60 người dân Phi Luật Tân cư trú, thuộc quần đảo đang bị tranh chấp này. Họ tuyên bố hòn đảo này là lãnh thổ của Phi Luật Tân và Bắc Kinh lần nữa lại điên lên vì tức giận. Phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Mã Triều Húc nhất quyết tuyên bố Trung Quốc có "chủ quyền không thể tranh cãi" trên quần đảo này, bất chấp mọi thực tế địa lý. Không một nước láng giềng nào chấp nhận điều đó. 

7. Phiên Tòa Xét Xử Khmer Đỏ 

Phiên tòa xét xử Khmer Đỏ đã chứng tỏ khả năng vững chãi của mình khi ba lãnh tụ quan trọng nhất còn sống sót của phe Mao-ít cực đoan đang cố gắng đối chọi với pháp đình do Liên Hiệp Quốc hậu thuẫn để kháng biện về tội ác chống nhân loại và khai báo nhiều chuyện gây sốc trước Tòa Án Đặc Biệt Của Pháp Viện Campuchia (ECCC).

Công tố viên tập trung vào việc cưỡng bức di tản đã xảy ra tại Phnom Penh và các trung tâm đô thị khác sau khi Khmer Đỏ chiếm quyền kiểm soát vào tháng 4 năm 1975. Anh Hai Nuon Chea, cựu nguyên thủ quốc gia Khieu Samphan, và cựu ngoại trưởng Ieng Sary đều phủ nhận cáo trạng.

Nuon Chea nói rằng Việt Nam phải chịu trách nhiệm về những tội ác đó, bao gồm tội diệt chủng. Khoảng từ 1,7 triệu cho đến 2,2 triệu người thiệt mạng dưới thời Pol Pot, một nền thống trị đã bị kết thúc vào tháng giêng năm 1979 khi quân đội xâm lăng của Việt Nam đánh đuổi Khmer Đỏ về vùng nông thôn nơi mà xung đột đã tiếp diễn thêm 20 năm nữa.

Công trình xây dựng một phi đạo do Trung Quốc hậu thuẫn tại tỉnh Kampong Chhnang ở miền trung Campuchia thố lộ rất nhiều điều. Trung Quốc đã ủng hộ phe Khmer Đỏ trong suốt thời kỳ Chiến Tranh Lạnh.

Tối thiểu phải có hơn 30.000 người bị đày đến và cưỡng bức làm việc tại phi đạo này. Hoàn cảnh tồi tệ đến nỗi nhiều người thích chọn lựa tự sát hơn, bằng cách nhảy xuống đường cho xe tải chạy qua cán chết. Nhân chứng đã khai báo với tòa án về việc mỗi một thành viên trong Ủy Ban Thường Vụ của Pol Pot đã đến viếng địa bàn này và khuyến khích nhân công làm việc hăng hái hơn như thế nào. 

8. Giới Lãnh Đạo Cáu Kỉnh Của Singapore

Khi một chính phủ mất mát năm bảy ghế đại biểu trong một kỳ tổng tuyển cử nhưng quyền lãnh đạo nhà nước ở tầm mức tổng thể không bị ảnh hưởng gì nhiều, thì sự quan tâm của giới truyền thông cũng luôn luôn ở mức tối thiểu. Nhưng tại Singapore, nơi mà trong nhiều năm nay chính quyền chỉ mong muốn không gì ngoài sự ủng hộ hết lòng cho quyền lãnh đạo của họ, những mất mát đó dường như được xem là bi thảm.

Trong kỳ tuyển cử quốc hội khóa 16 vào tháng 5 vừa qua, phe đối lập đạt tỉ lệ phiếu bầu cao chưa từng có. Đảng Nhân Dân Hành Động (PAP), chấp chính từ khi Singapore giành được độc lập vào năm 1965, đắc cử với tỉ lệ phiếu bầu giảm xuống mức 60% từ mức 67% vào năm 2006.

Nhưng PAP vẫn xoay xở để chiếm được 81 trong tổng số 87 ghế đại biểu trong kỳ tranh cử này.

Lý Quang Diệu, vị quốc phụ và cựu thủ tướng có nhiệm kỳ dài nhất của Singapore, tỏ vẻ bức xúc và lập tức từ chức Nội Các Tư Chính [Cố Vấn Nội Các hay Bộ Trưởng Cố Vấn], một chức vụ mà ông bắt đầu nắm giữ từ năm 2004. Ngay sau đó, con trai ông, Thủ Tướng Lý Hiển Long, đã lên tiếng kêu gọi nhân dân tham gia công cuộc xây dựng một Singapore tốt đẹp hơn.

Ông cũng đưa ra nhận định rằng cuộc tuyển cử này là một bước ngoặt. Tình trạng thiếu thốn phòng ốc, hệ thống chuyên chở công cộng có nhiều vấn đề, hố giàu nghèo ngày càng lan rộng, và vấn đề dân nhập cư là những yếu tố dẫn đến thành tích tồi tệ chưa hề có trong lịch sử của PAP. Giai cấp thống trị của Singapore không quen bị chỉ trích. Ngài thủ tướng đã bình luận rằng: "... vấn đề không phải là chính sách hay chúng ta làm đúng hay sai, mà ai là người đảm trách, chấp chính." 

9. Nạn Buôn Lậu Người

Đối với Úc, năm 2011 đã bắt đầu và kết thúc hầu như bằng một cách thức giống hệt nhau. Nạn buôn lậu người và vấn đề dân nhập cư bất hợp pháp chi phối nghị trình của Úc với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Mã Lai, Nam Dương, và Thái Lan.

Kế hoạch trao đổi người tỵ nạn với Mã Lai bị Tối Cao Pháp Viện Úc vô hiệu hóa, trong khi đó nhiều tàu thuyền chuyên chở những lô hàng người quá tải từ Afghanistan, Iraq, Pakistan, và Sri Lanka vẫn tiếp tục cập bờ. Tình trạng này đã khiến một con tàu bị đắm chìm ở ngoài khơi Nam Dương, có lẽ đã khiến cho khoảng 180 người thiệt mạng.

Tuy nhiên, Thủ Tướng Julia Gillard vẫn cứ nhất định rằng đạt thỏa thuận với Mã Lai phối hợp với một giải pháp khu vực vẫn là sách lược tốt nhất để chống đối nạn buôn lậu người. Hơn 1.200 người xin tỵ nạn đang bị lưu giữ tại các cơ sở tạm giam trên đảo Christmas ngoài bờ biển tây bắc của Úc. 

10. Áng Thơ Hào Hùng Của Người Mã Lai Tại Luân Đôn 

Bằng vào đức tính tử tế, một thanh niên Mã Lai đã rất xứng đáng giành được cho mình một chỗ đứng trong các sự cố hàng đầu của năm 2011. Asyraf Haziq Rosli, một người có tiếng nói nhẹ nhàng, được quay phim trong lúc tâm trạng chưa hết bàng hoàng và vết thương còn nhỏ máu và đang được đỡ dậy sau khi bị đánh đập ở khu Đông Luân Đôn vào cao điểm của những đợt bạo động hồi tháng 8. 

Máy chụp hình bắt quả tang những kẻ rành rành là "người cứu hộ" nhưng lại đang lục lọi ba-lô của anh và cướp giựt bất cứ cái gì mà họ có thể. Tối thiểu phải có đến 3 triệu người chứng kiến hành vi hèn hạ này trên YouTube. Nhưng Rosli đã được tán thưởng vì phản ứng mà anh đã thể hiện sau khi anh và một người bạn bị khoảng 100 thiếu niên tấn công khiến anh bị bể hàm và gãy mất mấy cái răng. 

Có nguồn tin cho hay chàng thanh niên 20 tuổi này đã phát biểu rằng: "Tôi cảm thấy họ thật đáng thương ... Đó là điều đáng buồn, vì trong số đó có cả trẻ em, các bé trai ở bậc tiểu học. Quả đúng là chuyện gây sốc."

[Thủ Tướng] Cameron nhìn nhận rằng cảnh ngộ của Rosli đã nêu bật vì sao lại có nhiều chuyện "sai trái một cách tồi tệ trong xã hội của chúng ta." 

Tác giả: Luke Hunt
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: The Diplomat

Tháng 12, 2011 
Copyright © 2011 Nam Hải Trường Sơn



[ Đọc Tiếp ]

20 tháng 12, 2011

Tôn Tử Và Mưu Kế Quyền Lực Mềm (2)

Nhưng Khổng Tử cũng là một nhân vật có nhiều vấn đề. Mao Trạch Đông và các đồng chí của mình đã từng cho rằng triết lý của Khổng Tử là mớ hồ keo ý thức hệ của chế độ phong kiến mà họ đã hủy diệt; và bởi thế nỗ lực suy tôn Khổng Tử rất dễ gặp trở ngại trước tình trạng chia rẽ ngày càng gia tăng trong nội bộ ĐCSTQ. Vào đầu tháng giêng năm nay, với nhiều nghi thức rầm rộ, Viện Bảo Tàng Lịch Sử Quốc Gia đã làm lễ khánh thành một pho tượng đồng của Khổng Tử cao 9,5 mét đứng sừng sững trước cổng viện gần Thiên An Môn. Nhưng chỉ ba tháng sau pho tượng được lặng lẽ gỡ đi. Hình hài của vị thánh nhân nằm quá sát mảnh đất thiêng liêng nhất của chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc là điều khiến những kẻ theo đường lối cứng rắn phẫn nộ. Họ cho đó là một hành động lăng mạ Mao Trạch Đông, vị lãnh tụ có bức chân dung to tướng được treo ở góc đối diện.  

Ngược lại thanh danh của Tôn Tử không bị ô uế đến như thế. Tôn Tử là nhân vật duy nhất trong số các tư tưởng gia cổ đại của Trung Quốc đã sống sót qua thời kỳ cộng sản mà hầu như chẳng bị một vết xước nào. Vào thập kỷ 1970, ông được đưa ra làm gương trong công cuộc đấu tranh chống các nhà lãnh đạo mà Mao Trạch Đông chẳng ưa thích. Một tuyển tập chính trị tiêu biểu được xuất bản vào năm 1975 khẳng định rằng nghiên cứu Tôn Tử Binh Pháp có thể cung cấp một nguồn hướng dẫn hữu dụng cho "việc phê phán đường lối quân sự của những kẻ cơ hội chủ nghĩa hữu khuynh" cũng như "quan điểm phản động của giới Nho gia." Đảng vẫn giữ Khổng Tử ở vị trí hàng đầu trong công cuộc vận động quyền lực mềm, nhưng Tôn Tử cũng đang trên đà tiến triển.

Điều đó một phần là vì nhiệt tình hâm mộ Tôn Tử tại phương Tây đã khiến ông ta trở thành một món hàng dễ bán. Cuốn Tôn Tử Binh Pháp được giới diễn giả sau tiệc tối sử dụng rộng rãi mỗi khi thiếu thốn ý tưởng. Ví dụ, hãy xem (từ bản dịch Anh ngữ quyền uy được
xuất bản lần đầu tiên vào năm 1910 của Lionel Giles): "Chiếm đoạt nước địch trong trạng thái vẹn toàn là thượng sách, đánh phá nước địch là hạng thứ" [Phàm dụng binh chi pháp toàn quốc vi thượng, phá quốc thứ chi]; "Binh đao là đạo gian dối" [Binh giả quỷ đạo dã]; và "Việc làm tướng là phải lặng lẽ để được sâu kín, phải ngay thẳng để trị được người" [Tướng quân chi sự tịnh dĩ u, chính dĩ trị]. Tôn Tử đánh bại nghề làm pháo ống Nô-en đến cả 2.500 năm.

Tại phương Tây, lời khuyên của Tôn Tử hầu như đã được điều chỉnh để thích nghi với mọi khía cạnh giao tế của cuộc sống, từ phòng họp cho đến phòng ngủ. Ngành xuất bản thu hút lợi nhuận bằng các sản phẩm phụ chế biến từ binh pháp của Tôn Tử, cho phát hành ào ào những tác phẩm khích lệ tinh thần và hành động như Tôn Tử Để Thành Công: Vận Dụng Binh Pháp Nhằm Vượt Qua Thử Thách Và Hoàn Thành Những Mục Đích Trong Đời Bạn (Gerald Michaelson và Steven Michaelson, 2003), sách tư vấn trong ngành quản trị như Tôn Tử Cho Phụ Nữ: Binh Pháp Để Giành Thắng Lợi Trong Kinh Doanh (Becky Sheetz-Runkle, 2011), và mánh khóe trong lãnh vực thể thao như Gôn Và Binh Pháp: Những Chiến Lược Vượt Thời Gian Của Tôn Tử Có Thể Chuyển Hóa Kỹ Năng Chơi Của Bạn Như Thế Nào (Don Wade, 2006). Chỉ riêng loại bìa thường không thôi, nhà xuất bản Amazon cũng có đến cả 1.500 tên sách. Có người chứng kiến Paris Hilton (một danh nhân Hoa Kỳ và tác giả của một câu cách ngôn do chính cô tự sáng tác: "Đi đâu cũng phải ăn mặc cho duyên dáng, cuộc đời quá ngắn ngủi, chớ nên hòa trộn với thiên hạ") cũng rất say mê nghiên cứu Tôn Tử (xem hình).

Có phần trịnh trọng hơn, trong tác phẩm mới mang tựa đề Bàn Về Trung Quốc của mình, Henry Kissinger đã thố lộ về chuyện ông cảm thấy ngưỡng mộ nguồn trí tuệ chiến lược cổ đại mà quan chức Trung Quốc dường như đã vận dụng khi ông viếng thăm đất nước này vào thập kỷ 1970 trong vai trò cố vấn an ninh quốc gia của Hoa Kỳ. Ông ta ghi nhận rằng Mao Trạch Đông "dựa vào Tôn Tử nhiều hơn Lê-nin" trong quá trình đeo đuổi chính sách đối ngoại của mình. Đối với một số sử gia, Mao Trạch Đông là một kẻ chuyên chế bốc đồng đến mức nguy hiểm. Đối với Henry Kissinger, Mao "là một môn đồ của Tôn Tử có đủ trình độ để đồng thời tiến hành nhiều chiến lược tưởng chừng như mâu thuẫn lẫn nhau." Trong khi người phương Tây quý trọng khí phách anh hùng của kẻ sẵn sàng tham gia xung đột vũ lực, "lý tưởng của người Trung Quốc nhấn mạnh tính tinh tế, mánh lới gián tiếp, và lòng kiên nhẫn trong việc tích lũy ưu thế tương đối," như Kissinger đã bày tỏ nhiệt tình trong chương "Chính Trị Hiện Thực Kiểu Trung Quốc Và Tôn Tử Binh Pháp." Đó lời tán dương chân thành của một kẻ hành nghề chính trị hiện thực nổi tiếng của phương Tây, và sự tinh thông nghệ thuật ngoại giao phi ý thức hệ của Kissinger đã mở đường cho chuyến công du Trung Quốc của Tổng Thống Nixon vào năm 1972.  


Tuy nhiên nếu xét kỹ chúng ta sẽ thấy Tôn Tử có rất nhiều khuyết điểm trong chức năng của một công cụ xúc tiến quyền lực mềm. Nỗ lực tái tạo Tôn Tử thành một kẻ yêu chuộng hòa bình của Trung Quốc đã vấp váp vì tác phẩm của ông thực sự là một cuốn sách chỉ dẫn phương thức giành thắng lợi trong chiến tranh, được quân đội Hoa Kỳ háo hức nghiên cứu cũng như Mao Trạch Đông đã từng làm lúc sinh thời. Sam Crane của Đại Học Williams tại Massachusetts cho hay khi vụ xì-căng-đan của trại tù Abu Ghraib xảy ra tại Iraq, ông rất hài lòng về việc giảng giải cho sinh viên theo học các cua Tôn Tử do ông phụ trách (một số đang chuẩn bị nhập ngũ) hay rằng Tôn Tử Binh Pháp khuyên nhủ rằng tù binh cũng phải được đối đãi nhân đạo. Nhưng ông lại nói thêm: "Tôi nghĩ điều khiến [tác phẩm này] có sức hấp dẫn rộng rãi, theo chiều hướng tàn nhẫn, là chiến tranh và ganh đua. Chiến tranh không phải là một khái niệm của phương Tây: người Trung Quốc thực sự tinh thông chiến tranh đã từ lâu."

Các chiến lược gia Hoa Kỳ thường xuyên nghiên cứu Tôn Tử Binh Pháp để tìm hiểu Trung Quốc, không phải trong vai trò của một quốc gia thi thố quyền lực mềm có sức thu hút và thuyết phục, mà trong tiềm năng của một kình địch. Vào năm 2009, thiếu tá Richard Davenport, một sĩ quan tâm lý chiến thuộc Bộ Tư Lệnh Trung Ương Lục Quân Hoa Kỳ, đã bình luận trên Tạp Chí Quân Lực rằng Trung Quốc đang dùng binh pháp của Tôn Tử để tiến hành chiến tranh mạng trong mục tiêu chống đối Hoa Kỳ. Câu trích dẫn cáo buộc tội trạng của họ là: "Binh pháp tối thượng là công kích chiến lược của địch" [Thượng binh phạt mưu]. 

Lý do khiến vị thánh nhân này được quần chúng ở phương Tây mến mộ phần lớn vẫn nhờ vào Hollywood, cội nguồn của đại bộ phận quyền lực mềm của Hoa Kỳ, chứ không phải là do nỗ lực của chính Trung Quốc. John Minford, người có một bản dịch được xuất bản vào năm 2002, cho hay cuốn sách này đã chiếm địa vị "thần bí" trong giới sinh viên ngành kinh doanh kể từ khi Gordon Gekko (một kẻ gian ác chuyên cướp đoạt công ty của người khác trong bộ phim "Phố Wall" do Michael Douglas đóng vai) sử dụng một lời trích từ Tôn Tử Binh Pháp ("Trong mọi cuộc chiến, cần phải nắm lấy tiên cơ thắng lợi trước khi đánh" [Tiên thắng nhi hậu cầu chiến]).

Giáo sư Minford cho hay tình huống đó đã khiến ông băn khoăn. "Tôi phải vật lộn với tác phẩm này như một anh thợ hầm than cố đào bới để tìm hiểu ý nghĩa của nó, vật lộn với chính văn bản tiếng Trung, và đây là một cuốn sách tuy nhỏ bé nhưng rất quái lạ và hết sức đáng ghét vì nó cực kỳ hỗn độn, gói ghém một chuỗi gồm nhiều mảnh văn bản rất có khả năng đã bị chế biến và được lặp đi lặp lại nhiều lần nhưng chẳng có ý nghĩa gì nhiều." Ông gọi tập sách nhỏ này (mà ai thực sự là tác giả vẫn còn là điều đang được tranh cãi) "về cơ bản là một cuốn chỉ nam kiểu phát-xít nhằm hướng dẫn cách dùng những ý tưởng khả thi để hủy diệt hoàn toàn đồng loại của mình."


Một số người Trung Quốc công khai phát biểu rằng dùng văn hóa cổ đại để xúc tiến quyền lực mềm là một chủ ý không tốt lắm. Bàng Trung Anh của Đại Học Nhân Dân nhận định rằng nó không thể hỗ trợ việc tăng cường thế đứng của Trung Quốc ở hải ngoại. Ngược lại, ông Bàng, một cựu viên chức ngoại giao, cho rằng điều đó đã làm nổi bật tình trạng mà ông gọi là "nạn bần cùng về tư tưởng" trong hiện tại của Trung Quốc. "Không có một mô hình Trung Quốc nào cả, [bởi thế] người ta phải quay về quá khứ để nhờ vào Khổng Tử và nhờ vào Tôn Tử." Ông Bàng lý luận rằng dân chủ là cội nguồn tốt đẹp nhất của quyền lực mềm. Nhưng Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào dửng dưng chẳng màng ngó ngàng đến ý niệm đó.    

Theo quan điểm của ông Nye, quyền lực mềm của một quốc gia có nhiều cơ hội thành công hơn khi nền văn hóa của quốc gia này bao hàm nhiều "giá trị phổ cập" và thực thi nhiều chính sách để "xúc tiến những quyền lợi mà các quốc gia khác chia sẻ." Nhưng cuộc vận động quyền lực mềm của Trung Quốc đang được tiến hành đồng thời với quyết tâm loại trừ quan điểm giá trị phổ cập ngày càng mạnh mẽ của các lãnh tụ Trung Quốc. Trong giới lãnh đạo đảng, Thủ Tướng Ôn Gia Bảo là người tiến xa hơn cả trong việc ủng hộ lập trường của những người tuyên dương chủ thuyết phổ cập, nhưng tiếng nói của ông chỉ là tiếng nói của kẻ cô độc.

Tại huyện Huệ Dân, chí ít, ông Ôn dường như cũng có người ủng hộ. Năm ngoái, cuộc hội thảo về Tôn Tử được tổ chức hàng năm tại huyện này có tiêu đề là "Giá trị phổ cập trong Tôn Tử Binh Pháp và ứng dụng [của binh thư này] trong các lãnh vực phi quân sự." Nhưng điều mà quan chức địa phương quan tâm hơn là rồ máy để khởi động nền kinh tế của Huệ Dân, nơi mà màu sắc rực rỡ trước mặt tiền của nhà hàng McDonald's mở cửa 24 giờ mỗi ngày đã bùng lên để mang lại sinh khí cho con phố chính vốn rất ảm đạm này. Tôn Tử được xem là động cơ có tiềm năng mới của nguồn tăng trưởng; khả năng thu hút du khách đến viếng vùng nông thôn nước đọng này. Thành Tôn Tử Binh Pháp, một khu liên hợp rộng mênh mông có nhiều kiến trúc mô phỏng kiểu cung đình, được huyện chính thức đưa vào hoạt động với một phí tổn xây dựng ở mức 65 triệu yuan (7,9 triệu Mỹ kim); đây chính là nơi mà buổi lễ sinh nhật ướt sũng nước mưa năm nay đã được tổ chức. Khu vực đô thị chính của Huệ Dân cũng có danh xưng mới là Tôn Vũ (tên thật của Tôn Tử).

Nhưng bãi đậu xe rộng bao la và trống trải ở bên ngoài Thành Tôn Tử Binh Pháp và những đình viện gần như vắng teo ở bên trong là dấu hiệu cho hay Huệ Dân đang vất vả. Và sự cạnh tranh mãnh liệt từ huyện Quảng Nhiêu nằm cách đây 100 ki-lô-mét cũng chẳng có ích gì cho Huệ Dân. Trong mấy năm gần đây người Quảng Nhiêu đã đưa ra tuyên bố đối địch rằng xứ sở họ mới là nguyên quán của Tôn Tử. Nhờ vào các ngành công nghệ hóa dầu, sản xuất lốp xe, và làm giấy, huyện này đã trở nên giàu có hơn Huệ Dân rất nhiều và vào tháng 6 vừa qua Quảng Nhiêu đã cử hành lễ đặt nền đá để chuẩn bị xây dựng một công viên chủ đề Tôn Tử cho riêng mình. Giới truyền thông Trung Quốc báo cáo rằng công viên này được dự tính sẽ khai trương vào năm 2013 với một mức phí tổn khổng lồ là 1,6 tỉ yuan (250 triệu Mỹ kim). 

Nhưng Quảng Nhiêu cũng sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển hóa Tôn Tử thành một biểu tượng của quyền lực mềm. Vào tháng 4 năm nay, tại Thượng Hải, khoảng 700 ki-lô-mét về phía Nam, Disney cũng đã cử hành lễ động thổ tại địa điểm xây dựng một công viên giải trí mà công ty này cho hay nét đặc trưng sẽ là một lâu đài Disney lớn nhất thế giới, với một phí tổn được dự tính đạt mức 24 tỉ yuan và sẽ hoàn thành trong vòng 5 năm. Trong một bài bình luận được phát hành trên trang mạng của mình, Tân Hoa Xã, cơ quan thông tấn của chính quyền, đã gọi những công viên chủ đề như thế là "một bình đài lớn cho việc cạnh tranh quyền lực mềm giữa các quốc gia." Một blog được nhiều trang mạng khác chuyển đăng rộng rãi nhận định một cách ảm đạm hơn: Quyền lực mềm của Hoa Kỳ "đã chinh phục 5.000 văn hiến hoằng vĩ của Trung Quốc."    

Tôn Tử có một câu cách ngôn rất thích hợp cho hoàn cảnh khốn khó của Trung Quốc: "Biết người, biết ta, trăm trận không nguy" [Tri kỷ, tri bỉ, bách chiến bất đãi]. Nếu Trung Quốc muốn tạo ảnh hưởng trên trường quốc tế, họ cần phải suy nghĩ chín chắn về các giá trị đang được xúc tiến ngay tại quốc nội. 

Trở lại phần 1

Nguồn: The Economist
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn

ooOoo
[ Đọc Tiếp ]

18 tháng 12, 2011

Tôn Tử Và Mưu Kế Quyền Lực Mềm (1)

Trung Quốc đang sử dụng một công cụ mới để tăng cường ảnh hưởng trên trường quốc tế. Nhưng liệu đó có phải là loại công cụ thích đáng chăng?


Nỗ lực tăng cường tiến trình xây dựng sức quyến rũ mang tính toàn cầu của Trung Quốc đã nung nấu nhiệt huyết của quan chức địa phương tại huyện Huệ Dân thuộc vùng châu thổ sông Hoàng Hà. Thanh niên nam nữ mặc quân phục thời cổ diễu hành trên sân khấu lộ thiên ướt sũng nước mưa. Họ biểu diễn để tôn vinh Tôn Tử, một chiến lược gia sống vào thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên của Trung Quốc, và tác giả của nhiều câu cách ngôn súc tích mà giới đạo sư trong lãnh vực quản trị ở khắp nơi trên thế giới ngày nay hết mực mến mộ. Cán bộ địa phương ngồi trên ghế nhựa khắc khổ chịu đựng quang cảnh ướt át.

Huyện Huệ Dân tự xem mình là nguyên quán của Tôn Tử, và như vậy là cội nguồn của một loại trí tuệ xưa cổ mà giới quan chức Trung Quốc tin tưởng có thể thuyết phục thế giới về sức hấp dẫn của đất nước họ. Buổi trình diễn ướt át này kỷ niệm ngày mà họ cho là sinh nhật của Tôn Tử. Ban tổ chức cố gắng khuấy động nhiệt tình bằng nhiều tràng pháo hoa và một màn ảnh số mã khổng lồ nhấp nháy chiếu sáng những bức chân dung của vị thánh nhân râu dài này và tác phẩm mỏng mảnh của ông—Tôn Tử Binh Pháp—một cuốn sách nhỏ với nội dung chỉ khoảng 6.000 chữ. Dưới thềm vải bạt, các phóng viên từ cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, tờ Nhân Dân Nhật Báo, truyền tải dòng video đang được quay trực tiếp vào trang mạng của họ. Thế giới sẽ được xem nội dung đoạn phim này, mặc dù hầu hết người địa phương đều quyết định ở nhà. 

Một cuộc hội thảo về Tôn Tử đang được tiến hành tại một khách sạn địa phương. Đại tá Lưu Xuân Chí từ Đại Học Quốc Phòng Trung Quốc (và cũng là thành viên ban lãnh đạo của Hội Nghiên Cứu Tôn Tử Binh Pháp) phát biểu trước cử tọa tham gia hội nghị năm nay rằng Tôn Tử là một bộ phận trực thuộc "nguồn tài sản của nhân dân thế giới." Ông cho hay việc quảng bá tác phẩm của Tôn Tử là "một bước quan trọng trong tiến trình tăng cường quyền lực mềm của Trung Quốc." Tôn Tử có lẽ đã viết nhiều về mưu kế chiến tranh, nhưng các học giả nhóm họp tại Huệ Dân ưa suy tôn ông ta là một người phản chiến hơn. Bằng chứng họ nêu ra là một trong những nhận thức nổi tiếng của Tôn Tử: "Kẻ dùng binh giỏi không cần đánh cũng có thể chinh phục được quân địch" [Thiện dụng binh giả khuất nhân chi binh nhi phi chiến dã]. Giới hâm mộ Tôn Tử tại Trung Quốc đặt vấn đề còn có bằng chứng gì tốt hơn việc đất nước họ luôn luôn yêu chuộng hòa bình?

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc, trong quyết tâm thuyết phục Hoa Kỳ rằng họ chẳng có ác ý, đã chiêu mộ Tôn Tử vào đội ngũ phục vụ cho mục tiêu của mình. Vào năm 2006, Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào đã trao tặng Tổng Thống George Bush hai cuốn Tôn Tử Binh Pháp bằng tiếng Anh và tiếng Trung được in trên lụa (dường như không phải là để kiến nghị những phương thức tác chiến tốt hơn tại Afghanistan và Iraq, mà để ám chỉ rằng ngay từ đầu Hoa Kỳ đáng lý ra cũng chẳng cần phải tiến hành chiến tranh.) Vào năm 2009, Giá Khánh Lâm, nhân vật xếp hạng thứ tư trong Ban Thường Vụ Bộ Chính Trị, cơ quan lãnh đạo tối cao của đảng, đã phát biểu rằng Tôn Tử cần được dùng để xúc tiến "nền hòa bình dài lâu và nguồn thịnh vượng chung." Vào tháng 7 năm nay, nhân dịp Đô Đốc Michael Mullen, tổng tham mưu trưởng quân đội Hoa Kỳ, viếng thăm thủ đô Trung Quốc, Đại Học Nhân Dân tại Bắc Kinh cũng đã trao tặng ông một cuốn Tôn Tử Binh Pháp.

Người Trung Quốc có truyền thống tự hào về Tôn Tử. Mao Trạch Đông là một người hâm mộ nổi bật, thậm chí đến độ phải phái nhân viên vào vùng đất địch trong thời nội chiến để tìm cho được một cuốn Tôn Tử Binh Pháp. Nhưng đảng chỉ mới chộp lấy ý niệm tạo dựng quyền lực mềm trong khoảng thời gian tương đối gần đây. Quyền lực mềm là một thuật ngữ do Joseph Nye sáng chế cách đây 20 năm để biểu thị "khả năng thu đạt những gì mình muốn bằng sức hấp dẫn chứ không phải bằng cưỡng bức hay mua chuộc." Joeseph Nye, một giáo sư người Hoa Kỳ của Đại Học Havard, là cựu chủ tịch Hội Đồng Tình Báo Quốc Gia Hoa Kỳ và nhân viên cao cấp của Ngũ Giác Đài. Khi Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào sử dụng thuật ngữ này lần đầu tiên vào năm 2007, nó đã đánh dấu một sự chuyển hướng tư duy của đảng. Trong suốt thập kỷ 1990 và bước sang đầu thế kỷ này, Trung Quốc luôn luôn hô hào khẩu hiệu "lấy kiến thiết kinh tế làm hạch tâm." Trong thập kỷ vừa qua tiến trình xây dựng quyền lực mềm đã trở thành một sách lược ưu tiên mới của đảng. 

Chính Joseph Nye đã vạch ra mối liên kết giữa quyền lực mềm và Tôn Tử trong cuốn The Powers to Lead [Quyền Lực Lãnh Đạo], một tác phẩm được xuất bản vào năm 2008 của ông. Ông cho hay Tôn Tử đã kết luận rằng "tính ưu việt cao nhất là không bao giờ phải đánh nhau vì phát động chiến tranh có nghĩa là đã thất bại về mặt chính trị." Theo nhận định của ông, để trở thành một chiến sĩ "trí năng" ai cũng cần phải am hiểu "sức hấp dẫn của quyền lực mềm cũng như tính cưỡng bức của quyền lực cứng."

Có lẽ Hồ Cẩm Đào đã không công khai tiếp nhận thuật ngữ của Joseph Nye một cách nhanh nhẹn, nhưng sau khi nhậm chức vào năm 2002, ông đã bắt đầu nỗ lực tạo dựng một loại nhãn hiệu có sức hấp dẫn hơn cho Trung Quốc. Vào tháng 6 năm 2003, một tiểu tổ bao gồm một số quan chức cao cấp trong guồng máy tuyên truyền và các chuyên gia trong ngành chính sách đối ngoại nhóm họp lầu đầu tiên tại Bắc Kinh để thảo luận tầm quan trọng của quyền lực mềm. Cuối năm đó, họ bắt đầu cho chào hàng một thuật ngữ mới để miêu tả tiến trình phát triển của Trung Quốc: "quật khởi hòa bình." Thông điệp của họ là Trung Quốc sẽ trở thành một trường hợp ngoại lệ của mô hình lịch sử mà qua đó các cường quốc đang trỗi dậy thường hay xung đột với các cường quốc đã được thiết lập từ lâu. Chỉ trong vòng vài tháng sau khi phát động khẩu hiệu này, giới quan chức Trung Quốc lại quyết định sửa đổi. Họ e rằng ngay cả ngôn từ "quật khởi" nghe ra cũng có vẻ đe dọa quá mức. Bởi thế thuật ngữ này được sửa thành "phát triển hòa bình." Hồ Cẩm Đào tiếp nhận ngôn từ "hòa hài" và thường xuyên lồng vào trong những bài diễn văn của mình nhiều tham chiếu về tiến trình đeo đuổi "thế giới hòa hài" và "xã hội hòa hài" của Trung Quốc.

Kết quả là một hỗn hợp tốt có, xấu có. Với các quốc gia giàu có đang trên đà sa sút, mô hình kinh tế của Trung Quốc trông có vẻ rất hữu hiệu. Sự phát triển do nhà nước cũng như thị trường lèo lái dường như đang mang lại nhiều lợi nhuận, và mức thành công của Trung Quốc đã góp phần quảng bá ý niệm cho rằng hệ thống xí nghiệp quốc doanh cần đóng một vai trò lớn lao trong nền kinh tế. Giới thương gia khắp thế giới đều ngưỡng mộ hiệu suất trong cả lãnh vực công cộng lẫn tư doanh tại Trung Quốc. Nguồn đầu tư của Trung Quốc tại châu Phi đã mang lại cho lục địa này một mối khích lệ đáng hoan nghênh. Nhưng mô hình kinh tế không thể tách rời mô hình chính trị; và, như Mùa Xuân Ả Rập đã minh chứng, chủ nghĩa chuyên chế ít có sức hấp dẫn tại phương Tây hoặc các nơi khác. Quyền lực cứng của Trung Quốc, trong khía cạnh tiền mặt, chắc chắn là đang gia tăng; nhưng việc sử dụng quyền lực này một cách thiếu thận trọng đã khiến Trung Quốc không thu hút được lòng khâm phục của các nước khác. Hành vi hung hăng của Trung Quốc tại hội nghị biến đổi khí hậu Copenhagen vào năm 2009, tranh chấp về quyền đánh cá với Nhật Bản vào năm 2010, và thái độ càng quyết đoán hơn trong thời gian gần đây tại Biển Đông đã tạo nên một nỗi bất an sâu đậm về bản chất của quyền lực đang phát triển không ngừng này, đặc biệt là đối với các nước láng giềng trước kia đã từng xem sự trỗi dậy của Trung Quốc chủ yếu là ôn hòa. Những mối quan ngại đó đang trở nên nghiêm trọng hơn trước nỗ lực kiên quyết của Trung Quốc nhằm đàn áp giới bất đồng chính kiến, kiểm soát mạng Internet, và bóp nghẹt sức tăng trưởng của xã hội dân sự tại quốc nội. 

Nhưng đó không phải là chiều hướng nhận thức của đảng. Sau một hội nghị được tổ chức vào hồi tháng 10 năm nay, Ủy Ban Trung Ương Đảng tuyên bố rằng cuộc vận động quyền lực mềm đã gặt hái được "nhiều lợi ích minh hiển." Nhưng cơ quan này nhận định rằng Trung Quốc cần có thêm nhiều nỗ lực khẩn cấp. Ngôn từ "hòa hài" bây giờ được sử dụng rộng rãi trong giới thường dân Trung Quốc để tỏ ý mỉa mai việc đàn áp người bất đồng chính kiến. Ở hải ngoại, quan chức chính phủ đang cố gắng lôi kéo khán giả phương Tây bằng cách bỏ ra hàng tỉ Mỹ kim để thành lập những công ty truyền thông khổng lồ có tầm hoạt động khắp toàn cầu nhằm cạnh tranh với quyền lực mềm của các thương hiệu như CNN và Thời Báo Nữu Ước. Vào tháng giêng năm nay, một viên chức tuyên truyền cấp tỉnh đã phàn nàn rằng Hoa Kỳ, với chỉ 5% dân số địa cầu, lại "kiểm soát" đến khoảng 75% tổng số chương trình truyền hình của thế giới. Ông ta viết thêm: "Kết hợp với sức ảnh hưởng của các thương hiệu và sản phẩm như Hollywood, Kentucky Fried Chicken, McDonald's, quần dzin và Coca-Cola, nền văn hóa Hoa Kỳ hầu như đã lan tràn khắp thế giới."

Nền văn hóa đương đại không có sức hấp dẫn toàn cầu của Trung Quốc đang khiến đất nước này khập khiễng. Âm nhạc của họ thu hút rất ít người hâm mộ ở hải ngoại; sự thật là chính thế hệ trẻ của Trung Quốc có khuynh hướng yêu chuộng ca nhạc sĩ từ Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, và Hoa Kỳ hơn. Ý thức hệ chính trị của họ chẳng có bao nhiêu tín đồ: Ấn tượng đặc sắc mà Mao Trạch Đông và cuốn Hồng Bảo Thư đã mang lại cho phong trào phản văn hóa tại phương Tây vào thập kỷ 1960 giờ đây cũng không còn. Dù có nhịp quân hành của các chiến sĩ Tôn Tử trong buổi trình diễn tại huyện Huệ Dân, giới quan chức bây giờ đã nhận thức rõ ràng rằng muốn tiếp thị Trung Quốc ở hải ngoại họ phải tránh né việc đề cập đến chủ nghĩa chuyên chế. Đảng và ý thức hệ cộng sản hầu như chẳng hề được nhắc đến trong các tiết mục biểu diễn ngoạn mục của buổi lễ khai mạc Thế Vận Hội Bắc Kinh vào năm 2008. Vì hiện tại là một món hàng khó bán, Trung Quốc đang phải dựa vào quá khứ xa xăm một cách nặng nề. 

Trung Quốc vẫn chưa chịu đầu tư vào quan niệm của Joseph Nye cho rằng quyền lực mềm chủ yếu xuất phát từ cá nhân, lãnh vực tư doanh, và xã hội dân sự. Bởi thế chính phủ đứng ra suất lĩnh việc xúc tiến phong trào suy tôn các ngẫu tượng văn hóa thời cổ mà họ nghĩ là có sức hấp dẫn toàn cầu. Nhưng ngay trong kế hoạch này, sự lựa chọn của đảng cũng rất bị hạn chế. Phật giáo, dẫu sao cũng là một sản phẩm nhập khẩu từ ngoại quốc, đã bị đức Đạt Lai Lạt Ma chiếm độc quyền. Cả Phật giáo lẫn Đạo giáo, một tôn giáo bản xứ, đều đang ở trong tình trạng đứng ngồi không yên bên cạnh học thuyết vô thần của đảng. Điều này có nghĩa là số lượng các nhân vật mà chính quyền có thể lựa chọn chỉ còn lại một nắm nhỏ.

Đứng ở hàng đầu là Khổng Tử. Người phương Tây chẳng mấy ai có thể trích dẫn ngôn từ của Khổng Tử. Nhưng chí ít hầu hết đều biết rằng ông già có bộ râu dài này là tác giả của nhiều câu cách ngôn thông thái, thâm thúy hơn chủ thuyết tiêu dùng thô thiển của Hoa Kỳ rất nhiều. Đảng đang quảng cáo Khổng Tử như một loại Ông Già Nô-en đã được loại trừ tính vui nhộn thiếu trang trọng ấy; một vị thánh nhân mà vai trò xúc tiến chủ nghĩa chuyên chế tại Trung Quốc trong nhiều thế kỷ được đảng che đậy nhằm tuyên dương những câu kinh văn nghe có vẻ rất thoải mái trong triết học của ông ta như: nhân, nghĩa, và hòa hài (một khái niệm rất quan trọng đối với Hồ Cẩm Đào). Bởi thế Trung Quốc đã dùng tên của Khổng Tử để đóng nhãn cho các học viện huấn luyện ngôn ngữ mà họ bắt đầu thành lập ở hải ngoại vào năm 2004. Hiện tại khắp thế giới đã có hơn 300 Học Viện Khổng Tử, với khoảng một phần tư hoạt động ngay tại Hoa Kỳ. 

Xem tiếp phần 2

[ Đọc Tiếp ]

13 tháng 12, 2011

Việt Nam Đang Đối Mặt Với Khủng Hoảng Kinh Tế?

Khi những ngọn đèn đường đang ấm lên trong ánh sáng lờ mờ ở bên ngoài để đưa tiễn hoàng hôn chìm vào bóng đêm, Trang Hoàng Yến vẫn ngồi kéo áo thun dưới giàn máy may trong lúc hầu hết các công nhân của cô đã về nhà.

Ngừng làm việc vài phút để trò chuyện, cô cho hay: "Thông thường có nhiều công nhân hơn, nhưng tình hình năm rồi rất khó khăn cho ngành nghề của chúng tôi."

Tọa lạc trên một con đường phụ tại Thành Phố Hồ Chí Minh, công xưởng nhỏ của Trang Hoàng Yến trước kia đã từng có những tháng ngày huy hoàng hơn. Với số lượng nhân viên từ mức 30 người vào hồi năm ngoái giảm xuống chỉ còn 14 người, cô cho hay hiện tại chi phí nhập lượng của công ty "đã leo thang và phí tổn sản xuất đã gia tăng gấp đôi."

Lạm phát tại Việt Nam đạt mức 23% trong tháng 8, nhưng từ đó đến nay đã gảm bớt chút ít và hiện đang nằm dưới đường ranh 20%. Trong nỗ lực giảm nhiệt cho nền kinh tế đang đối mặt với nguy cơ nóng quá độ, chính phủ Việt Nam đã thực thi một số biện pháp đối phó, mặc dù có vài nhà phân tích cho hay nước sôi sùng sục đã làm văng nắp nồi rồi. Lượng dự trữ ngoại hối của Việt Nam đang trên đà sa sút, và đất nước này phải đương đầu với mức thâm hụt mậu dịch khoảng 10 tỉ Mỹ kim trong năm 2012, theo nguồn tin của chính phủ.

Như vậy, liệu các phương án cải tổ, bao gồm việc hạn chế tín dụng và gia tăng tỉ lệ tiền lời, có đủ sức để làm mát tình hình hay không? Một số nhà phân tích cho là không đủ.  

Trong lời phát biểu tại một hội nghị của các quốc gia và tổ chức tài trợ vào ngày 6 tháng 12 tại Hà Nội, đại biểu thường trú của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, Sanjay Kalra, đã đưa ra một nhận định rõ ràng về vấn đề này: "Chính phủ cần có hành động nhanh chóng và dứt khoát nhằm bảo đảm tính lành mạnh của guồng máy tài chánh trong khi tái thiết ổn định cho nền kinh tế vĩ mô." 

Các bình luận khác tại diễn đàn này tập trung vào nhu cầu cải tổ hệ thống ngân hàng, việc tư hữu hóa các xí nghiệp do nhà nước làm chủ, và ngăn chận nạn tham nhũng. Việt Nam xếp hạng 112 trong tổng số 182 quốc gia được điều tra trong chỉ số hối lộ toàn cầu mới nhất của tổ chức Minh Bạch Quốc Tế, vừa được công bố vào tháng trước.

Một số nước tài trợ đã lên tiếng về thành tích tồi tệ của Việt Nam trong lãnh vực nhân quyền và tự do ngôn luận, với nhiều luật sư, nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động xã hội, blogger, và thường dân tham gia biểu tình thường xuyên bị bắt bớ và tống tù. Đại Sứ Stale Torstein Risa của Na Uy đã bày tỏ với Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng rằng nới lỏng hạn chế chính trị trong nhà nước độc đảng Việt Nam có thể góp phần xây dựng một nền kinh tế lành mạnh hơn.

Hiện tại, Việt Nam dường như đang đứng trước một bước ngoặt kinh tế, có lẽ mang nhiều dấu ấn tương tự thập kỷ 1980, khi quốc gia này bắt đầu thực thi chính sách đổi mới và mở cửa kinh tế để thu hút nguồn đầu tư từ nước ngoài, đi theo con đường chuyên chế chính trị và tự do kinh tế của Trung Quốc. Việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ trong năm 1995 khiến địa vị "ngôi sao đang lên" của Việt Nam sáng loáng thêm, cuối cùng dẫn đến kết quả Hà Nội gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới vào năm 2007.

Trong một buổi tiệc trưa nhằm khoản đãi các nhà đầu tư Ái Nhĩ Lan tại Hà Nội vào ngày 28 tháng 11, Thứ Trưởng Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư Cao Viết Sinh cho hay hiện tại có 13.450 dự án đầu tư tại Việt Nam và nói thêm rằng chính phủ hy vọng sẽ thu hút thêm nhiều dự án nữa trong những năm sắp tới. 

Các thương hiệu như Intel, Honda, và Nike đều đã mở nhiều nhà máy lớn tại Việt Nam. Sức hấp dẫn của Việt Nam đối với những công ty đầu tư ngoại quốc một phần là dựa vào lực lượng lao động rẻ tiền, được Phòng Thương Mại Châu Âu tại Việt Nam ước tính là thấp hàng thứ nhì tại châu Á, chỉ đứng sau Campuchia, và như vậy có sức thu hút mạnh mẽ đối với giới đầu tư trong các ngành nghề cần nhiều sức lao động như áo quần và giày dép.

Tuy nhiên đây chỉ là những ngành nghề có mức phí tổn cũng như giá trị tích lũy thấp, và liệu một nền kinh tế tiếp cận khủng hoảng có thể tiếp tục thu hút đầu tư và quá độ sang lãnh vực chế tạo các sản phẩm tinh vi hơn hay không vẫn còn là một vấn đề chưa biết được. Du lịch là một ngành nghề có tiềm năng tăng trưởng khác của Việt Nam, căn cứ vào bảng so sánh số lượng du khách đến thăm Việt Nam và hai nước láng giềng Thái Lan và Mã Lai trong năm 2010: khoảng hơn 5 triệu cho Việt Nam, 14,15 triệu cho Thái Lan, và 23,65 triệu cho Mã Lai. Du lịch chiếm khoảng 4% của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, khác với quy định đòi hỏi du khách phải xin thị thực nhập cảnh trước hoặc phải xếp hàng xin thị thực nhập cảnh ngay sau khi đến nơi của chính phủ Việt Nam, Thái Lan và Mã Lai cho phép họ cư ngụ trong vòng một tháng mà không cần thị thực nhập cảnh.

Dương Sinh Sơn làm chủ một "khách sạn gia đình" tại làng Hin ở ngoài rìa một công viên quốc gia tại tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội khoảng 3 giờ xe. Viễn cảnh tràn trề ấn tượng của những sườn đồi và thung lũng ruộng lúa xanh mơn mởn biến nơi đây thành một địa điểm ngoạn mục và rẻ tiền để phục vụ khách đi bộ đường dài, xa lìa những con đường sờn cũ tại Vịnh Hạ Long và Sapa.

Ngồi bắt chân chữ ngũ trong lòng nhà sàn tre, Dương Sinh Sơn nói rằng kể từ khi mở cửa cho đến nay mỗi năm ông có khoảng từ 200 đến 300 du khách. Với giá 7 đô một đêm, ông hy vọng sẽ thu hút nhiều du khách hơn, nhưng điều đó phụ thuộc vào sức thu hút thêm du khách của Việt Nam, giữa lúc mức cạnh tranh trong vùng ngày càng gia tăng và quyết liệt hơn. Là một đất nước đang hướng về cải cách, Miến Điện rất có khả năng sẽ trở thành một điểm đến với sức thu hút ngày càng mạnh mẽ trong những năm tới.

Gạt những vấn nạn gần đây và những thử thách lù lù trước mắt sang một bên, nền kinh tế của Việt Nam vẫn đang tăng trưởng, khoảng 6,5% trong năm 2010; và Ngân Hàng Thế Giới dự báo tỉ lệ đó chỉ giảm khoảng 1% trong năm 2012. Tuy vậy, nhưng tăng trưởng chỉ là những con số trừu tượng đối với những người làm chủ doanh nghiệp nhỏ và quần chúng Việt Nam đang cố gắng kiếm đủ tiền sống qua ngày, đặc biệt là trong tình trạng lạm phát đang lùa người dân xuống dưới mức bần cùng. Đối với Trang Hoàng Yến, thời kỳ khốn khó dường như đã chuẩn bị sẵn sàng để cứ tiếp tục. Nhưng khi cúi đầu hướng về phía bức Thánh Tâm treo trên cửa xưởng, cô nói thêm rằng: "Tạ ơn Chúa, thỉnh thoảng vận tốt cũng có thể xảy ra."

Một đơn đặt hàng cho 5.000 chiếc áo thun trơn dành cho thị trường Nô-en vừa nhận được từ Na Uy đang giữ cô bận bịu — và giúp cho công việc làm ăn có thể tiếp tục vận hành mặc dù đang gặp nhiều khó khăn do tình trạng lạm phát gây ra. "Tôi muốn nới rộng doanh nghiệp này, nhưng chuyện đó phải đợi cho đến khi tình hình trở nên tốt hơn," cô kết luận.

Simon Roughneen, The Diplomat
Nam Hải Trường Sơn chuyển ngữ

[ Đọc Tiếp ]

11 tháng 12, 2011

Trung Quốc Vẫn Là Gã Đông Á Bệnh Phu

Cuộc Khủng Hoảng Y Tế Của Trung Quốc

Mặc dù Trung Quốc đã gặt hái nhiều tiến bộ đáng kể về mặt kinh tế trong mấy thập kỷ vừa qua, nhưng tình trạng sức khỏe của công dân đất nước này lại không được cải thiện một cách tương xứng. Từ năm 1980 cho đến nay, Trung Quốc vẫn duy trì đều đều một tỉ lệ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm ở mức 10% và họ đã đưa khoảng 400-500 triệu dân thoát khỏi cảnh bần cùng. Nhưng theo số liệu thống kê của chính phủ Trung Quốc thì tuổi thọ trung bình của người dân chỉ gia tăng 5 năm trong giai đoạn 1981-2009, từ khoảng 68 tuổi lên 73 tuổi. (Trong giai đoạn 1949-1980, tuổi thọ trung bình của người Trung Quốc tăng đến gần 33 năm.) Tại các quốc gia có mức tuổi thọ trung bình tương đương với Trung Quốc vào năm 1981 nhưng có tỉ lệ tăng trưởng kinh tế chậm hơn Trung Quốc trong những năm sau đó—ví dụ như Colombia, Mã Lai, Mễ Tây Cơ, và Nam Hàn—vào năm 2009 tuổi thọ trung bình của họ gia tăng từ 7-14 năm. Theo báo cáo của Ngân Hàng Thế Giới, ngay cả Úc, Hồng Kông, Nhật Bản, và Singapore, những nơi có mức tuổi thọ trung bình cao hơn Trung Quốc rất nhiều vào năm 1981, cũng có mức tăng trưởng tuổi thọ từ 7-10 năm trong giai đoạn này.

Gánh bệnh tật đang đè nặng trên vai Trung Quốc cũng là một cảnh tượng khiến cho người ta ưu lo. Giống như nhiều nước kém phát triển khác, Trung Quốc vẫn còn phải chống chọi với vô vàn đe dọa của vi khuẩn và vi-rút, bao gồm HIV/AIDS, lao phổi, viêm gan, và chó dại. Ví dụ, hơn 130 triệu người tại Trung Quốc mắc chứng viêm gan siêu vi B (HBV)—chiếm 1/3 tổng số bệnh nhân HBV của toàn thế giới. Trong khi đó các loại bệnh kinh niên không truyền nhiễm, một đặc trưng của các nước phát triển, lại đang trở thành một vấn đề càng khó giải quyết hơn. Theo báo cáo của Cuộc Điều Tra Dịch Vụ Y Tế Toàn Quốc do Bộ Y Tế Trung Quốc thực hiện vào năm 2008, 61% số người nhuốm bệnh trong 2 tuần trước khi được phỏng vấn cho hay họ có bệnh kinh niên, so với 10 năm trước con số này chỉ là 39%. Một nghiên cứu của Tạp Chí Y Học New England vào năm 2010 cho hay Trung Quốc có số người mắc bệnh tiểu đường nhiều nhất thế giới và tại đây căn bệnh này đang lan rộng với một tốc độ nhanh hơn tại châu Âu cũng như Hoa Kỳ. Hiện tại có gần 10% dân số trên 20 tuổi mắc bệnh tiểu đường—gần bằng tỉ lệ 11% của Hoa Kỳ và cao hơn nhiều so với Gia Nã Đại, Đức, và các nước phương Tây khác. Hiện thời, các loại bệnh không truyền nhiễm (bao gồm bệnh tim mạch, bệnh hô hấp kinh niên, và ung thư) là nguyên nhân gây ra 85% nhân số tử vong tại Trung Quốc—cao hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới là 60%. Một nguyên nhân chủ yếu là hiện tượng lão hóa nhanh chóng của dân số. Điều tra dân số năm 2010 cho hay bộ phận dân số trên 60 tuổi tại Trung Quốc đã vượt quá 13%, gia tăng gần 3% kể từ năm 2000. Căn cứ theo một báo cáo gần đây của Ngân Hàng Thế Giới, nếu chính phủ không thực thi những biện pháp hữu hiệu nhằm chăm nom sức khỏe của người già thì gánh nặng do các loại bệnh tật không truyền nhiễm gây ra chí ít sẽ gia tăng thêm 40% vào năm 2030. Chẳng hạn, số bệnh nhân Alzheimer ở Trung Quốc vào năm 2040 được dự đoán là sẽ nhiều hơn tổng số người mắc bệnh này tại tất cả các nước phát triển gộp lại.

Càng ngày càng có thêm nhiều người Trung Quốc mắc bệnh tâm thần. Căn cứ theo tài liệu của Bộ Y Tế Trung Quốc thì tỉ lệ mắc chứng rối loạn tâm thần từ năm 2003 cho đến năm 2008 gia tăng 50%. Một cuộc điều tra có quy mô lớn do Trung Tâm Nghiên Cứu Và Dự Phòng Tự Sát của Bệnh Viện Hồi Long Quan tại Bắc Kinh thực hiện từ năm 2001 đến năm 2005 và dựa trên quá trình phỏng vấn hơn 130 triệu người dân trên địa bàn của bốn tỉnh đã phát hiện có đến 17,5% dân số
, tức khoảng 227 triệu người, mắc bệnh tâm thần dưới một hình thái nào đó, như chướng ngại tình cảm và âu lo. Đây là một tỉ lệ thuộc loại cao nhất thế giới. Ước tính có khoảng 270,000 người tự sát hàng năm tại Trung Quốc; ở mức 23 ca cho 100.000 dân, đây cũng là một tỉ lệ thuộc loại cao nhất thế giới và cao gấp hai lần tỉ lệ tự sát tại Hoa Kỳ.

Bất chấp tính nghiêm trọng của những vấn đề này, để tập trung năng lực vào việc đeo đuổi mức tăng trưởng kinh tế, giới lãnh đạo Trung Quốc đã bỏ bê lãnh vực y tế công cộng từ lâu. Sau khi hệ thống y liệu kiểu Mao bắt đầu sụp đổ vào đầu thập kỷ 1980, ngân sách y tế của chính phủ Trung Quốc tính theo tỉ lệ GDP (Tổng Sản Phẩm Quốc Nội) cũng suy sút, từ 1,1% vào năm 1980 giảm xuống 0,8% vào năm 2002. (Trong khi đó mức chi tiêu dành cho ngành y tế của chính phủ Hoa Kỳ là 6,7% GDP vào năm 2002.) Việc xúc tiến cải cách theo chiều hướng thị trường cũng gây tổn hại thêm cho hệ thống y liệu vốn đã quá tồi tệ: vào năm 2003, hơn 70% dân số Trung Quốc hoàn toàn chẳng có một hình thức bảo hiểm y tế nào cả. Từ đó cho đến bây giờ tuy cũng có một số cải cách, nhưng gánh bệnh tật của Trung Quốc vẫn tiếp tục gia tăng—nghiêm trọng đe dọa hệ thống y liệu cũng như toàn bộ nền kinh tế
của đất nước này, và thậm chí cả sự ổn định của chế độ. 

GIAN DỐI THỨ THIỆT

Hầu như trong suốt quá trình lịch sử của Trung Quốc, việc chăm nom sức khỏe được xem là trách nhiệm cá nhân, chứ không phải là quyền lợi. Bởi vậy, những nỗ lực của chế độ Mao nhằm thiết lập một hệ thống y liệu do nhà nước bảo trợ đánh dấu một sự chuyển hướng quan trọng nhằm lìa bỏ truyền thống lịch sử. Đầu thập kỷ 1950, chính phủ thiết lập các chương trình bảo hiểm y tế cho cán bộ và công nhân của nhà nước cũng như xây dựng nhiều bệnh viện và bệnh xá công lập tại các cấp huyện và khu. Với kế hoạch Đại Nhảy Vọt bắt đầu vào năm 1958, nhà nước lại có thêm một lý do nữa để can thiệp vào lãnh vực y tế. Để đổi lấy những dịch vụ y tế thuận tiện và miễn phí, nông dân phải ủng hộ chính sách tập thể hóa nông nghiệp cũng như tiến trình nới rộng công xã nhân dân—và rồi tiến trình này lại trở thành cơ sở tài chánh và thể chế nhằm phục vụ cho chế độ y liệu mới. Đến năm 1959, Trung Quốc đã hoàn tất việc xây dựng một hệ thống y liệu ba tầng tại vùng nông thôn, bao gồm bệnh viện ở cấp huyện, bệnh xá ở cấp công xã, và trạm y tế tại làng (được gọi là "đại đội sản xuất"). Hệ thống này không những cung cấp dịch vụ trị liệu mà còn tiến hành công tác dự phòng, và như vậy đã đóng một vai trò thiết yếu trong việc thực thi chiến lược phòng chống bệnh truyền nhiễm của nhà nước.

Sau khi phong trào Cách Mạng Văn Hóa, được phát động vào năm 1966, dẫn đến việc thanh trừng hàng loạt cán bộ cao cấp trong ngành y tế, Bộ Y Tế bị đẩy ra ngoài rìa của tiến trình hoạch định chính sách. Nhưng khi sức cản trở của giới quan liêu suy giảm, việc điều hợp chính sách nhờ thế lại trở nên dễ dàng hơn. Một số lượng nhân viên y tế đông đảo chưa hề thấy được điều động về vùng nông thôn. Thông qua những kỳ huấn luyện y khoa phi chính quy một số nông dân đã trở thành các "bác sĩ chân đất" để đảm trách công tác trị liệu những căn bệnh thông thường và xúc tiến việc ngăn ngừa bệnh tật. Thể chế được mệnh danh là "hợp tác y liệu" (một kế hoạch bảo hiểm y tế lấy tổ chức cộng đồng làm cơ sở) đã lan tràn nhanh chóng. Đến năm 1976, Trung Quốc có khoảng 1,8 triệu bác sĩ chân đất; chương trình hợp tác y liệu che chở hơn 90% đại đội sản xuất, hay làng; và hầu như công xã nào cũng có một bệnh xá. Trung Quốc có nhiều bác sĩ, y tá, và giường bệnh tại y viện hơn bất cứ quốc gia nào có cùng mức phát triển kinh tế. Sức khỏe của người dân Trung Quốc được cải thiện một cách đáng kể: tỉ lệ tử vong giảm từ 2% vào năm 1949 xuống 0,7% vào năm 1975. Căn cứ theo các con số chính thức do Trung Quốc đưa ra cũng như các nguồn tài liệu quốc tế, trong thời kỳ này tuổi thọ trung bình của người dân Trung Quốc đạt mức 65 tuổi, tức là đã tăng thêm 35 năm.

Cái chết của Mao và tiến trình cải cách kinh tế xảy ra ngay sau đó đã biến đổi tình hình này với nhiều ấn tượng sâu sắc. Sự kết thúc của thể chế công xã nhân dân và chính sách quay trở lại với mô thức canh tác theo hộ gia đình đã hủy diệt các ngân quỹ y liệu cộng đồng mà trước đó đã từng giữ vai trò cung cấp nguồn tài chính chủ yếu cho hệ thống y liệu nông thôn của chế độ Mao. Vào năm 1978, 82% trong toàn bộ các đại đội sản xuất được giao phó nhiệm vụ thực thi kế hoạch hợp tác y liệu; đến năm 1983, con số này giảm xuống chỉ còn 11%. Số lượng bác sĩ chân đất giảm chừng 23% trong cùng khoảng thời gian đó. Kế hoạch cải cách kinh tế nông thôn nâng cao mức thu nhập có thể tiêu dùng của nông dân khiến họ có năng lực vượt qua trạm y tế của làng hoặc bệnh xá của thị trấn để đi tìm kiếm dịch vụ y liệu tại các bệnh viện ở thành phố. Tiến triển này không những đã hủy hoại mạng chẩn trị ba tầng tại miền quê mà còn tạo nên một nhu cầu mạnh mẽ cho các dịch vụ y tế đa dạng hơn và hoàn thiện hơn tại thành phố. Tình trạng thiên vị đô thị của thể chế y liệu đã quay trở lại.

Sự phục hồi của giới lãnh đạo trong guồng máy hành chính cũ (những kẻ từng bị thanh trừng trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa trước kia) đã mang lại những đòi hỏi cho rằng một số nhóm phái chọn lọc của xã hội, đặc biệt là quan viên chính phủ, cần phải được chiếu cố nhiều hơn trong vấn đề y liệu. Tình trạng này dẫn đến sự phục xuất trong thập kỷ 1980 của một liên minh mà Mao đã cố công đập vỡ giữa thập kỷ 1960: giới quản lý đô thị, quan viên chính phủ trong ngành y tế, và cư dân thành phố cùng chia sẻ một mối lợi ích chung trong việc duy trì các dịch vụ y liệu có chất lượng cao tại đô thị. Bởi thế, khi các cơ cấu y tế tại vùng nông thôn bắt đầu tan vỡ, thay vì đưa ra biện pháp bổ cứu, giới lãnh đạo của Bộ Y Tế công khai kêu gọi kết thúc những cơ cấu này và xúc tiến một chính sách hiện đại hóa chủ yếu chỉ được thực thi tại vùng đô thị. Đến năm 2004, gần 80% chi phí y liệu của chính phủ được phân phối cho các cơ cấu y tế tại vùng đô thị, cho dù số lượng cư dân thành phố chỉ chiếm 42% dân số quốc gia.

Sự chuyển hướng trong kế hoạch phát triển kinh tế của chính phủ lại càng gây thêm tác hại cho tiến trình quá độ này. Vấn đề y tế công cộng bị gạt sang một bên. Vì phải lấy phát triển kinh tế làm thước đo thành tích quản trị của mình, quan viên chính phủ ở các cấp địa phương hy sinh y tế công cộng để đeo đuổi tăng trưởng kinh tế. Kết quả là các bệnh truyền nhiễm đã bị tiêu diệt hết dưới thời Mao lại trỗi dậy và lan tràn nhanh chóng trong thập kỷ 1980. Chính phủ rút lui xa hơn nữa trong việc cung cấp các dịch vụ y liệu khi cải tổ thuế má được tiến hành vào năm 1994, kế hoạch này cho phép chính phủ tập trung quyền lực tài chính tại trung ương nhưng lại tăng cường việc phân phối trách nhiệm tài chính xuống các cấp địa phương. Mức chi tiêu của chính phủ tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng ngân sách y tế sút giảm trầm trọng—từ 39% trong năm 1986 xuống 16% trong năm 2002—buộc người dân phải tự tìm biện pháp điền vào khoảng trống. Chính quyền địa phương phải gánh chịu hầu như toàn bộ chi phí trợ cấp dành cho các cơ cấu y liệu: theo tài liệu do Bộ Tài Chính và Cục Thống Kê Quốc Gia của Trung Quốc công bố, con số này vượt quá 97% trong giai đoạn 1997-2007. Hơn nữa, mức chi tiêu dành cho thường dân chỉ chiếm một bộ phận rất nhỏ trong tổng kinh phí y tế của chính phủ: theo lời thố lộ của ông Ân Đại Khuê, một cựu thứ trưởng Bộ Y Tế, vào năm 2006 mức chi tiêu dành riêng cho chỉ khoảng 8,5 triệu quan viên chính phủ chiếm đến 80% ngân sách y tế của Trung Quốc.

Tình trạng suy giảm trong mức hỗ trợ của chính phủ, kèm với tiến trình cải cách kinh tế theo định hướng thị trường, cũng biến đổi cả hành vi của giới cung ứng dịch vụ y liệu. Những cơ cấu này đã trở thành những bộ máy làm tiền. Bệnh viện công lập bắt đầu ráo riết buôn bán thuốc men và cung cấp những dịch vụ phụ mang tính kỹ thuật cao để bù đắp những khoản mất mát do tình trạng sa sút trong mức hỗ trợ của chính phủ tạo nên và để kích thích tăng trưởng trong mức thu nhập. Tổng lượng chi phí y liệu gia tăng theo hàm số mũ. Và tình trạng này đã xảy ra vào một thời điểm mà Trung Quốc hầu như chưa thiết lập được một mạng lưới an sinh xã hội: Điều Tra Dịch Vụ Y Liệu Toàn Quốc vào năm 1998 phát hiện rằng hơn 87% dân số nông thôn và hơn 44% dân số đô thị không có một hình thức bảo hiểm y liệu nào cả. Người dân phải móc tiền túi để trang trải những chi phí ngày càng gia tăng này. Vào khoảng 1999, bộ phận do tư nhân gánh chịu trong tổng lượng chi phí y liệu vượt quá 59%. Trong một số trường hợp, bệnh nhân không thể đi khám bác sĩ vì phí tổn quá đắt. Vào năm 2004, thứ trưởng Bộ Y Tế Chu Khánh Sinh cho hay từ 60% đến 80% nông dân nhuốm bệnh nặng phải chịu chết tại nhà vì họ không có khả năng trang trải chi phí y liệu. Chỉ một thế hệ sau khi Mao qua đời, một bản báo cáo đánh giá các hệ thống y liệu khắp hoàn cầu vào năm 2000 của Tổ Chức Y Tế Thế Giới xếp Trung Quốc vào hạng 144 trong số 191 quốc gia—cho dù vào thời điểm này nền kinh tế Trung Quốc đã xếp hạng thứ sáu trên thế giới.

Xem tiếp phần 2


Bài liên quan: Bắc Kinh: Chó Đái Quanh, Bò Cạp Cắn Bừa, Hay Ếch Phình Bụng?
[ Đọc Tiếp ]

10 tháng 12, 2011

Chư Pháp Vô Ngã

Thầy ngước nhìn bà con, nói tiếp:

"Trước khi đi vào phạm trù vô ngã chúng ta cần hiểu ngã là cái chi chi. Nếu được hỏi về vấn đề này có lẽ nhiều người sẽ nhanh nhẹn đáp rằng ngã là ta, là cái tôi. Từ một góc độ nào đó trong cách nhìn của thế nhân, nói như vậy không có gì là sai lầm. Nhưng trên bình diện tín ngưỡng và tư tưởng, ngã đã sớm trở thành một thuật ngữ triết học trọng yếu bao hàm một nội dung sâu sắc.

         Ði ngược dòng lịch sử để trở về với bối cảnh xã hội của Ấn Ðộ khoảng 2.500 năm trước chúng ta sẽ thấy Bà La Môn là một giáo phái cực thịnh, thu hút đại bộ phận phần tử trí thức đương thời của đất nước này. Thuyết hữu ngã của Bà La Môn nhấn mạnh sự tồn tại của một nguyên lý đầu tiên tạo lập ra vũ trụ gọi là đại ngã (brahman). Nguyên lý này mang tính tuyệt đối, trường tồn, bất biến và được thánh hóa qua biểu tượng của một vị thượng đế toàn trí, toàn năng là gọi là Ðại Ngã (Brahman). Trong mỗi cá nhân đều có một phần của đại ngã/Ðại Ngã gọi là tiểu ngã (atman). Tuy hiện tướng hay ngoại diện của đại ngã/Ðại Ngã và tiểu ngã có khác nhưng bản chất là đồng nhất vì cả hai đều có ba đặc trưng chung là (1) chủ tể tính (có khả năng chủ trì tự thân), (2) chủ thể tính (tự hữu tính, không cần dựa vào các yếu tố khác mà tồn tại), và (3) thường hằng tính (tính cố định, bất biến, và trường tồn). Nói cách khác, theo giáo lý Bà La Môn thì ngã là một thực thể vĩnh hằng, có năng lực chủ tể và tồn tại độc lập trong thế giới hiện tượng luôn luôn biến động. Ðể giải thoát, con người phải đem tiểu ngã hòa nhập với Ðại Ngã và đó chính là hành trình tu hành của tín đồ Bà La Môn. Trước khi đạt đến cảnh giới thăng hoa tối thượng đó, tiểu ngã phải trầm luân trong vòng luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác.

          Tuy chấp nhận thuyết luân hồi nhưng đức Phật bác bỏ thuyết hữu ngã và ngài đã đưa ra những tư tưởng đối kháng qua pháp ấn chư pháp vô ngã. Khái niệm chư pháp của nhà Phật bao gồm tất cả mọi hiện tượng có thể nhận biết, có thể làm phát sinh trong ta một ý tưởng về những hiện tượng ấy. Như thế, bất kỳ việc gì (dù nhỏ dù lớn, hữu hình hay vô hình, chân thật hay hư ảo, hữu vi hay vô vi) mà chúng ta có thể khái niệm đều gọi là pháp. Nội dung thuyết vô ngã của nhà Phật là phản đề của thuyết hữu ngã theo chiều hướng Bà La Môn. Chữ anatman (vô ngã) trong tiếng Phạn do tiếp đầu ngữ an (biểu thị phủ định tính) và atman (ngã) kết hợp mà thành. (Tương tự, trong tiếng Pali, ngã là atta và vô ngã là anatta). Chư pháp vô ngã có nghĩa là tất cả mọi sự vật và hiện tượng trên đời đều không có thực thể hay tự tánh độc lập thường hằng, không có năng lực tự chủ tể, không có linh hồn trường tồn hay cái ta vĩnh cửu bất biến.

          Ðể giúp giáo chúng hiểu rõ ý nghĩa của vô ngã, đức Phật đã thuyết giảng thêm về khái niệm tứ đại giai không và tính cách tương đối, tạm bợ, duyên hợp của thân ngũ uẩn. Kính thưa quý cụ, vạn vật trong vũ trụ không phải 'do gió bốn phương, mây ngàn hướng, hợp lại mà thành' như lời nói ngây ngô của thí chủ thiên tài. Theo giáo lý đạo Phật, mọi vật thể đều do tứ đại chủng hay tứ đại giả, tức là địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại, phối hợp cấu thành. Ðịa đại bản tính kiên cố có thể chi trì vạn vật. Thủy đại bản tính triều thấp, ẩm ướt có thể thu nhiếp vạn vật. Hỏa đại bản tính ôn noãn có thể điều nhiệt vạn vật. Phong đại bản tính lưu động có thể vận hành vạn vật. Khi cấu tạo sự vật, tứ đại chủng tùy theo nhu cầu của sự vật mà phối hợp thành phần để sự vật ấy có thể sanh trưởng. Chẳng hạn, nếu hỏa quá vượng và thủy lại khuyết suy (thí dụ như hạn hán) thì sẽ tạo thành tình trạng bất quân hành đem lại kết quả tất nhiên là sự vật không thể thuận lý thành chương mà sanh trưởng.

          Thế nào là tứ đại giai không? Chúng ta hãy thử nhìn kỹ chính mình. Thân thể này cũng do tứ đại chủng hợp lại mà thành: râu, tóc, răng, móng, da, thịt, gân, cốt đều thuộc địa đại; huyết dịch, nước mắt, nước miếng, nước mũi, nước tiểu ... đều thuộc thủy đại; ôn, noãn, nhiệt lượng trong cơ thể đều thuộc hỏa đại; hơi thở thì cũng rõ ràng là thuộc phong đại. Bởi thế trong ngôn từ Phật giáo, thân xác phàm của chúng ta được gọi là thân tứ đại. Giả sử như tứ đại chủng trên thân thể ta (nội tứ đại chủng) bị phân tán hoặc không có sự phụ trợ của tứ đại chủng bên ngoài (ngoại tứ đại chủng) thì cái ta không thể tồn tại. Thế nhưng chúng ta lại không thể tìm thấy được cái ta trong từng mỗi tứ đại chủng. Nếu địa đại là ta thì ta chính là bùn, lầy, cát, bụi vì khi chết (dù được mai táng hay hỏa táng) da, thịt, gân, cốt của ta sẽ biến thành cát, bụi, bùn, đất. Giả sử thủy đại là ta thì ta chính là biển cả bao la vì toàn bộ huyết dịch trong cơ thể ta đều thuộc về nước, nước bốc thành hơi, hơi ngưng tụ rơi xuống đất chảy vào lòng đại dương. Nếu hỏa đại là ta thì ta chính là ngọn lửa trong lò vì ôn, nhiệt, noãn khí trong cơ thể ta đều phát xuất từ hơi nóng. Giả sử phong đại là ta thì ta chính là làn gió lùa hay cơn giông bão vì hô hấp trên cơ thể ta trực thuộc luồng không khí lưu động trong trời đất.

         Thử hỏi bùn đất, nước biển, lửa lò, ngọn gió ở bên ngoài có phải là ta chăng? Nếu chúng không phải là ta thì bốn đại thủy, hỏa, phong, địa trên người ta có phải là ta chăng? Bởi vì nội tứ đại chủng và ngoại tứ đại chủng mang tính đồng nhất nên nếu trong ngoại tứ đại chủng không có ta thì đương nhiên trong nội tứ đại chủng cũng không có ta. Nếu mỗi đại chủng đứng riêng rẽ không phải là ta thì tập hợp tứ đại chủng đương nhiên cũng không phải là ta, nói một cách khác, vì không một đại nào trong tứ đại có thể gọi là ta cho nên nhóm tập hợp tất cả bốn cái phi-ta ấy cũng không thể là ta. Như vậy, thân tứ đại của ta tuy có mà lại như không bởi vì nó chẳng có thực hữu nội tại, chẳng có thực thể riêng biệt, không thể tự chủ tể, chẳng có bản chất thường hằng bất biến.

          Danh từ thân ngũ uẩn được dùng để hình dung cả phần vật chất (sinh lý và vật lý, gọi tắt là thân) lẫn phần tinh thần (tư duy và mọi trạng thái tâm lý khác, gọi tắt là tâm) của con người. Ngũ uẩn bao gồm sắc uẩn (yếu tố vật chất, tức là tứ đại chủng) và bốn uẩn tạo nên cảm giác, tri giác, tâm tư, và nhận thức là thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Nếu sắc uẩn mang tánh tứ đại giai không thì, tương tự, không một uẩn nào trong bốn uẩn còn lại có thể gọi là ta và tập hợp ngũ uẩn chỉ là cái thân tâm giả hợp, giả danh chứ không phải là cái ta hay bản ngã thường hữu, có chủ thể tính và chủ tể tính theo tư tưởng Bà La Môn.

          Tiểu tăng xin cử thêm một thí dụ. Hạt giống muốn nẩy mầm trước hết phải có đất và nước bồi dưỡng. Nhưng nếu không có ánh nắng mặt trời và không khí thì hạt giống ấy không thể sanh trưởng. Hơn thế nữa, cần phải có sự điều hòa thích đáng thành phần của tứ đại chủng thì hạt giống mới có thể phát triển. Trong môi trường thích hợp, hạt giống sẽ trở thành một gốc cây cao lớn sau một khoảng thời gian nào đó. Ðến lúc này, nếu chúng ta truy cứu bản ngã của cây ấy thì kết quả cũng sẽ đưa chúng ta quay trở về với tứ đại chủng. Vỏ, rễ, cành, lá của cây đều thuộc địa đại; lưu chất trong cây thuộc thủy đại; noãn khí trên cây thì thuộc hỏa đại; và vận hành của cây (chẳng hạn như sự hấp thụ thán khí và phóng thải dưỡng khí) thì thuộc phong đại. Ngoài thủy, hỏa, phong, địa ra cây chẳng có gì khác có thể định nghĩa bản chất của cây. Một khi thực chất của cây không có một đặc tính cá biệt tức là thực hữu nội tại thì cái ta hay bản ngã của cây cũng không tồn tại.

          Suy diễn rộng ra, chư pháp trong vũ trụ chỉ có giả tướng tạm bợ chứ không có chủ thể vì ngoài tứ đại chủng ra nội thân của vạn vật và ngoại cảnh của thế gian không có vật gì khác. Cũng là tứ đại nhưng dưới những điều kiện phối hợp khác nhau lại sinh ra những vật thể có hình tượng khác nhau. Nói cách khác, mọi hiện tượng đều tạm bợ, biến đổi không ngừng, không có bản thể tuyệt đối, không thể tồn tại một cách biệt lập tự nội, và đó chính là ý nghĩa của pháp ấn 'chư pháp tất vô ngã' như lời đức Thế Tôn đã nói với ngài Hiền Thủ."

Trích từ cuốn Thiên Tài Ễnh Ương của LS. TS. Hồ Ngọc Sơn
Copyright © 2011 Hồ Ngọc Sơn
[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn