Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



12 tháng 10, 2011

Súp Chua Ngọt Của Bà Clinton Dành Cho Trung Quốc

Luận văn mới của bà Hillary Clinton về vai trò của Hoa Kỳ tại châu Á xác minh rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hiện diện ở đó. Và Trung Quốc chẳng thể làm gì được về vấn đề này.
Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tường trình chính sách đối ngoại của Hoa Thịnh Đốn tại vùng châu Á trong một luận văn được đăng tải trên tạp chí mạng Foreign Policy vào sáng sớm hôm nay [12 tháng 10, 2011]. Tuy việc trần thuật chi tiết của chính sách này có vẻ muộn màng khi nhiệm kỳ của chính phủ Obama đang tiếp cận cuối năm thứ ba, bà Clinhton vẫn ra sức trình bày và diễn giải những bộ phận cấu thành chính sách châu Á của Hoa Kỳ.

Giới hoạch định chính sách ngoại giao cao cấp của Bắc Kinh sẽ là những độc giả háo hức nhất trong việc phân tích bài luận văn này. Phản ứng chính thức của họ đối với lời phát biểu của bà Clinton rất có khả năng là sẽ im lặng. Từ biểu hiện bên ngoài, chí ít, có thể thấy bà ta đã không đưa ra sáng kiến gì mới hay đề xuất một thay đổi nào trong chính sách. Lý do hiển nhiên thúc đẩy bà Clinton công bố tài liệu đó vào thời điểm này là để trấn an các đồng minh trong khu vực rằng Hoa kỳ vẫn tiếp tục tiến hành cam kết đối với họ dẫu Hoa Kỳ đang đối mặt với nhiều khó khăn tại quốc nội cũng như sự trỗi dậy của phong trào đề xướng chủ nghĩa biệt lập, và để gởi đến Trung Quốc một tín hiệu mạnh mẽ rằng Hoa Thịnh Đốn sẽ duy trì chính sách hiện hành nhằm tiếp cận sâu rộng hơn với Bắc Kinh. Nghi vấn về việc có phải bà Clinton đã cố ý sắp xếp thời gian để công bố bài phát biểu về chính sách châu Á cho khớp với chuyến công du Hoa Thịnh Đốn có tầm mức quan trọng vào tháng 11 sắp tới của Phó Chủ Tịch Tập Cận Bình (người sẽ trở thành lãnh tụ tối cao của Trung Quốc vào năm 2012) là một điều mà chẳng ai có thể đoán chắc được. 

Tuy nhiên, khi duyệt xét kỹ càng tài liệu này chắc chắn giới lãnh đạo tại Bắc Kinh sẽ có nhiều mối cảm thức lẫn lộn. Quan chức Trung Quốc sẽ đặc biệt chú ý đến bài phát biểu về chính sách châu Á của bà Clinton trên ba bình diện.

Phần thảo luận về mối quan hệ song phương sẽ thu hút sự chú ý của quan chức Trung Quốc nhanh chóng nhất. Có lẽ họ sẽ cảm thấy rất hài lòng với phần này. Bà Clinton không những đã đặt nỗ lực phát triển sâu rộng hơn các mối quan hệ với những cường quốc đang trỗi dậy, bao gồm Trung Quốc, vào bộ phận chính sách quan trọng hàng nhì, còn dành phần dài nhất, khoảng một phần bảy bài luận văn, cho mối quan hệ Mỹ-Trung. (Để so sánh, Ấn Độ chỉ có một đoạn, và được gộp chung với Nam Dương khi bà ta đề cập đến các cường quốc đang lên khác.) Một lý do khác khiến Bắc Kinh ưa thích bài phát biểu của bà Clinton là giọng điệu tích cực mà bà ta đã dùng để đúc kết mối quan hệ Mỹ-Trung. Dường như bà ta đã gắng sức tột mực để đề cao những khía cạnh trong mối quan hệ Mỹ-Trung có tác dụng tăng cường một cách tích cực tiến trình hợp tác song phương trong một phạm vi rộng lớn bao gồm rất nhiều lãnh vực. 

Tuy nhiên, tâm trạng của quan chức Trung Quốc chắc chắn sẽ trở nên chua chát hơn khi họ nghiên cứu, trên bình diện chính sách, các bộ phận khác trong chiến lược châu Á của Hoa Kỳ. Đặc biệt, họ sẽ bực bội vì những hoạt động trực tiếp nhắm vào Trung Quốc ở cấp độ chính sách — chẳng hạn như việc tăng cường các liên minh an ninh song phương (được xác định là bộ phận quan trọng nhất trong chính sách của Hoa Kỳ), tạo dựng một mức hiện diện quân sự có cơ sở rộng lớn (điều này thực chất có nghĩa là tiến xa hơn trong việc nâng cấp và nới rộng năng lực quân sự của Hoa Kỳ tại Tây Thái Bình Dương), cũng như xúc tiến thể chế dân chủ và nhân quyền. Trong nhãn quang của Bắc Kinh, những biện pháp này là bộ phận của một khuông giá kiềm chế chiến lược tinh tế, có thể gây tổn hại cho lợi ích an ninh của Trung Quốc và phá hủy nền thống trị của Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Điều sẽ tạo nên mối quan tâm đặc biệt cho Bắc Kinh là thông báo do bà Clinton công bố trong bài phát biểu này về việc Hoa Kỳ sắp đưa tàu tác chiến duyên hải tân tiến nhất đến dàn trận tại Singapore. Ngoài ra, trước những dấu hiệu cởi mở về mặt chính trị gần đây tại Miến Điện và việc chính quyền quân sự của nước này đột ngột hủy bỏ dự án đập thủy điện trị giá 3 tỷ Mỹ kim do Trung Quốc xây dựng, thông điệp hòa giải của bà Clinton gởi đến cho nhà cầm quyền Miến Điện chắc chắn sẽ gây ra một vài cơn rát ngực tại thủ đô Trung Quốc. Lời phát biểu cứng rắn của bà Clinton về việc duy trì ổn định và quyền tự do hàng hải tại Biển Đông, thực chất là lặp lại ngôn từ mà bà đã phát biểu tại Hà Nội cách đây chỉ mới một năm, chắc chắn cũng không được hoan nghênh tại Bắc Kinh. Hiện tại nhiều quan chức Trung Quốc cho rằng Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về việc đã gây ra tình trạng leo thang căng thẳng tại Biển Đông.

Ngay cả những biện pháp nhắm vào mục đích thúc đẩy mậu dịch và đầu tư cũng không thoát khỏi sự giám sát tại Bắc Kinh. Kế hoạch gây quan ngại lớn nhất được bà Clinton đề cập trong lãnh vực này sẽ là Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương — một khối mậu dịch tự do trong tương lai tại vùng Á Thái mà không bao gồm Trung Quốc. Mặc dù sáng kiến do Hoa Kỳ khởi xướng này còn nằm trong giai đoạn phôi thai, đối với quan chức Trung Quốc, hàm ý chiến lược dài lâu của nó có lẽ quá khó chịu không thể suy ngẫm nổi.

Nhìn tổng thể, trên bình diện chiến lược, Bắc Kinh sẽ xem bài phát biểu của bà Clinton cũng chỉ đơn thuần là một tuyên bố khác nhằm bày tỏ quyết tâm của Hoa Kỳ trong việc duy trì địa vị cường quốc hàng đầu của vùng Á Thái. Đó có lẽ là lý do tại sao bài luận văn mang tựa đề Thế Kỷ Thái Bình Dương Của Hoa Kỳ. Thông điệp chiến lược gởi đến mọi quốc gia trong vùng, đặc biệt là Trung Quốc, trong suốt như pha lê: đừng loại chúng tôi ra khỏi danh sách, thậm chí đừng nghĩ đến chuyện xô đẩy chúng tôi ra ngoài.   

Tự xem mình là nước bá chủ tất yếu trong khu vực và Hoa Kỳ là siêu cường đang thoái bộ, Trung Quốc không thể hài lòng với khẳng định bạo dạn này về quyết tâm của Hoa Kỳ. Nhưng trên thực tế, trong hiện tại cũng như trong tương lai sắp đến, Trung Quốc chẳng thể làm được gì nhiều để thay đổi hiện thực chiến lược này. Tính bền bỉ của vai trò chủ đạo của Hoa Kỳ tại châu Á không phải chỉ đơn thuần phụ thuộc vào năng lực tuyệt đối hay thậm chí chỉ là tương đối (đều đang trên đà đi xuống) của Hoa Thịnh Đốn. Nó còn bắt nguồn từ vai trò đặc thù của Hoa Kỳ trong địa vị một quốc gia đối trọng tại châu Á. Ở những nơi khác trên thế giới, Hoa Kỳ có thể bị thống hận sâu đậm vì quyền lực và hành vi vượt quá giới hạn mang hàm ý đế quốc của mình. Tại châu Á, người ta mở rộng vòng tay để hoan nghênh sự hiện diện của Hoa Kỳ. Lý do rất đơn giản: Dẫu bá quyền của Hoa Kỳ có khó chịu đến mấy, bất cứ lúc nào người châu Á cũng ưa chọn lựa nó hơn bá quyền của Trung Quốc. 

Nếu không có khả năng thực hiện một điều gì đó để biến đổi thực tế địa chính trị này ở châu Á, Trung Quốc sẽ không có một lựa chọn nào ngoài việc phải học hỏi để cùng tồn tại và phát triển dưới tầm ảnh hưởng do tính ưu việt bền bỉ của Hoa Kỳ chi phối.

Tác giả: Minxin Pei
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: The Diplomat

Tháng 10, 2011
Copyright © 2011 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

10 tháng 10, 2011

Công Khai Là Linh Hồn Của Công Lý


Nam Hải Trường Sơn

Trong mười tháng vừa qua vụ án Cù Huy Hà Vũ tạo nên một nhiệt triều dư luận trong cũng như ngoài nước mạnh mẽ hơn bất cứ vụ án hình sự nào tại Việt Nam. Kết quả đó phần lớn là do công lao dàn dựng năng nổ của Đảng và Nhà Nước, bất chấp mọi nguyên tắc và thủ tục hiến định cũng như pháp định. Từ một đôi nam nữ, đàn ông cởi trần, đàn bà ăn mặc "mát mẻ," và hai bọc cao su vẫn còn mang dấu tích "mưa gió" do công an "tìm thấy" trong phòng khách sạn cho đến tài liệu tuyên truyền chống đối nhà nước và hình phạt 7 năm tù vẫn được giữ y nguyên sau hai lần xét xử: Tất cả đều được văn phòng của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo và sắp xếp hết sức chu đáo. Thậm chí đến khán giả tham quan việc xét xử cũng được chọn lựa kỹ càng. Họ có lý lịch đỏ lòm, thấm nhuần tư tưởng chỉ đạo của Ngài Thủ Tướng, mang trọng trách hoàn thành chỉ tiêu cách mạng hóa hơn 96% chỗ ngồi trong tòa, và học thuộc lòng bài bản về hành vi sai phạm của bị cáo để sẵn sàng lên VTV1 vạch trần tội ác.

Còn công chúng không thuộc "phe ta" muốn vào chiêm ngưỡng nét huy hoàng của nền công lý xã hội chủ nghĩa, dẫu cũng xếp hàng có trật tự từ sớm, vẫn bị xua đuổi như một đám côn đồ có âm mưu phá rối trị an của thủ đô. Giới sĩ phu muốn đến xem xét hư thực ra sao, dẫu đã trình thư thỉnh nguyện hơn một tuần trước, cũng bị phớt lờ. Nếu đây là một phiên tòa công bằng và công chính thực sự thì chính quyền chẳng cần gì phải điều động nhiều đội công an chìm nổi để ngăn chận không cho người dân vào quan sát việc xét xử. Họ sợ nhân dân lật tẩy âm mưu bức hại để báo thù. Họ sợ công chúng tháo gỡ mặt nạ giả nhân giả nghĩa của chế độ đàn áp người bất đồng chính kiến bằng bạo lực.

Bóng tối của bí mật và yếm trá là cội nguồn màu mỡ nuôi dưỡng đủ thứ quyền lực nham hiểm và muôn vàn ác hạnh hại đời. Đó là lý do tại sao việc xét xử tại tòa án, đặc biệt là việc xét xử hình sự, cần phải công khai và minh bạch. Nguyên tắc tòa án mở (open courts) là một nền tảng chủ chốt của hệ thống tư pháp độc lập trong các xã hội dân chủ tự do và việc xét xử công khai (public trial) là hiến quyền tại nhiều nước phương Tây. Vào tòa quan sát việc xét xử cũng dễ dàng và đơn giản như vào thư viện công cộng đọc sách. Kiến nghị hay xin phép tham dự là chuyện thừa thải không cần thiết, phí phạm thời gian và tài nguyên của tòa án cũng như của chính mình.

Mục Đích Của Nguyên Tắc Tòa Án Mở

Nguyên tắc tòa án mở phát xuất từ mục đích phục vụ năm nhu cầu chủ yếu của một hệ thống tư pháp công chính. Thứ nhất, tòa án mở có tác dụng duy trì tiến trình duyệt xét chứng cứ hữu hiệu. Về mặt tâm lý chủ quan, sự hiện diện của khán giả sẽ giảm thiểu khả năng khai man và bóp méo sự thật của nhân chứng bằng cách khuyến khích tinh thần trách nhiệm trước dư luận công chúng (qua biểu tượng của khán giả hiện trường đang sẵn sàng khinh miệt kẻ gian dối trước tòa). Đồng thời, sự hiện diện của khán giả sẽ khiến nhân chứng e sợ rằng lời khai man của họ có thể bị những người biết rõ nội tình trong đám khán giả (hoặc những người khác được khán giả hiện trường báo cho biết về lời khai của nhân chứng) vạch trần. Về mặt cơ hội khách quan, tòa án mở tạo điều kiện cho những người biết rõ nội tình tham gia quan sát việc xét xử và qua đó có thể đứng ra làm chứng, cung cấp thêm thông tin (mà trước đây nguyên cáo hoặc bị cáo cũng như quan tòa và bồi thẩm đoàn chưa hề biết) để làm sáng tỏ vấn đề hoặc để đối chất với kẻ khai man trước tòa.

Thứ hai, tòa án mở góp phần đảm bảo rằng quan tòa và bồi thẩm đoàn hành xử đúng đắn, có nhiệm vụ khắc phục thành kiến cá nhân, và phản ánh giá trị của cộng đồng để tạo dựng niềm tin cho người thưa kiện rằng trình tự cũng như kết quả của việc tố tụng là công bằng. Thứ ba, tòa án mở xúc tiến cảm thức chung của công dân rằng tòa án hoạt động dựa trên cơ sở chính trực và sự hiện diện của khán giả nâng cao chất lượng của quá trình thực thi công lý. Thứ tư, tòa án mở tạo điều kiện để người dân có cơ hội học hỏi về cơ chế vận hành của hệ thống tư pháp và thấu hiểu việc pháp luật ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của họ được áp dụng như thế nào tại tòa án. Ngoài bốn mục đích có giá trị về mặt hệ thống và xã hội nêu trên, tòa án mở còn nhắm vào mục đích phục vụ quyền lợi riêng của nguyên cáo, bị cáo hoặc những cá nhân khác có liên quan trực tiếp đến nội vụ tố tụng. Tòa án mở là diễn đàn công cộng được pháp luật bảo vệ để họ có thể mạnh dạn thổ lộ trước mặt quần chúng những uất ức hoặc bất công mà họ đã phải âm thầm gánh chịu.

Cơ Sở Pháp Lý Tại Bắc Mỹ

Tại Canada, tòa án là trường sở công cộng và những gì xảy ra tại tòa án là việc công cho dù tòa án chỉ đang xét xử tranh chấp riêng tư giữa hai cá nhân hay cá thể. Bởi thế, tòa án phải được mở rộng để công chúng tự do quan sát, thảo luận, và báo cáo những gì xảy ra tại đó. Tính trọng yếu của nguyên tắc tòa án mở đã có một lịch sử cao quý kéo dài đến cả mấy thế kỷ nay. Vào năm 1913, thẩm phán Loreburn, trong án lệ nổi tiếng Scott v. Scott, đã xác nhận rằng: "Một luật lệ thâm căn cố đế [trong hệ thống tư pháp của Khối Liên Hiệp Anh] là công lý phải được thực thi giữa tòa án mở." Cũng trong án lệ này, thẩm phán Shaw đã tuyên bố rằng: "Công khai là linh hồn của công lý." Hay nói cụ thể như ý kiến đồng thuận của thẩm phán Halsbury: "[T]ất cả các Tòa Án công lý đều mở rộng để đón tiếp mọi thần dân của Quốc Vương."[1]

Trong án lệ R. v. Josephson, Tối Cao Pháp Viện Canada tái khẳng định rằng: "Đặc tính công cộng và mở rộng của tòa án là một nguyên tắc của luật phổ thông [luật tiền lệ] và nếu những điều kiện đó không được thỏa mãn thì tòa án sẽ không tồn tại và mọi trình tự đều vô hiệu lực."[2] Khi Bản Hiến Chương Nhân Quyền Và Tự Do được ban hành vào năm 1982 (được gọi tắt là Bản Hiến Chương), nguyên tắc tòa án mở của luật phổ thông được gián tiếp đưa lên địa vị hiến quyền. Trong án lệ Edmonton Journal v. Alberta (A.G.), Tối Cao Pháp Viện Canada xác nhận rằng quyền tự do biểu đạt (bao gồm quyền tự do báo chí) được liệt kê trong điều 2(b) của Bản Hiến Chương có tác dụng bảo vệ quyền tự do tham gia quan sát việc xét xử tại tòa án.[3]

Tương tự, trong án lệ Richmond Newspapers, Inc. v. Virginia, chánh án Burger của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ cũng xác nhận rằng: "Chúng ta không tìm thấy có chứng cứ gì để gợi ý rằng tính công khai được giả định của quá trình tố tụng, mà các tòa án tại Anh Quốc về sau gọi là 'một phẩm chất cốt lõi của một tòa án công lý' ... cũng không phải là một đặc tính của các hệ thống tư pháp tại thuộc địa Hoa Kỳ .... Từ dòng lịch sử được hậu thuẫn bằng những lý do có giá trị trong hiện tại cũng như trong nhiều thế kỷ đã qua mà chưa hề bị phủ nhận và gián đoạn đó, chúng ta buộc phải kết luận rằng tính công khai là một giả định cố hữu của chính bản chất quá trình tố tụng hình sự trong hệ thống công lý của chúng ta." Để củng cố truyền thống này, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã phán quyết rằng quyền tham quan việc xét xử tại tòa án hình sự của công chúng cũng tiềm tàng trong những bảo đảm của Tu Chính Án Số I (như tự do hội tập, tự do ngôn luận, và tự do báo chí) bởi vì "nếu thiếu quyền tự do tham gia những tiến trình tố tụng mà công chúng đã thực hiện trong nhiều thế kỷ đó, những khía cạnh quan trọng của tự do ngôn luận và 'tự do báo chí có thể bị moi ruột,' [nói theo ngôn từ của thẩm phán White trong án lệ Branzburg v. Hayes]."[4]

Giới Hạn Của Việc Xét Xử Công Khai

Tuy nguyên tắc tòa án mở là một phẩm chất cốt lõi của hệ thống tư pháp dân chủ tự do, tham dự tiến trình tố tụng không phải là một hiến quyền tuyệt đối. Nói cách khác, tùy theo hoàn cảnh, tòa án có thể hạn chế quyền tham dự của một số hay toàn bộ công chúng nhằm duy trì trật tự và bảo vệ đạo đức công cộng, thực thi công lý một cách đúng đắn, hoặc ngăn ngừa việc gây tổn hại cho quan hệ quốc tế, quốc phòng hay an ninh quốc gia. Sau đây là một số ví dụ cụ thể.

Tòa án là trường sở công cộng thường có diện tích tương đối hạn hẹp và số lượng chỗ ngồi dành cho khán giả tương đối ít. Trong trường hợp phiên tòa thu hút quá nhiều người muốn tham quan, tòa án có thể dùng hệ thống bốc thăm hay xổ số để phân phát chỗ ngồi cho công chúng và giới truyền thông, dựa theo nguyên tắc chọn lựa ngẫu nhiên. Tòa án có quyền từ chối tiếp nhận công chúng nếu sức chứa của tòa đã đạt giới hạn. Tòa án có quyền cấm người quan sát tụ tập giữa lối đi hay hành lang của tòa, để duy trì việc thông hành. Tòa án có quyền đuổi những kẻ phá rối trật tự hoặc tỏ thái độ uy hiếp nhân chứng ra khỏi tòa.

Tại Hoa Kỳ, Tu Chính Án Số I không bắt buộc tòa án phải truyền hình bất cứ trình tự tố tụng nào. Trong thực tế, khẩu biện trước Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ chưa bao giờ được truyền hình cho công chúng xem lần nào cả. Tòa án có thể nghiêm cấm vệc sử dụng máy chụp hình hay máy truyền hình trong nội thất tòa án.

Tòa án có quyền ban hành lệnh cấm các cơ quan truyền thông cũng như công chúng loan báo những gì xảy ra tại phiên tòa để bảo vệ thân phận của tất cả các nạn nhân hay nhân chứng vị thành niên (thường là dưới 18 tuổi) trong các vụ án xét xử tội trạng bạo hành tính dục. Tòa án có quyền mời toàn bộ khán giả ra khỏi tòa án trong khoảng thời gian mà lời khai của nhân chứng thố lộ bí mật quốc gia hay bí mật thương nghiệp, nhưng không thể lâu hơn thế, cũng như có quyền loại trừ sự hiện diện của trẻ thơ dưới hai tuổi mà không cần viện dẫn lý do.

Cơ Sở Pháp Lý Tại Việt Nam

Điều 131 của Hiến Pháp Việt Nam 1992 (được sửa đổi và bổ sung năm 2001, và sau đây tôi sẽ gọi tắt là Hiến Pháp) quy định: "Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định." Điều khoản này có hai ý nghĩa pháp lý chủ yếu. Thứ nhất, tiến hành việc xét xử công khai là một trách nhiệm hiến định mà bất cứ Tòa Án Nhân Dân nào (bao gồm Tòa Án Nhân Dân Tối Cao) cũng phải thực thi nghiêm chỉnh. Thứ hai, điều khoản này gián tiếp thừa nhận rằng công chúng có quyền tự do tham dự việc xét xử tại tất cả mọi Tòa Án Nhân Dân. Bởi lẽ nếu người dân bị khước từ quyền hạn này thì điều 131 sẽ trở nên vô nghĩa vì Tòa Án Nhân Dân không thể thi hành nhiệm vụ xét xử công khai hiến định của mình khi công chúng không có hiến quyền tương xứng để tự do hiện diện tại tòa án. Hai khía cạnh pháp lý hỗ tương ỷ tồn này (trách nhiệm của tòa và quyền của công dân) được điều 18 của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự diễn giải và quy định một cách rõ ràng: “Việc xét xử của Tòa án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do bộ luật này quy định."

Lý Thuyết Và Hiện Thực 

So sánh văn bản hiếp pháp của Canada, Hoa Kỳ, và Việt Nam, chúng ta có thể thấy rõ địa vị hiến pháp của nguyên tắc tòa án mở tại Việt Nam được xác lập một cách trực tiếp, mạnh mẽ và hiển nhiên hơn cả. Điều nổi bật đáng nói là trách nhiệm hiến định của Tòa Án Nhân Dân trong việc xét xử công khai. Nhưng vẻ đẹp đối tỉ kết thúc hụt hẫng ở ngay đây vì điều trớ trêu đáng ân hận là tu từ hoa mỹ này chẳng có tí giá trị thực tiễn nào cả.

Lúc còn là sinh viên trường luật tại Canada, một chuyện làm tôi rất hổ thẹn và đau lòng là khi bàn đến Hiến Pháp của Việt Nam các bạn học cùng lớp hội thảo luật hiến pháp của tôi đã từng tuyên bố một cách mỉa mai rằng: "Vietnam's Constitution is a joke!" ("Hiến Pháp Việt Nam là một trò hề!"). Tôi cứng họng, bởi vì chỉ nhìn vào điều 4 của Hiến Pháp không thôi là tôi biết mình sẽ đuối lý; nó hiến pháp hóa sự lãnh đạo tuyệt đối và vô kỳ hạn của Đảng và đồng thời là điều khoản duy nhất được thực sự thi hành tại Việt Nam. Đối với những phần còn lại, vị giáo sư phụ trách lớp hội thảo này phê một câu có tính chất ngoại giao cao hơn vì nó mang ý nghĩa nước đôi: "Just words!" Vừa như khen lại vừa như chê. Khen, nếu chữ "just" được dùng dưới dạng tính từ: "Ngôn từ công lý!" Chê, nếu chữ "just" được dùng dưới dạng trạng từ (tương đương với "only"): "Chỉ là ngôn từ thôi!" Nhưng dẫu hiểu theo cách nào đi nữa trọng tâm vẫn là chữ "words" với hàm ý là ngôn từ hay lý thuyết không có giá trị thực tiễn.

Hơn mười mấy năm trôi qua, lời bình của bạn học và thầy cũ của tôi vẫn giữ nguyên vẹn tính chính xác. Nhưng tôi biết chắc họ sẽ hân hoan vô cùng nếu ngược lại ý kiến của họ không còn hợp thời nữa. Vụ án Cù Huy Hà Vũ chỉ là một (trong muôn vàn) ví dụ minh chứng nhận định của họ. Từ hành vi của công an, Viện Kiểm Soát, cho đến điều 88 của bộ Luật Hình Sự, mọi trình tự và kết quả tại tòa sơ thẩm và tòa phúc thẩm, và những gì đang xẩy ra trong trại tù cũng như đối với gia đình ông Cù Huy Hà Vũ: Tất cả đều đi ngược tinh thần của chính văn bản Hiến Pháp, chưa kể đến các hiến chương nhân quyền khác của cộng đồng quốc tế. Nguyên do là vì một hệ thống tư pháp độc lập và công chính thực thụ không thể tồn tại dưới thể chế độc tài toàn trị, nơi mà một thiểu số vĩnh viễn nắm quyền định đoạt số phận và mọi hoạt động của toàn thể nhân dân. Tòa án mở cũng như tất cả mọi khía cạnh công lý và bình đẳng khác của xã hội Việt Nam chỉ trở thành hiện thực khi công cuộc cách mạng dân chủ thành công. Đó là một hành trình gian nan nhưng chúng ta phải mạnh dạn dấn bước.
_____________________________________________________
[1] Scott v. Scott, [1913] A.C. 417.
[2] R. v. Josephson (1949), 7 C.R. 273 (Man. C.A.).
[3] Edmonton Journal v. Alberta (A.G.), [1989] 2 S.C.R. 1326.
[4] Richmond Newspapers, Inc. v. Virginia, 448 U.S. 555 (1980).

Tháng 10, 2011
Copyright © 2011 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

3 tháng 10, 2011

Đối Chọi Với Rồng Cần Phải Quyết Đoán

Hành động của Trung Quốc trong mấy năm gần đây phản ánh một sách lược quyết đoán ngày càng tiếp cận đường ranh của thống trị. Trong khi mối quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc có thể được xem là ổn định trên bình diện chiến lược (như những kết nối kinh tế đang nẩy nở và tiến trình hợp tác trên trường quốc tế trong các lãnh vực như biến đổi khí hậu có thể minh chứng), thái độ ngang ngạnh liên miên của Trung Quốc trên bình diện chiến thuật đang dấy lên nhiều nghi vấn nghiêm trọng về ý định của quốc gia này. Phạm vi của những vấn đề này bao gồm việc gia tăng sự hiện diện quân sự tại các vùng biên giới, những cuộc xâm nhập vào lãnh thổ Ấn Độ tại Ladak và Arunachal Pradesh, vấn đề cấp thị thực ghim cho công dân Ấn Độ tại Jammu và Kashmir, cũng như quyết định từ chối cấp thị thực cho Chỉ Huy Trưởng Quân Đội Bắc Ấn và những sự kiện tương tự.

Thái độ quyết đoán của Trung Quốc không phải chỉ giới hạn trong vùng biên giới mà còn lan tỏa đến nhiều lãnh vực khác nữa. Một số công trình kiến thiết hải cảng do Trung Quốc thực hiện nằm ngay ngoài rìa Ấn Độ như Qwadar tại Pakistan, Hambantota ở Sri Langka, Chittagong ở Bangladesh, và Kyaukpyu tại Miến Điện đã gây ra nhiều mối quan ngại cho rằng Trung Quốc đang nỗ lực bao vây Ấn Độ bằng sách lược chuỗi ngọc trai, với mỗi hải cảng kể trên tượng trưng cho một hạt ngọc trong chuỗi. Trung Quốc cũng đã tăng cường sự hiện diện của quân đội mình tại khu vực Gilgit Baltistan của Pakistan. Quan trọng hơn là gần đây Trung Quốc đã lên tiếng phản đối những dự án thăm dò và khai thác dầu khí của ONGC trên hai lô quy hoạch của Việt Nam tại Biển Đông, với tuyên bố rằng đây là khu vực tranh chấp.

Trung Quốc đã yêu cầu Ấn Độ đình chỉ mọi hoạt động, thương mãi cũng như trong các lãnh vực khác, tại nơi mà họ mệnh danh là "lãnh thổ hải dương của Trung Quốc". Ấn Độ đã bác bỏ phản đối của Trung Quốc bằng một tuyên bố xác đáng rằng tiến trình hợp tác giữa Ấn Độ và Việt Nam trong việc thăm dò dầu khí là phù hợp với luật pháp quốc tế và được thiết lập để tiếp tục phát triển. Giới truyền thông của Trung Quốc đã bình luận rộng rãi về vấn đề này và cảnh báo rằng những hành động như thế của Ấn Độ sẽ gây tổn hại cho quan hệ Ấn-Trung trong tương lai lâu dài. Sự thực là giới truyền thông Trung Quốc thường xuyên nhắc nhở rằng Ấn Độ nên đóng vai trò xây dựng và mang lại lợi ích cho sự ổn định của khu vực và đừng nên mạo hiểm dấn thân vào Biển Đông, nơi mà Trung Quốc đang nỗ lực tuyên truyền là 'Biển Của Trung Quốc'. Đây là một giả định ngu ngốc. Giống như chuyện Ấn Độ Dương không phải là 'Biển Của Ấn Độ', Nam Trung Quốc Hải đương nhiên cũng không phải là 'Biển Của Trung Quốc'. 

Ngoài ra, cái mà Trung Quốc xem là vai trò xây dựng và mang lại lợi ích là những gì phù hợp với lợi ích của Trung Quốc. Một kết quả như thế chỉ có thể xảy ra khi lợi ích của cả hai nước hội tụ. Khi lợi ích phân kỳ, một điều chắc chắn sẽ xảy ra giữa các quốc gia tự chủ, quan điểm của Trung Quốc về quan hệ hài hòa ngụ ý phải chấp nhận điều kiện của Trung Quốc. Đó rõ ràng là việc mà Ấn Độ không thể làm.

Thái độ quyết đoán của Trung Quốc còn phản ánh mối quan tâm của họ đối với vấn đề năng lượng. Tăng cường sự hiện diện của quân đội Trung Quốc tại khu vực đối diện Ladakh và trong vùng Gilgit Baltistan của Pakistan có quan hệ mật thiết với nỗ lực thiết lập một tuyến đường bộ an toàn cho nguồn cung ứng dầu hỏa từ các nước cộng hòa Trung Á và vùng Vịnh qua ngã Qwadar. Tuyên bố chủ quyền của họ trên nhiều phần đất của Arunachal Pradesh nhắm vào mục tiêu tạo tình hình bất ổn cho Ấn Độ trong tương lai gần. Trong tương lai xa, Trung Quốc tỏ vẻ ngắm nghé những trữ lượng dầu đá phiến lớn lao của tỉnh bang này. Theo ông Chudamani Ratnam, cựu chủ tịch công ty Oil India Limited, những lớp trầm tích ở đó có khả năng sản xuất 140 triệu tấn trong vòng 100 năm, có thể đưa Ấn Độ lên địa vị một nước xuất khẩu dầu thực thụ. Tuy trong hiện tại kỹ thuật khai thác không có hiệu quả kinh tế, nhưng tình trạng này có thể thay đổi trong tương lai. Arunachal Pradesh cùng với Tây Tạng là một nguồn chứa nước và Trung Quốc rất hùng hổ trong chính sách thủy văn của họ. Bởi thế thái độ gây hấn về chuyện Arunachal Pradesh không có khả năng suy giảm trong tương lai.

Đã từ lâu, vùng Biển Đông với nhiều trữ lượng dầu khí phong phú là nguyên nhân gây ra tranh chấp giữa Trung Quốc và các nước thành viên chủ yếu của ASEAN — Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai và Brunei. Trung Quốc muốn giải quyết vấn đề với các nước liên quan theo biện pháp song phương nhưng các nước này tỏ ý cảnh giác một cách chính đáng trước những kế hoạch của Trung Quốc và muốn chọn lựa biện pháp đa phương để giải quyết những đòi hỏi của mình. Tình trạng leo thang căng thẳng tại Biển Đông biểu hiện rõ ràng ý đồ muốn quay trở lại với học thuyết cũ rích của Trung Quốc là phải cải chính những sai lầm của quá khứ và đòi hỏi những gì mà họ tin tưởng là lãnh thổ đương nhiên của mình bằng tất cả mọi phương tiện có thể tiến hành. Việc quấy nhiễu các tàu khảo sát của Phi Luật Tân và Việt Nam vào đầu năm nay cùng với luận điệu rất quả quyết rằng "chủ quyền, quyền tài phán cũng như các quyền hạn liên quan khác của Trung Quốc tại Biển Đông được hỗ trợ bằng nhiều chứng cứ lịch sử và pháp lý phong phú," là dấu hiệu biểu thị thái độ ngang ngạnh ngày càng gia tăng của Trung Quốc tại khu vực. Trong hàm ý chiến lược của mình, Trung Quốc không xem Ấn Độ là một tay chơi ở ngoài vùng Nam Á và kiếm cách kiểm soát địa vị đang trỗi dậy của Ấn Độ tại khu vực này. Điều đó phù hợp hoàn hảo với chiến lược rộng lớn hơn của Trung Quốc là giới hạn ảnh hưởng của New Delhi trong phạm vi các nước thành viên của SAARC [Hiệp Hội Hợp Tác Khu Vực Nam Á]. Mục đích của Bắc Kinh trong việc hỗ trợ Islamabad về mặt quân sự và hạt nhân là để cột chân Ấn Độ tại vùng Nam Á. Cuộc chiến ủy nhiệm do Pakistan tiến hành tại Jammu và Kashmir cũng rất có khả năng được Trung Quốc hỗ trợ bởi vì nó ăn khớp một cách tuyệt vời với chính sách của họ.

Có một số người trong giới chiến lược của Ấn Độ muốn tránh né quan hệ thù địch với Trung Quốc bằng mọi giá. Họ sẽ từ bỏ nỗ lực khai thác dầu khí với Việt Nam và đưa nó lên bệ thờ tình hữu nghị với Trung Quốc. Loại tư duy đó đặt lên vai Ấn Độ một trách nhiệm nặng nề là phải duy trì quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc ngay cả khi nó mang ý nghĩa hy sinh lợi ích của Ấn Độ. Đó là một thái độ nguy hiểm và gợi lại tuyên bố nổi tiếng "Hòa bình cho thời chúng ta" của Arthur Neville Chamberlain sau khi ông ta ký kết một hiệp ước hòa bình với Hitler trước khi Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ. Về sau Churchill đã nói rằng ông Chamberlain chuyên nhìn mọi sự vật từ miệng dưới của ống cống thành phố. Ý nghĩa đó đại khái cũng có thể miêu tả thái độ của nhóm người theo chủ nghĩa hòa bình luôn luôn ủng hộ lập trường của Trung Quốc.

Năm ngàn năm lịch sử ngoại giao của Trung Quốc cho thấy họ có nhiều khả năng tôn trọng một quốc gia hùng cường hơn một nước yếu đuối và lung lay. Nhượng bộ chỉ làm tăng khát vọng thống trị khu vực của Trung Quốc. Một điều không thể nghi ngờ là sự gia tăng ảnh hưởng quân sự và kinh tế của Trung Quốc đang dẫn đến tình trạng chuyển dịch quyền lực dần dần ra khỏi tay Hoa Kỳ. Tuy nhiên quá trình này mang tính chất tiệm tiến và từ bây giờ cho đến lúc đó còn cần thêm nhiều thập kỷ nữa. Để bảo tồn lợi ích cốt lõi của mình, Ấn Độ phải có khả năng quân sự cần thiết trên đất liền, biển cả, và không gian để đối chọi với những kế hoạch của Trung Quốc. Điều này cần phải được tiến hành cấp tốc cùng với mức tăng trưởng kinh tế, nếu không khả năng đứng lên để bảo vệ những gì chúng ta tin tưởng sẽ bị tổn thất nghiêm trọng.

Tác giả: Thiếu Tướng Dhruv C Katoch 
Chủ Tịch Bổ Sung, Trung Tâm Nghiên Cứu Địa Chiến
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn