Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



31 tháng 8, 2011

Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng

Ngải Vị Vị phát hiện thủ đô Trung Quốc là một trại tù
nơi mà con người muốn bạo phát cuồng điên

Bắc Kinh là hai thành phố. Bên này là một thành phố của quyền lực và tiền bạc. Người ta chẳng quan tâm láng giềng họ là ai; họ chẳng bao giờ tin cậy bạn. Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng nổi mình sẽ có khả năng mua được một căn nhà. Họ đến từ những ngôi làng nghèo xơ xác, nơi mà họ chẳng bao giờ thấy ánh đèn điện và giấy toa-lét

Mỗi năm hàng triệu người đến Bắc Kinh để xây cầu, xây đường, và xây nhà cho nó. Mỗi năm họ xây thêm một Bắc Kinh có kích thước bằng thành phố này vào năm 1949. Họ là dân nô lệ của Bắc Kinh. Họ sống lây lất trong những cấu trúc bất hợp pháp mà rồi đây Bắc Kinh sẽ hủy diệt vì nó cứ mãi bành trướng. Ai làm chủ nhà cửa? Những người trong chính quyền, các ông sếp mỏ than, các xì thẩu của những doanh nghiệp lớn. Họ đến Bắc Kinh để ban bố tặng phẩm — và kết quả là các nhà hàng, các quán karaoke, các phòng tắm hơi cứ thế mà giàu kếch sù.

Bắc Kinh bày tỏ với người ngoại quốc rằng họ có thể hiểu được thành phố này, rằng chúng tôi cũng có các công trình kiến trúc cùng loại: Tổ Chim, tháp đài truyền hình CCTV. Quan chức mặc côm-lê và đeo cà-vạt như bạn nói rằng chúng ta chẳng khác gì nhau và chúng ta có thể hợp tác làm ăn. Nhưng họ khước từ mọi quyền lợi cơ bản của chúng tôi. Bạn sẽ thấy nhiều ngôi trường dành cho dân nhập cư đã bị đóng cửa. Bạn sẽ thấy những bệnh viện nơi họ khâu vết thương cho bệnh nhân — và khi phát hiện bệnh nhân không có tiền họ sẽ lập tức tháo chỉ. Đây là một thành phố oa tàng bạo lực.

Điều tồi tệ nhất về Bắc Kinh là bạn không bao giờ có thể tín nhiệm hệ thống tư pháp. Không có tín nhiệm, bạn chẳng thể xác định được điều gì cả; nó giống hệt một cơn bão cát. Bạn không thể xem mình là một bộ phận của thành phố. Chẳng có nơi nào mà bạn có thể tạo dựng được quan hệ, chẳng có nơi nào mà bạn ưa đến viếng thăm. Không có ngõ ngách, khu vực nào được soi rọi bằng một loại ánh sáng nào cả. Bạn chẳng có ký ức gì về bất cứ một loại vật liệu, kết cấu, và hình thái nào cả. Mọi thứ luôn luôn thay đổi, theo ý nguyện của một kẻ nào đó, theo quyền lực của một kẻ nào đó.

Nếu muốn thiết kế Bắc Kinh cho hợp cách, bạn phải giành cho nó một khoảnh không gian để dung chứa nhiều sở thích, để cư dân có thể cộng tồn, để xã hội có được một thực thể hoàn chỉnh. Thành phố phải là nơi có thể cung ứng một nguồn tự do tối đa. Nếu không, nó vẫn còn thiếu thốn.

Tôi cảm thấy ân hận khi nói rằng Bắc Kinh chẳng có nơi nào mà tôi ưa thích nhất cả. Tôi chẳng có ý định đi đâu trong thành phố này. Mọi nơi đều quá đơn giản. Bạn chẳng muốn ngước nhìn người bộ hành bước qua vì bạn biết đích xác họ đang nghĩ gì. Không có tính hiếu kỳ. Và thậm chí không ai muốn lý luận với bạn.

Nghệ thuật của tôi chẳng có gì tượng trưng cho Bắc Kinh cả. Tổ Chim — tôi không bao giờ nghĩ đến nó. Sau Thế Vận Hội chẳng ai màng thảo luận về nó vì Thế Vận Hội không mang lại cho người dân niềm vui nào.

Bắc Kinh cũng có vài điều hay. Người ta vẫn sinh con. Vẫn còn một vài công viên đẹp. Tuần rồi tôi lang thang trong một công viên loại đó và có vài người đến trước mặt giơ hai ngón tay cái lên để tỏ ý khen hoặc vỗ vào vai tôi. Tại sao họ phải làm chuyện đó một cách lén lút như vậy? Không ai muốn lên tiếng. Họ đang chờ đợi gì vậy? Họ luôn luôn bảo tôi: "Vị Vị, hãy bỏ nước ra đi." Hoặc là "Cố sống lâu hơn để xem tụi nó chết nhé." Ra đi, hay kiên nhẫn và xem chúng chết như thế nào. Thực sự tôi chẳng biết mình sẽ làm gì.

Thử thách gian khổ đó đã khiến tôi nhận thức được rằng trên mảnh đất này còn có nhiều đốm điểm được dấu kín, nơi chúng nhốt người không có thân phận. Không tên tuổi, chỉ là một con số. Chúng chẳng quan tâm bạn sẽ đi về đâu, bạn đã phạm tội gì. Chúng nhìn thấy bạn hay chúng không nhìn thấy bạn, điều đó chẳng tạo nên một khác biệt nào thậm chí chỉ ở mức độ nhỏ nhất. Có cả hàng ngàn những đốm điểm đó. Chỉ có gia đình bạn kêu gào rằng bạn bị mất tích. Nhưng bạn sẽ không tìm được lời phúc đáp từ tổ dân phố hay quan chức, hay từ những tầng lớp cao cấp nhất, tòa án, công an, hay cả chủ tịch nước. Vợ tôi ngày nào cũng viết đơn thỉnh cầu, gọi điện thoại đến sở công an. Chồng tôi ở đâu? Làm ơn cho tôi biết chồng tôi ở đâu. Chẳng có giấy tờ, chẳng có tin tức gì cả.

Đặc tính khốc liệt nhất của những nơi đó là chúng hoàn toàn bị chặt đứt và loại khỏi ký ức của bạn hay bất cứ thứ gì mà bạn từng quen thuộc. Bạn bị cô lập hoàn toàn. Và bạn không biết mình phải ở đó bao lâu, nhưng bạn tin chắc rằng chúng có thể làm bất cứ điều gì đối với bạn. Chẳng có cách nào thậm chí chỉ để chất vấn điều đó. Chẳng có gì bảo vệ cho bạn cả. Bạn tự hỏi tại sao mình ở đây? Thời gian cứ chập chờn trong tâm trí bạn. Bạn như thể phát cuồng. Đây là một niềm thống khổ đối với bất cứ ai. Thậm chí đối với những người có tín niệm mạnh mẽ.

Thành phố này không phải là chuyện về những con người khác, về các công trình kiến trúc hay đường phố, mà chính là cấu trúc tâm linh của bạn. Nếu chúng ta nhớ những gì Kafka đã viết về Lâu Đài của ổng, chúng ta sẽ ý thức được điều đó. Thành phố thực sự chỉ là hoàn cảnh tâm linh. Bắc Kinh là một cơn ác mộng. Một cơn ác mộng vĩnh hằng.


Tác giả: Ngải Vị Vị
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn


Copyright © 2011 Nam Hải Trường Sơn

Các Bài Liên Quan:

[ Đọc Tiếp ]

30 tháng 8, 2011

Trung Quốc Sẽ Là La Mã Hay Hy Lạp? (2)

Mặc dù được công bố vào cuối tháng 8 nhưng bản báo cáo này vẫn thu hút nhiều mối quan tâm tại Hoa Thịnh Đốn hơn thường lệ. Không những Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đang phấn đấu để bảo vệ ngân sách của mình trong giai đoạn cắt giảm có quy mô lớn đang được tiến hành, QGPTQ lại còn trưng bày một loạt năng lực quân sự mới, bao gồm chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của HQTQ và chiếc chiến đấu cơ tàng hình đầu tiên của KQTQ. "Về mặt quân sự, chương trình hiện đại hóa trì cữu của Trung Quốc đang mang lại nhiều lợi tức rõ rệt," bản báo báo nhận định. Trong năm 2010, Trung Quốc đã tiến nhanh trong việc đưa vào trận địa một hệ thống hỏa tiển đạn đạo chống chiến hạm có khả năng sẵn sàng tác chiến, tiếp tục tiến hành kế hoạch xây dựng hàng không mẫu hạm, và hoàn thành nguyên mẫu cho chiếc chiến đấu cơ tàng hình đầu tiên của họ.

Nhưng bản báo cáo cũng chia sẻ phán đoán nhập nhằng của nhiều nhà phân tích ngoại quốc về việc Trung Quốc có thực sự sở hữu một chiến đấu cơ tàng hình hay không. Bản báo cáo đề xuất rằng chiếc J-20 này "nêu rõ tham vọng của Trung Quốc trong việc sản xuất một loại chiến đấu cơ có khả năng kết hợp những đặc tính tàng hình, thiết bị điện tử hàng không tiên tiến, cũng như động cơ có khả năng tuần hành siêu đẳng, trong vòng vài năm tới.

Bản báo cáo cũng nhất trí với nhận định của hầu hết các chuyên gia rằng chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của HQTQ, vừa được hạ thủy đầu tháng này nhưng không có chiến đấu cơ, "trong giai đoạn đầu có lẽ chỉ là một bình đài phục vụ cho mục đích huấn-luyện-và-đánh-giá." Nhưng Ngũ Giác Đài đồng ý rằng Trung Quốc chắc chắn sẽ không đơn giản ngừng lại với chỉ một mẫu hạm huấn luyện đã lỗi thời này mà ngược lại sẽ bắt đầu xây dựng một hạm đội cho chính mình trong thời gian sắp tới. "Trung Quốc có thể đã bắt đầu xây dựng một mẫu hạm hoàn toàn tự chế vào năm 2011 và có khả năng đi vào hoạt động sau năm 2015," bản báo cáo kết luận. "Trung Quốc rất có thể sẽ xây dựng nhiều hàng không mẫu hạm có tàu hộ tống trong thập niên sắp đến."

Bản báo cáo không xếp QGPTQ vào hạng một siêu cường quân sự toàn cầu và trên thực tế đã lý giải rằng Trung Quốc phải cần thêm mấy mươi năm nữa mới đạt được địa vị này. Bản báo cáo chỉ ra sự hiện hữu của một khối lượng lớn "các cương liệu lỗi thời" trong bản kiểm kê của QGPTQ cũng như "nhiều lỗ hổng trong một số lãnh vực chủ yếu" và thêm vào đó là "những thiếu sót vẫn còn đang tiếp diễn trong việc cộng tác đa binh chủng cũng như trong kinh nghiệm thực tiễn về diễn tập liên hợp và điều động tác chiến." Các tác giả nhận định rằng QGPTQ chỉ "đang đều đặn thu hẹp khoảng cách kỹ thuật giữa họ và các quân đội hiện đại khác bằng cách chi tiêu xa xỉ."

Mặc dù vậy nhưng Phó Trợ Lý Ngoại Trưởng Đặc Trách Đông Á Michael Schiffer đã phát biểu trong một buổi họp báo tại Ngũ Giác Đài rằng quan chức Hoa Kỳ không bận tâm về bất cứ một hệ thống vũ khí riêng biệt nào mà Trung Quốc đang phát triển. Ngược lại, họ cảm thấy báo động trước tình hình tăng trưởng quân sự mang tính chất toàn diện và trì cữu của Trung Quốc mà Ngũ Giác Đài lo ngại sẽ trở thành một lực lượng "phá hoại ổn định" tại vùng Á Thái.

"Nhịp độ và phạm vi của nguồn đầu tư quân sự trì cữu mà Trung Quốc đang tiến hành cho phép họ đeo đuổi những năng lực mà chúng tôi tin rằng có tiềm năng phá hoại thế cân bằng quân sự tại khu vực, gia tăng nguy cơ ngộ nhận và tính toán sai lầm cũng như góp phần tạo nên căng thẳng và bất an trong khu vực," ông Schiffer nhận định. "Những năng lực này có thể nới rộng tầm lựa chọn của Bắc Kinh trong việc dùng sức mạnh quân sự để chiếm đoạt ưu thế ngoại giao, xúc tiến mạnh mẽ lợi ích của họ hoặc giải quyết những tranh chấp quân sự theo chiều hướng có lợi cho họ."

Ngữ điệu của ông Schiffer tỏ vẻ khác biệt với nội dung của bản báo cáo trong việc biện luận rằng QGPTQ sẽ đưa vào trận địa một số hệ thống tác chiến "ngang hàng với" hoặc vượt quá tiêu chuẩn quốc tế trong vòng mười năm tới, ông cho rằng Trung Quốc "đang trên đường" đi đến địa vị một cường quốc quân sự trong khu vực vào khoảng 2020.

Trong bài viết đăng trên The Diplomat hôm qua, David Cohen nắm bắt trọng điểm mang tính cân bằng của bản báo cáo này một cách tinh tế: "Trong khi Trung Quốc phải cần thêm vài chục năm nữa mới có thể nghĩ đến việc giao chiến ở chốn hải ngoại xa xôi, nhưng có lẽ chẳng còn bao lâu nữa trước khi họ có khả năng mạnh dạn bắt buộc Hoa Kỳ phải rút khỏi sân sau của mình."

Trở lại phần 1          Xem tiếp phần 3
[ Đọc Tiếp ]

28 tháng 8, 2011

Trung Quốc Sẽ Là La Mã Hay Hy Lạp?  (1)

Chiều thứ tư [24-8-2011], tại Hoa Thịnh Đốn sau trận động đất, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ công bố văn bản mới nhất của báo cáo thường niên đệ trình Quốc Hội về sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Vì quân đội Trung Quốc vốn vẫn cứ mập mờ về các kế hoạch và chương trình quân sự của họ, nhiều chuyên gia an ninh quốc tế phải dựa vào những thẩm định của bản báo cáo này trên một mức độ nặng nề, mặc dù nó thường xuyên đưa ra cảnh báo về tình trạng thiếu thốn thông tin trong quá trình thẩm định những vấn đề này — hay mặc dù giới quan chức Trung Quốc vẫn đưa ra nhiều phản đối cho rằng việc phúc trình chỉ mang tính chất lừa dối.

Bản báo cáo mới nhất này đề xuất một đánh giá cân bằng rằng Trung Quốc cần thêm nhiều thập niên nữa để phát triển khả năng triển khai và duy trì những hoạt động quân sự có quy mô lớn và cường độ cao ở những vị trí cách xa lãnh thổ của họ, nhưng dự tính rằng quân đội Trung Quốc sẽ đạt được nhiều năng lực đáng kể mang tính chất tập trung tại khu vực vào khoảng 2020. Bản báo cáo này cũng ước tính rằng ngân sách quốc phòng của Trung Quốc trong năm 2010 khoảng hơn 160 tỉ Mỹ kim, cao hơn con số chính thức do Trung Quốc công bố rất nhiều, nhưng xét ra cũng tương đối chính xác vì chính phủ Trung Quốc không gộp vào ngân sách quốc phòng của họ rất nhiều hàng mục.

Bản báo cáo mới nhất của Ngũ Giác Đài về tình hình quân sự Trung Quốc nhấn mạnh sự tiến triển nhanh chóng mà nước này đang đạt được. Nhưng việc tăng trưởng này thực sự được nhắm vào mục đích gì?

Như bản sắc thường lệ, vào hôm thứ sáu, trong một phản ứng chính thức đối với bản báo cáo này, Bộ Quốc Phòng Trung Quốc cáo buộc rằng Hoa Kỳ đã thổi phồng sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Trong bài bình luận gởi tới thông tấn xã Reuters qua hệ thống fax, Bộ này tuyên bố rằng: "Việc phát triển và nâng cấp một số vũ khí và quân trang của quân đội Trung Quốc là một điều rất bình thường." Quan chức Trung Quốc thường xuyên lên án quá trình báo cáo hàng năm này có tác động chia rẽ và mang tính chất đạo đức giả khi xét đến ngân sách quốc phòng đồ sộ của Hoa Kỳ, mà so với con số ước tính cao nhất cho ngân sách quốc phòng của Trung Quốc lại lớn hơn gấp mấy lần. 

Tuy thế nhưng Quốc Hội Hoa Kỳ, tiếp tục xây dựng trên tiền lệ do một báo cáo về sức mạnh quân sự của Liên Xô trước kia tạo nên, từ năm 2002 đã ra chỉ thị quy định Ngũ Giác Đài phải đệ trình báo cáo hàng năm, bằng một bản công khai lẫn một bản bảo mật, về tình hình của Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc (QGPTQ). Bản báo cáo này đánh giá năng lực, học thuyết, chiến lược, kỹ thuật, kết cấu lực lượng, tổ chức, và những khái niệm hoạt động hiện thời cũng như có khả năng đạt được trong tương lai của QGPTQ. Đạo Luật Phê Chuẩn Quốc Phòng Tài Khóa 2010 quy định việc báo cáo tường tận về những cuộc tiếp xúc quân sự giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Nó còn đổi tên cái trước đây được gọi là "Sức Mạnh Quân Sự Của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa" thành "Những Phát Triển An Ninh Và Quân Sự Có Liên Quan Đến Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa."

Bản báo cáo đưa ra nhiều bằng chứng đáng kể về việc các nhà chiến lược và lãnh tụ chính trị của Trung Quốc đã trao cho quân đội Trung Quốc một loạt càng ngày càng nhiều sứ mệnh và nhiệm vụ, từ giành thắng lợi chiến tranh cho đến duy trì ổn định trong nước và bảo vệ quyền lợi kinh tế và thương mãi của Trung Quốc ở hải ngoại. Theo Ngũ Gác Đài, quân đội Trung Quốc đã tiếp nhận thêm nhiều nguồn tài nguyên, thay đổi học thuyết chiến đấu, và tái cấu trúc tổ chức để hoàn thành những sứ mệnh này tốt hơn.

Các tác giả [của bản báo cáo này] đã đưa ra tài liệu minh họa sự tiến triển mà từng binh chủng của quân đội Trung Quốc đã đạt được trong việc cải thiện năng lực cũng như nới rộng tầm hoạt động của mình kể từ khi bản báo cáo đầu tiên về sức mạnh quân sự của Trung Quốc ra đời vào năm 2000. QGPTQ, trước kia chỉ tập trung vào việc giành thắng lợi trong một cuộc trường kỳ kháng chiến để tiêu hao lực lượng của bất cứ một kẻ ngoại xâm nào, giờ đây đang phát triển năng lực để chiến thắng những cuộc xung đột ngắn hạn và có cường độ cao ở chung quanh Trung Quốc. Hải Quân của QGPTQ (HQTQ) đang chuyển hóa từ một lực lượng chủ yếu tập trung vào việc phòng ngự duyên hải thành một lực lượng có khả năng hoạt động bên ngoài lãnh hải của Trung Quốc để bảo vệ quyền lợi đại dương của mình. Không Quân của QGPTQ (KQTQ) đang ở trong thời kỳ quá độ từ một binh chủng tập trung hầu như hoàn toàn vào việc bảo vệ lãnh thổ sang một binh chủng có khả năng tiến hành nhiều sứ mệnh công kích cũng như phòng thủ đa dạng ở ngoài biên giới Trung Quốc.

Về năng lực hoạt động tổng hợp, quân đội Trung Quốc không những đã gia tăng số lượng các hệ thống vũ khí chủ yếu mà còn sở hữu nhiều hệ thống tiên tiến cũng như hoàn thiện năng lực kết hợp những yếu tố quan trọng trong sức mạnh quân sự của mình. Quân đội Trung Quốc đang tăng cường hậu cần và các mạng lưới chi viện khác cho tất cả mọi binh chủng của mình. Các chiến lược gia Trung Quốc đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao các hệ thống C4ISR [Chỉ huy (Command), Kiểm soát (Control), Thông tin (Communications), Máy tính (Computers), Tình báo (Intelligence), Giám thị (Surveillance) và Trinh sát (Reconnaissance)] lên mức khả tín hơn, có năng lực sống còn và thao tác hỗ tương cao hơn cũng như được hợp nhất.

Xem tiếp phần 2
[ Đọc Tiếp ]

24 tháng 8, 2011

Biển Đông: Tương Lai Của Xung Đột (5)

Nhưng liệu xung đột tại Biển Đông có thể được kiềm chế thích đáng hay không? Lập luận của tôi cho tới hiện thời giả định rằng chiến tranh với quy mô lớn sẽ không bùng nổ tại khu vực này và thay vào đó các nước sẽ hài lòng với việc xoay xở để giành vị thế bằng chiến hạm trên biển cả, trong khi vẫn cứ đưa ra tuyên bố cạnh tranh quyền sở hữu tài nguyên thiên nhiên, và có lẽ còn tán thành việc phân phối công bằng những nguồn tài nguyên này nữa. Nhưng nếu Trung Quốc, trái với mọi xu hướng có cơ sở bằng chứng, cứ ngang nhiên xâm lược Đài Loan thì sao? Và chuyện gì sẽ xảy ra nếu Trung Quốc và Việt Nam, hai kình địch truyền kiếp, lại phát động chiến tranh như họ đã làm hồi năm 1979, nhưng lần này với kho vũ khí trí mạng hơn? Bởi vì không phải chỉ riêng Trung Quốc là nước đang năng nổ xây dựng quân đội của mình, các quốc gia Đông Nam Á cũng đang thực hiện điều đó. Trong thập kỷ vừa qua, ngân sách quốc phòng của họ đã gia tăng khoảng một phần ba, trong khi ngân sách quốc phòng của các nước châu Âu suy giảm. Từ năm 2000, Indonesia, Singapore, và Malaysia đã gia tăng lượng nhập khẩu vũ khí, theo thứ tự tương ứng, 84%, 146%, và 722%. Chi phí này được dùng để tăng cường các bình đài hải quân và không quân: chiến hạm nổi, tàu ngầm có trang bị hệ thống tên lửa hiện đại, và chiến đấu cơ phản lực tầm xa. Việt Nam mới đây đã chi 2 tỷ Mỹ kim để mua sáu chiếc tàu ngầm lớp Kilo tiên tiến nhất của Nga, và 1 tỷ Mỹ kim để mua chiến đấu cơ phản lực cũng của Nga. Malaysia vừa đưa vào hoạt động một căn cứ tàu ngầm trên đảo Borneo. Hoa Kỳ, dù vướng bận với hai cuộc lục chiến ở vùng Trung Đông rộng lớn, đang âm thầm di chuyển quyền lực quân sự từ châu Âu sang châu Á.

Trước mắt, Hoa Kỳ là nước nắm cương vị bảo chứng hiện trạng phiền toái tại Biển Đông, giới hạn hoạt động gây hấn của Trung Quốc chủ yếu vào phạm vi [vẽ] bản đồ của họ, và giữ nhiệm vụ kiểm soát hoạt động của giới ngoại giao cũng như các lực lượng hải quân của Trung Quốc (mặc dù điều này không phải để nói rằng Hoa Kỳ thuần khiết trong mọi hành động và Trung Quốc tự nhiên là kẻ côn đồ). Những gì Hoa Kỳ cung cấp cho các quốc gia trong khu vực Biển Đông mang ít sắc thái từ thực tế đạo đức dân chủ của mình hơn là từ thực tế sức mạnh cơ bắp thô bạo của mình. Chính sự cân bằng quyền lực giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc cuối cùng đã giữ cho Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Indonesia, Singapore và Malaysia được tự do, có khả năng thúc đẩy cường quốc này đối trọng với cường quốc kia. Và trong khoảng không gian tự do đó, chủ thuyết khu vực có thể trỗi dậy để nắm lấy cương vị một cường quốc có tư cách riêng của mình, dưới hình thức của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, quyền tự do này không thể xem là chuyện đương nhiên. Vì tình trạng đối trị quyết liệt giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc — kéo dài đến tận mạng lưới phức tạp bao gồm nhiều chủ đề từ mậu dịch cho đến cải cách tiền tệ, từ an ninh mạng cho đến giám sát tình báo — đang có nguy cơ chuyển dịch sang chiều hướng có lợi cho Trung Quốc trong vùng Đông Á, phần lớn là do vị trí địa lý trung tâm của Trung Quốc đối với khu vực.

Bản tổng kết toàn diện nhất về tình hình địa chính trị mới của châu Á không xuất xứ từ Hoa Thịnh Đốn hay Bắc Kinh mà từ Canberra. Trong bài báo dài 74 trang được xuất bản hồi năm ngoái dưới tựa đề "Chuyển Dịch Quyền Lực: Tương Lai Nước Úc Giữa Hoa Thịnh Đốn Và Bắc Kinh" ["Power Shift: Australia's Future Between Washington and Beijing"], ông Hugh White, giáo sư nghiên cứu chiến lược tại Đại Học Quốc Gia Úc, đã mô tả tổ quốc mình là một cường quốc “hiện trạng” điển hình — một cường quốc chỉ muốn tình hình ở Châu Á được duy trì y nguyên như hiện trạng bằng mọi cách, nghĩa là Trung Quốc vẫn tiếp tục phát triển để Úc có thể giao thương ngày càng nhiều hơn với họ, trong khi Hoa Kỳ vẫn là "cường quốc mạnh nhất ở Châu Á" để làm "kẻ bảo bọc tối hậu" cho Úc. Tuy nhiên, như lời giáo sư White viết, vấn đề là cả hai chuyện này không thể kéo dài mãi. Châu Á không thể tiếp tục thay đổi về kinh tế mà không thay đổi về chính trị và chiến lược; guồng máy kinh tế khổng lồ của Trung Quốc tự nhiên là sẽ không hài lòng với ưu thế quân sự của Hoa Kỳ tại châu Á.

Trung Quốc muốn gì? Giáo sư White khẳng định rằng Trung Quốc có tham vọng muốn trở thành một đế quốc kiểu mới tại châu Á giống như kiểu mà Hoa Kỳ đã thiết lập ở Tây Bán Cầu, sau khi Hoa Thịnh Đốn đã nắm vững quyền thống trị toàn bộ Hải Bồn Ca-ri-bê (như Bắc Kinh hy vọng sẽ thống trị được toàn bộ Biển Đông). Đế quốc kiểu mới này, theo diễn giải của giáo sư White, có nghĩa là các nước láng giềng của Hoa Kỳ "ít nhiều vẫn được tự do quản trị đất nước mình,” ngay cả khi Hoa Thịnh Đốn kiên trì khẳng định rằng quan điểm của Hoa Kỳ phải được "xem xét đầy đủ" và giữ địa vị ưu tiên so với quan điểm của các cường quốc bên ngoài khu vực. Chướng ngại của mô hình này là Nhật Bản chắc chắn sẽ không chấp nhận quyền bá chủ của Trung Quốc, cho dù nó mềm đến mức nào. Điều đó có nghĩa là chỉ còn lại mô hình Hòa Tấu Châu Âu, trong đó Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hoa Kỳ và có lẽ thêm một hoặc hai quốc gia khác nữa sẽ ngồi vào bàn hội nghị của các cường quốc châu Á với tư cách bình đẳng. Nhưng vì Hoa Kỳ đã liên kết nền thịnh vượng và ổn định của châu Á với tính ưu việt của mình, liệu họ có chấp nhận vai trò khiêm tốn như thế không? Giáo sư White đề xuất rằng trong tình trạng Trung Quốc đang trỗi dậy, từ rày về sau địa vị thống trị của Mỹ có lẽ lại mang hàm ý bất ổn định cho châu Á.

Địa vị thống trị của Hoa Kỳ được xác định trên quan niệm cho rằng vì Trung Quốc là một chế độ độc tài tại quốc nội nên sẽ hành động theo cách "không thể chấp nhận được tại hải ngoại." Nhưng cũng có thể điều đó không phải là vậy, giáo sư White lập luận. Trung Quốc tự nhận là một cường quốc lương thiện, không có ý đồ bá quyền — một cường quốc không bao giờ can thiệp vào tư duy nội bộ của các quốc gia khác như Hoa Kỳ vẫn làm với lối đạo đức lăng xăng lo chuyện thiên hạ của họ. Bởi vì Trung Quốc tự xem mình là một Vương Quốc Trung Tâm, nền tảng thống trị của họ là vị trí trung tâm cố hữu của Trung Quốc trong giòng lịch sử thế giới, chứ không phải là bất kỳ hệ thống nào mà họ muốn tìm cách xuất cảng.

Nói cách khác, Hoa Kỳ, chứ không phải Trung Quốc, có thể là vấn nạn trong tương lai. Có lẽ chúng ta thực sự quan tâm quá nhiều về bản chất nội bộ của chế độ Trung Quốc và tìm cách hạn chế quyền lực của Trung Quốc tại hải ngoại chỉ vì chúng ta không ưa thích các chính sách đối nội của họ. Thay vào đó, mục tiêu của Mỹ ở châu Á nên là đối trọng chứ không nên là thống trị. Chính bởi vì quyền lực cứng vẫn là chìa khóa trong các mối quan hệ quốc tế mà chúng ta phải nhường chỗ cho một Trung Quốc đang lên. Hoa Kỳ không cần phải tăng cường quyền lực hải quân ở Tây Thái Bình Dương, nhưng cũng không thể cắt giảm mạnh quyền lực này quá mức.

Việc mất đi một nhóm chiến đấu do hàng không mẫu hạm chủ soái của Hoa Kỳ tại Tây Thái Bình Dương do hậu quả cắt giảm ngân sách hoặc tái bố trí đến vùng Trung Đông có thể gây ra những cuộc thảo luận kích liệt trong khu vực về sự suy yếu của Hoa Kỳ và nhu cầu tất yếu nhằm thực hiện điều chỉnh và tiến hành các giao dịch phụ với Bắc Kinh. Hoàn cảnh tối ưu là duy trì sự hiện diện của hải quân và không quân Hoa Kỳ ở mức độ ngang ngửa hiện tại, ngay cả khi Hoa Kỳ phải làm hết sức mình để thiết lập một mối quan hệ thân mật và có thể đoán định được với Trung Quốc. Bằng cách đó, Hoa Kỳ có thể thích nghi dần dần với hải quân nước xanh của Trung Quốc. Trong quan hệ quốc tế, đứng sau mọi vấn đề đạo đức là vấn đề quyền lực. Can thiệp nhân đạo tại khu vực Balkan sở dĩ thực hiện được là vì chế độ Serbia suy yếu, không giống như chế độ Nga, cũng phạm các tội ác tàn bạo có tầm mức tương tự tại Chechnya nhưng phương Tây chẳng làm gì cả. Trong những thập kỷ tới, tại Tây Thái Bình Dương, đạo đức có thể đồng nghĩa với việc từ bỏ một số lý tưởng mà chúng ta trân quí nhất để kiến tạo ổn định. Chúng ta có thể làm gì khác hơn để nhường chỗ cho một Trung Quốc theo thể chế chuẩn-toàn-trị trong khi quân đội của họ không ngừng bành trướng? Thông thường chính bản thân cán cân quyền lực, thậm chí hơn cả những giá trị dân chủ của phương Tây, mới là yếu tố bảo vệ tự do tốt nhất. Đó cũng sẽ là một bài học của Biển Đông trong thế kỷ 21 — một bài học khác nữa mà những người theo chủ nghĩa lý tưởng không muốn nghe.

oo0oo

Trở lại phần 4

Tác giả: Robert D. Kaplan
Dịch giả: Hồ Kim Sơn

Copyright © 2011 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

22 tháng 8, 2011

Biển Đông: Tương Lai Của Xung Đột (4)

Trong thế kỷ thứ 19, khi triều đại nhà Thanh trở thành gã "Đông Á bệnh phu" Trung Quốc bị Anh, Pháp, Nhật, và Nga cướp mất nhiều lãnh thổ. Thế kỷ 20 chứng kiến những vụ chiếm đoạt đẫm máu của Nhật Bản tại Bán Đảo Sơn Đông và Mãn Châu. Tất cả những điều này chồng chất trên mối sĩ nhục do những hiệp định thừa nhận pháp quyền ngoại trị tròng vào cổ người Trung Quốc trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, mà qua đó các nước phương Tây đã giành được quyền kiểm soát nhiều khu vực tại các thành phố của Trung Quốc — những nơi được mệnh danh là "cửa khẩu thông thương." Như sử gia Johnathan D. Spence của Đại Học Yale cho chúng ta hay trong tác phẩm Truy Tầm Trung Quốc Hiện Đại [The Search for Modern China], vào khoảng năm 1938, tình trạng cướp phá này cùng với trận Nội Chiến của Trung Quốc đã tạo nên một nỗi lo sợ tiềm tàng "rằng Trung Quốc sắp bị phân thây, rằng sự sinh tồn trong địa vịa quốc gia của nó sẽ chấm dứt, và rằng lịch sử ký lục bốn ngàn năm của nó sẽ đi đến một kết thúc chấn động." Dục vọng bành trướng của Trung Quốc là lời tuyên bố rằng họ vĩnh viễn chẳng bao giờ có ý định để người ngoại quốc lợi dụng mình thêm một lần nào nữa.

Giống như lãnh thổ của nước Đức đã cấu thành tiền tuyến quân sự cho Chến Tranh Lạnh, những hải vực của Biển Đông cũng có thể cấu thành tiền tuyến quân sự cho những thập niên sắp tới. Khi hải quân Trung Quốc trở nên hùng mạnh hơn và khi những đòi hỏi của Trung Quốc trên Biển Đông xung đột với những đòi hỏi của các quốc gia duyên hải khác trong vùng, các quốc gia này buộc phải phát triển thêm khả năng hải quân của họ. Họ sẽ đối trọng với Trung Quốc bằng cách càng ngày càng nương tựa nhiều hơn vào Hải Quân Hoa Kỳ, một lực lượng mà sức mạnh, nói một cách tương đối, có lẽ đã đạt đến mức đỉnh điểm, ngay cả khi phải di chuyển nhiều nguồn tài nguyên đáng kể đến vùng Trung Đông. Tính đa cực toàn cầu đã là một đặc điểm trong ngoại giao và kinh tế, nhưng Biển Đông sẽ phô diễn cho chúng ta thấy tính đa cực trong ý nghĩa quân sự sẽ như thế nào. 

Mặt trận mới này chẳng có gì lãng mạn cả, bởi vì nó khiếm khuyết những đấu tranh mang tính đạo đức. Trong các trận hải chiến, trừ phi có pháo kích vào bờ, thực chất không hề có nạn nhân; và cũng chẳng có một kẻ thù trầm tĩnh nào để đối đầu cả. Chẳng có gì thuộc tầm mức tẩy rửa chủng tộc có khả năng xảy ra tại sân khấu xung đột mới dàn dựng ở trung tâm này. Mặc dù vẫn còn có nhiều nhà bất đồng chính kiến đang chịu đựng khốn khổ tại Trung Quốc, nhưng nước này đơn giản là chưa đạt tiêu chuẩn để trở thành đối tượng của phẫn nộ đạo đức. Chế độ hiện hành tại Trung Quốc chỉ triển hiện một phiên bản độc tài chuyên chế có năng lượng thấp, với một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và không có nhiều ý thức hệ thống trị đáng bàn đến. Hơn nữa, Trung Quốc rất có thể sẽ trở thành một xã hội cởi mở hơn chứ không khép kín trong những năm sắp tới. Thay vì chủ nghĩa phát xít hay chủ nghĩa quân phiệt, Trung Quốc, cùng với các quốc gia khác tại Đông Á, đang ngày càng được giới định bằng tính kiên trì của chủ nghĩa dân tộc kiểu cũ: một ý tưởng, tất nhiên rồi, nhưng không phải là loại đã từng thu hút giới trí thức từ giữa thế kỷ 19. Và nếu Trung Quốc có trở nên dân chủ hơn, chủ nghĩa dân tộc của họ chỉ có thể gia tăng thêm mà thôi, bởi vì ngay cả một cuộc thăm dò ý kiến phi chính thức về quan điểm của cư dân mạng có tư tưởng tương đối khá tự do của họ cũng có thể xác định rõ ràng điều này.

Chúng ta thường nghĩ về chủ nghĩa dân tộc như một cảm thức phản động, một tàn tích của thế kỷ 19. Tuy nhiên, chính chủ nghĩa dân tộc truyền thống là yếu tố chủ chốt đang thúc đẩy chính trị ở châu Á, và sẽ tiếp tục làm như thế trong tương lai. Chủ nghĩa dân tộc đó đang ngang nhiên dẫn đến sự tăng trưởng của các quân đội trong khu vực — đặc biệt là các lực lượng hải quân và không quân — để bảo vệ chủ quyền và khẳng định quyền sở hữu tài nguyên thiên nhiên trong vùng tranh chấp. Ở đây chẳng hề có một sự quyến rũ triết lý nào cả. Tất cả đều thuộc về phạm trù tính toán lạnh lùng của cán cân quyền lực. Ở mức độ mà chủ nghĩa hiện thực vô cảm, vốn được liên kết với chủ nghĩa dân tộc, cũng có thể có một gia cư địa lý, thì đó chính là Biển Đông.

Bởi thế bất cứ vở kịch đạo đức nào diễn ra ở Đông Á cũng phải mang sắc thái chính trị quyền lực khắc khổ thuộc loại sẽ khiến nhiều trí thức và ký giả tê điếng. Như Thucydides đã trình bày một cách rất đáng nhớ qua câu chuyện kể về cuộc chinh phục hải đảo Melos của người Nhã Điển thời cổ: "Kẻ mạnh làm những gì có thể làm và kẻ yếu phải còng lưng gánh chịu số phận." Trong câu chuyện tái diễn ở thế kỷ 21, với Trung Quốc đóng vai Nhã Điển nắm giữ địa vị cường quốc hải dương có sức mạnh vượt trội trong khu vực, kẻ yếu vẫn phải khuất phục — và chỉ có thế mà thôi. Đây sẽ là chiến lược ngầm của Trung Quốc, nhưng các quốc gia nhỏ hơn tại Đông Nam Á buộc phải kết bè cánh với Hoa Kỳ để tránh khỏi số phận của người dân đảo Melos. Nhưng tàn sát — điều đó sẽ không hiện hữu.

Biển Đông dự báo một hình thái xung đột khác hẳn với những gì mà chúng ta đã từng quen thuộc. Từ đầu thế kỷ 20, những cuộc chiến tranh quy ước đồ sộ trên đất liền ở bên này cũng như những trận đụng độ bẩn thỉu, nhỏ tầm và phi quy ước ở bên kia đã mang lại cho chúng ta lắm điều khốn khổ. Bởi vì cả hai loại chiến tranh này đều tạo ra nhiều số thương vong dân sự lớn lao nên chiến tranh đã trở thành một đề tài nghiên cứu cho các nhà nhân văn học cũng như giới tướng lãnh quân sự. Nhưng trong tương lai chắc có lẽ chúng ta sẽ được chứng kiến một hình thái xung đột thuần túy hơn, chỉ nằm gọn trong lãnh vực hải quân. Đây là một tình huống đáng lạc quan. Xung đột không thể hoàn toàn loại khỏi hoàn cảnh của nhân loại. Một chủ đề trong cuốn Những Luận Thuật Về Livy [Discourses on Livy] của Machiavelli là xung đột, nếu được kiềm chế thích đáng, có nhiều khả năng mang lại tiến bộ cho nhân loại hơn là ổn định cứng nhắc. Một vùng biển hội tụ đông đúc các loại chiến hạm không mâu thuẫn gì với một thời đại có nhiều hứa hẹn lớn lao cho châu Á. Tình thế bất an thường sản sinh ra năng động lực.

Trở lại phần 3                Xem tiếp phần 5

Tác giả: Robert D. Kaplan
Dịch giả: Hồ Kim Sơn

Copyright © 2011 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

21 tháng 8, 2011

Biển Đông: Tương Lai Của Xung Đột (3)

Biển Đông nối liền các quốc gia Đông Nam Á với Tây Thái Bình Dương, giữ chức năng ngõ dẫn cho những tuyến đường biển quốc tế. Đây là trung tâm hàng hải của Âu-Á, được ngắt quãng bằng các eo biển Malacca, Sunda, Lombok, và Makassar. Hơn một nửa trọng tải hàng năm của đội thương thuyền quốc tế và một phần ba tổng lượng giao thông hàng hải của thế giới đi qua các eo cổ chai này. Lượng dầu hỏa vận chuyển từ Ấn Độ Dương qua Eo Malacca, trên đường đi lên vùng Đông Á qua ngõ Biển Đông, gấp hơn sáu lần lượng dầu hỏa vận chuyển qua Kênh Suez và gấp 17 lượng dầu hỏa vận chuyển qua Kênh Panama. Khoảng hai phần ba nguồn cung cấp năng lượng của Hàn Quốc, gần 60% nguồn cung cấp năng lượng của Nhật Bản và Đài Loan, cũng như khoảng 80% lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc được vận chuyển qua Biển Đông. Hơn nữa, Biển Đông đã được xác nhận có trữ lượng dầu hỏa khoảng 7 tỷ thùng và được ước tính có khoảng 900 nghìn tỷ phít khối khí tự nhiên, một giải thưởng có tiềm năng khổng lồ.

Những yếu tố hứa hẹn mang lại tầm quan trọng địa chiến lược cho Biển Đông không phải chỉ là vị trí địa lý và nguồn dự trữ năng lượng mà còn bao gồm những cuộc tranh chấp lãnh thổ tàn nhẫn đã vây quanh vùng biển này từ lâu. Một số tranh chấp liên quan đến quần đảo Trường Sa, một quần đảo nhỏ nằm ở phía đông nam Biển Đông. Việt Nam, Đài Loan, và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ hay phần lớn Biển Đông, cũng như toàn bộ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đặc biệt là Bắc Kinh đã khẳng định một đường ranh lịch sử: Họ tuyên bố chủ quyền trên vùng trung tâm của Biển Đông nằm trong một vòng đai lớn (thường được gọi là đường "lưỡi bò") bắt đầu từ đảo Hải Nam của Trung Quốc ngay tại miền cực bắc của Biển Đông trải dài hơn 1.200 dặm về phương nam xuống tận gần Singapore và Malaysia.

Kết quả là tất cả chín quốc gia tiếp giáp với Biển Đông hầu như cùng dàn trận chống lại Trung Quốc, do đó đều phải dựa vào Hoa Kỳ để được hỗ trợ về ngoại giao và quân sự. Những đòi hỏi xung đột này chắc chắn sẽ trở nên gay gắt hơn khi nhu cầu năng lượng leo thang ở châu Á — tiêu thụ năng lượng được dự đoán sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030, và Trung Quốc sẽ chiếm một nửa mức tăng trưởng đó — khiến Biển Đông trở thành một nguồn bảo đảm trọng yếu hơn bao giờ hết cho sức mạnh kinh tế của toàn khu vực. Thực thế, Biển Đông đã ngày càng trở thành một đồn trại vũ trang, các bên tranh chấp đang tăng cường và hiện đại hoá lực lượng hải quân của mình, ngay cả khi việc tranh giành hải đảo và các rặng đá ngầm trong những thập kỷ gần đây hầu như đã chấm dứt. Cho đến hiện tại, Trung Quốc đã chiếm cứ 12 địa mạo, Đài Loan 1, Việt Nam 25, Philippines 8, và Malaysia 5.

Chính địa hình của Trung Quốc đã xoay nó về hướng Biển Đông. Nhìn về phương nam, Trung Quốc đối diện với một bồn nước được hình thành, theo chiều kim đồng hồ, bởi Đài Loan, Phi Luật Tân, đảo Borneo nằm giữa Malaysia và Indonesia (cũng như nước Brunei nhỏ bé), Bán Đảo Malay nằm giữa Malaysia và Thái Lan, và bờ biển dài ngoằn ngoèo như rắn của Việt Nam: so với Trung Quốc tất cả các quốc gia này đều là nước nhược tiểu. Giống như Biển Ca-ri-bê, được ngắt quãng bởi nhiều quốc đảo nhỏ và được bao quanh bởi một nước Hoa Kỳ có kích thước lớn như một lục địa, Biển Đông là một bệ đài hiển nhiên để Trung Quốc phát xạ quyền lực.

Thật vậy, trên nhiều phương diện, địa vị của Trung Quốc ở đây giống như địa vị của Hoa Kỳ đối với Biển Ca-ri-bê, cũng có kích thước tương tự, trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Hoa Kỳ công nhận sự hiện diện và đòi hỏi của các cường quốc châu Âu tại Ca-ri-bê, nhưng vẫn tìm cách thống trị khu vực này. Chính cuộc chiến tranh giữa Tây Ban Nha và Hoa Kỳ vào năm 1898 và việc đào Kênh Panama từ 1904 đến 1914 đã báo hiệu sự trỗi dậy của Hoa Kỳ trong địa vị một cường quốc thế giới. Hơn nữa, việc thống trị Hải Bồn Ca-ri-bê rộng lớn hơn đã mang lại cho Hoa Kỳ khả năng kiểm soát hiệu quả vùng Tây Bán Cầu và cho phép họ tạo ảnh hưởng đến cán cân quyền lực tại Đông Bán Cầu. Và ngày nay Trung Quốc cũng phát hiện ra mình ở trong một tình thế tương tự tại Biển Đông, một tiền sảnh của Ấn Độ Dương, nơi Trung Quốc mong muốn cũng có hải quân hiện diện để bảo vệ nguồn cung cấp năng lượng từ Trung Đông của mình.

Tuy nhiên còn có một nguyên nhân sâu xa hơn và cảm tính hơn yếu tố địa lý đang thối thúc Trung Quốc tiến về Biển Đông và vươn ra ngoài Thái Bình Dương: đó chính là sự phá hoại một phần đất nước Trung Quốc do các cường quốc phương Tây gây ra trong một quá khứ cách đây tương đối không xa, sau khi Trung Quốc đã chiếm giữ địa vị một cường quốc và một nền văn minh lớn của thế giới trong nhiều thiên niên kỷ.

Trở lại phần 2                Xem tiếp phần 4


Tác giả: Robert D. Kaplan
Dịch giả: Hồ Kim Sơn

Copyright © 2011 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Biển Đông: Tương Lai Của Xung Đột (2)

Đông Á là một vùng đất nước mở rộng mênh mông trải dài gần như từ Bắc Cực cho đến Nam Cực — từ quần đảo Kuril xuôi về phương nam cho đến New Zealand — được định hình bằng một mảnh lưới rời rạc bao gồm nhiều vòng đai bờ biển cô lập và những quần đảo xa xôi. Dẫu đã ghi nhận vấn đề kỹ thuật có thể thu hẹp khoảng cách một cách rất ấn tượng như thế nào, chính biển cả vẫn còn có tác động ngăn chận xâm lấn, chí ít là ở mức độ mà đất liền không có. Khác với đất liền, biển cả tạo nên những biên giới có hình thái rạch ròi, đem lại cho nó tiềm năng giảm thiểu xung đột. Rồi phải xét đến vấn đề tốc độ. Ngay cả những tàu chiến nhanh nhất so ra vẫn di chuyển tương đối chậm, ước chừng khoảng 35 hải lý một giờ, có thể giảm thiểu cơ hội tính toán sai lầm và ban bố cho các nhà ngoại giao thêm nhiều giờ — thậm chí thêm nhiều ngày — để tái xét những quyết định. Hải quân và không quân không dễ dàng thực hiện phương cách chiếm cứ lãnh thổ thường dùng của lục quân. Chính nhờ vào những vùng biển bao bọc quanh Đông Á — trung tâm sản xuất của thế giới và đồng thời cũng là khu vực đang gia tăng việc thu mua thiết bị quân sự — mà, so với thế kỷ 20, thế kỷ 21 có cơ hội tốt hơn để tránh né những cuộc đụng độ quân sự lớn. 

Hiển nhiên, Đông Á cũng đã chứng kiến nhiều cuộc đụng độ quân sự trong thể kỷ 20 mà biển cả chẳng thể ngăn cản được như: Chiến Tranh Nga-Nhật; cuộc nội chiến gần nửa thế kỷ ở Trung Quốc đã dẫn đến sự sụp đổ dần dần của triều đại nhà Thanh; những cuộc xâm chiếm khác nhau của đế quốc Nhật Bản, theo sau là Thế Chiến II ở Thái Bình Dương; Chiến Tranh Triều Tiên; những cuộc chiến ở Cam-bốt và Lào; và hai cuộc chiến ở Việt Nam liên quan đến người Pháp và Hoa Kỳ. Thực tế địa lý Đông Á chủ yếu là hải dương chẳng tạo được nhiều ảnh hưởng đối với những cuộc chiến mà bản chất là những xung đột để giải phóng hoặc thống nhất dân tộc này. Nhưng đối với chúng ta thời đại đó phần lớn đã trở thành quá khứ. Quân đội của các nước Đông Á, thay vì chỉ tập trung hướng nội với những đơn vị lục quân có kỹ thuật thấp, giờ đây đang tập trung hướng ngoại với các lực lượng hải quân và không quân có kỹ thuật cao.

Về việc nhiều người đang so sánh Trung Quốc ngày nay với Đức Quốc hôm trước Thế Chiến I, đó là một điều sai lầm: Trong khi, nhờ vào địa lý của châu Âu, Đức Quốc ngày xưa chủ yếu là một cường quốc lục địa, Trung Quốc ngày nay chủ yếu sẽ là một cường quốc hải dương nhờ vào địa lý của Đông Á.

Đông Á có thể chia thành hai khu vực chính: Đông Bắc Á, bị chi phối bởi Bán Đảo Triều Tiên, và Đông Nam Á, bị chi phối bởi Biển Đông. Khu vực Đông Bắc Á phụ thuộc vào vận mạng của Bắc Triều Tiên, một nhà nước bị cô lập, theo thể chế toàn trị có tương lai mờ mịt giữa một thế giới vận hành theo chủ nghĩa tư bản và truyền thông điện tử. Nếu Bắc Triều Tiên sụp đổ, các lực lượng lục quân của Nam Hàn, Trung Quốc, và Hoa Kỳ sẽ lập tức đổ bộ lên nửa phía bắc của bán đảo này trong một kế hoạch thuộc tầm mẹ đẻ của tất cả các cuộc can thiệp nhân đạo, dẫu rằng họ chỉ cốt phân cắt những vùng ảnh hưởng cho chính mình. Lúc ấy các vấn đề về hải quân có thể là thứ yếu. Nhưng nếu cuối cùng Triều Tiên thực sự thống nhất thì các vấn đề hải quân sẽ trở nên quan trọng, với một Đại Hàn, Trung Quốc và Nhật Bản nằm trong tình trạng thăng bằng mong manh, bị chia cách bởi biển Nhật Bản, Hoàng Hải và Bột Hải. Tuy nhiên, vì Bắc Triều Tiên vẫn còn tồn tại, giai đoạn Chiến Tranh Lạnh của lịch sử Đông Bắc Á chưa hoàn toàn chấm dứt, và quyền lực đất liền rất thể trở nên yếu tố thống trị mọi nguồn tin ở đó trước khi quyền lực biển thay thế.

Trái lại, khu vực Đông Nam Á đã nằm sâu trong giai đoạn hậu-Chiến-Tranh-Lạnh của lịch sử. Việt Nam, thống soái bờ phía tây của Biển Đông, là một guồng máy tư bản mạnh bạo bất chấp hệ thống chính trị của mình, đang tìm kiếm các mối quan hệ quân sự gần gũi hơn với Hoa Kỳ. Trung Quốc, được Mao Trạch Đông củng cố thành một nhà nước triều đại sau nhiều thập kỷ hỗn loạn, và đã trở nên một nền kinh tế năng động nhất thế giới nhờ vào các chính sách khai phóng của Đặng Tiểu Bình, nay đang hối hả đưa lực lượng hải quân của mình vươn ra khu vực được mệnh danh là "chuỗi đảo đầu tiên" ở Tây Thái Bình Dương. Anh khổng lồ Hồi giáo Indonesia, đã trải qua nhiều gian khổ nhưng cuối cùng đã chấm dứt được chế độ quân sự kéo dài hàng thập kỷ, sẵn sàng nổi lên như một Ấn Độ thứ hai: một nền dân chủ sống động và ổn định với tiềm năng phát xạ quyền lực bằng sức mạnh của nền kinh tế đang phát triển của mình. Singapore và Malaysia cũng đang tăng tiến mạnh về kinh tế, trong quyết tâm xây dựng mô hình nhà-nước-đô-thị-và-nhà-nước-mậu-dịch và thông qua các phương thức pha trộn khác nhau giữa dân chủ và toàn trị. Bức tranh kết hợp là hình ảnh của một cụm các quốc gia  — với các vấn đề liên quan đến tính chính thống nội bộ và việc kiến thiết quốc gia đã được giải quyết — đang sẵn sàng xúc tiến những quyền lợi lãnh thổ họ tự khẳng định nằm ngoài thềm lục địa của mình. Lực đẩy hướng ngoại tập thể này nằm giữa đấu trường dân số của thế giới, bởi vì khu vực Đông Nam Á, với dân số 615 triệu người, chính là nơi mà 1,3 tỷ người Trung Quốc hội tụ với 1,5 tỷ người của tiểu lục địa Ấn Độ. Và địa điểm gặp gỡ của các quốc gia này, cũng như quân đội của họ, thuộc về hải dương: Biển Đông.
 

Trở lại phần 1              Xem tiếp phần 3

Tác giả: Robert D. Kaplan
Dịch giả: Hồ Kim Sơn

Copyright © 2011 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

20 tháng 8, 2011

Tuyển Tài Xế Lái Xe "Nhà Nước"

Cần tay lái cứng, hiểu địa lý, thông luật


Đây không phải là chuyện tuyển mộ người lái xe cho một công ty hay một gia đình. Đây là chuyện quốc gia đại sự.

Đây là chuyện đất nước Việt Nam giữa cơn nguy biến, giặc ngoại xâm động binh trên bộ và trên biển, giặc nội xâm vơ vét của cải quốc gia trên lưng gày còm của thứ dân, còn đàn áp, đạp giày lên mặt người yêu nước. Tổ quốc lâm nguy.

Hơn bao giờ hết, nước Việt Nam như một con tàu biển lớn, cần đến một tay bẻ lái vững vàng, am hiểu sóng cả đại dương, am tường luật hàng hải quốc tế, biết rõ từng mảng đá ngầm, dẫn dắt con tàu quốc gia đến bến thịnh vượng, an toàn cho mọi người dân với tốc độ cao. Lãnh đạo là thế. Là cầm lái cho vững, luôn tỉnh táo, thông thạo bản đồ và địa hình, hiểu rõ luật lệ giao thông, biết rẽ phải hay rẽ trái khi cần, có khi quay hẳn lại phía sau để tìm ra con đường tối ưu đi nhanh đến đích.

Người lãnh đạo trước hết cần nhuần nhuyễn môn địa - chính trị. Nước ta đang ở đâu, ở vị trí nào về kinh tế, tài chính, quân sự, giáo dục, văn hóa, mức sống của thế giới? Thuộc chế độ chính trị loại nào? Có thể có sự lựa chọn nào khác, tốt hơn không? Vị trí địa lý sát một nước lớn mang bản chất bành trướng có phải là định mệnh hay không? Liên minh với những nước nào hiện nay là tốt nhất cho toàn dân tộc? Có nên thay đổi liên minh hay không? Đường lối đối nội và đối ngoại của nước ta hiện tại có thật là đúng đắn, là tuyệt hảo, là phù hợp với lợi ích của dân tộc, của toàn dân hay không? Tư duy đổi mới là thế.

Có phải trong thời kỳ gọi là «đổi mới», đã có khá nhiều đổi mới, nhưng đồng thời cũng lại có quá nhiều giáo điều cũ kỹ không chịu từ bỏ, trong khi gần như toàn thế giới đã từ bỏ dứt khoát, như chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa xã hội kiểu Mác-xít, chế độ độc đảng, chế độ quốc doanh là chủ đạo của nền kinh tế. Tất cả đều đã vào bảo tàng hay cho ra bãi phế thải.

Tại sao một chế độ tự nhận là «dân chủ nhân dân» lại không dám tổ chức trưng cầu dân ý rộng rãi, về :
- có nên từ bỏ hay giữ chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng lý luận?
- có nên từ bỏ chủ nghĩa xã hội theo mô hình Mác- xít? 
- có nên giữ hay từ bỏ chế độ một đảng duy nhất như hiện nay?
- có nên tiếp tục coi sở hữu quốc doanh là chủ đạo trong nền kinh tế?
Và trong nội bộ đảng, tại sao không trưng cầu ý kiến toàn đảng xem có nên thay đổi tên của Đảng Cộng sản Việt Nam để lấy một tên khác hay không? Hiện nay không ai biết cái chủ nghĩa cộng sản sẽ mang nội dung gì, đến bao giờ thành hiện thực. Không có một đảng viên nào hình dung rõ nó ra sao, nó còn rất mơ hồ, xa xăm.

Đảng CS Anh, đảng CS Ý đã tự giải thể, đảng CS Nhật Bản đã từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và nguyên lý dân chủ tập trung, ngay đảng CS Trung Quốc cũng không nói đến chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ nói mang màu sắc Trung Quốc nghĩa là bỏ hẳn tính chất quốc tế của chủ nghĩa Mác, chỉ nói bản chất dân tộc. Hàng ngũ liên kết CS quốc tế đã rã rời, tan vỡ từ lâu.

Do bế tắc trên đây, đất Việt Nam có quá nhiều đồ cũ kỹ, cổ hủ, sáo mòn, rất có hại, có thể dùng chữ hủ lậu, trái thời đại. Đang có vô vàn trí thức mang dòng máu Việt Nam, mang trí tuệ thời đại dơ biển «Stop » trước cỗ xe dân tộc đang ỳ ạch lăn bánh. Và cần có một tay lái cứng cỏi, am hiểu bản đồ đường sá và luật lệ quốc tế để rẽ ngoặt đúng hướng cần thiết và rú ga, đưa cỗ xe Việt Nam đi vào đại lộ văn minh của thế kỷ XXI này.

Nhật Bản từng có tay lái như thế từ thời Minh Trị, để rẽ ngoặt, đi học những cái hay, cái tốt ở tận phương Tây xa xăm, làm bàn đạp cho sự canh tân.

Rồi vẫn Nhật Bản bị bom nguyên tử Mỹ tàn phá, tự rũ bỏ tệ phát xít, lái ngoặt lại liên minh bền chặt với Hoa Kỳ, tạo thế thịnh vượng sau bại trận, tưởng không sao ngóc dậy nổi. Pháp và Đức từng là kẻ thù truyền kiếp trong bao cuộc chiến tranh, từ hơn nửa thế kỷ nay đã quyết đoán bẻ tay lái quay lại kết thành liên minh nòng cốt cho cả châu Âu mới.

Xin hãy nhìn đảo Đài Loan nhỏ xíu, cùng dân tộc Trung Quốc, đâu có ngán, sợ sệt gì anh lục địa khổng lồ. Vẫn ta đây, riêng một chế độ dân chủ ưu việt, tự hào có tự do, có phồn vinh cho toàn dân gấp 10 lần lục địa, tuy số dân chỉ bằng 1 phần 50, diện tích chỉ bằng 1 phần 250 lục địa. Bắc Kinh đã bao giờ dám nghĩ đến nuốt chửng Đài Loan bằng vũ lực, đã bao giờ định cho mình mốc thời gian giải phóng Đài Loan, thống nhất Trung Hoa? Không dám vì làm không nổi. Vì tuy khổng lồ mà đuối sức. Lục địa không dám cho tàu chiến vào hải phận Đài Loan, không dám cho máy bay vào không phận Đài Loan, vì Đài Loan ngang nhiên liên minh quân sự chặt chẽ với Hoa Kỳ. Các học giả Đài Loan từng viết những bài bình luận sâu sắc nhất diễu cợt, trêu chọc các tướng lục địa huênh hoang chưa phải lúc. Họ còn tự tin là chính Đài Loan đang làm gương sáng để dân chủ hóa toàn lục địa. Họ luôn tỏ lòng thương xót đồng bào lục địa vẫn còn ở vị trí hèn kém dưới 100 nước về thu nhập tính theo đầu người. Nhóm lãnh đạo toàn trị ở Hà Nội nên nghiên cứu kỹ, học tài bẻ lái, tìm mối liên minh vững chãi của người Trung Quốc trên đảo nhỏ Đài Loan, thoát khỏi cạm bẫy Bắc thuộc đã quá lâu.

Hãy quan sát cho kỹ, Nhật Bản, Cộng hòa Mông Cổ, Ấn Độ, Pakistan… đều là láng giềng gần của Trung Quốc rộng lớn, họ đâu có coi đó là định mệnh để quỳ gối, cúi đầu.

Xã hội công dân nước ta đang trưởng thành, từng bước lừng lững tiến bước. Đây là nét đẹp nhất, hứng khởi nhất trong lịch sử dân tộc. Cuộc xuống đường thứ X ghi được những mức độ mới về số lượng và khí thế người tham gia. Bức tối hậu thư ẩn danh hèn hạ của ngành an ninh gửi cho một trong những trí thức nhen nhóm các cuộc tập trung chỉ làm trò cười cho thiên hạ và kích thích thêm nhân dân đông đảo. Một loạt khẩu hiệu mới xuất hiện:
-Chung tay bảo vệ Tổ quốc, quyết không phụ máu, nước mắt, mồ hôi của tiền nhân!
-Sơn hà nguy biến, xin đừng vô cảm! - Tổ quốc là của chung, không của riêng nhóm nào!
-Nhân dân có quyền được biết, được bàn việc nước! - Bảo vệ trí thức yêu nước!
-Phản đối Trung Quốc đưa dàn khoan vào biển Đông VN! -Giặc đến nhà đàn bà phải đánh!
-Không sợ đe dọa của kẻ ác, chỉ sợ sự thờ ơ vô cảm của người lương thiện.
-Phải trục xuất ngay lao động Trung Quốc vào Việt Nam bất hợp pháp!
Đó là khẩu hiệu của công dân yêu nước, không cần đến sự xét duyệt của ngành tuyên huấn.

Rồi đây trong các cuộc xuống đường định kỳ, tất sẽ có những khẩu hiệu ngày càng cao hơn, như yêu cầu từ bỏ học thuyết Mác - Lênin, từ bỏ chủ nghĩa xã hội kiểu Mác-xít, từ bỏ chế độ độc đảng, yêu cầu mở trưng cầu dân ý, yêu cầu lựa chọn, lập liên minh với thế giới dân chủ.

Các tàu chiến Hoa Kỳ Ronald Reagan, John McCain, nay là hàng không mẫu hạm George Washington thăm hữu nghị Việt Nam, rồi nghị sỹ Jim Webb đến Hà Nội tỏ rõ ý muốn thắt chặt hơn quan hệ Mỹ - Việt là những thông điệp mở, đúng lúc, cho mối liên minh mới.

Hoa Kỳ và các nước dân chủ đều không còn coi Trung Quốc là đối tác bình đẳng có trách nhiệm, mà là một đối tượng vô trách nhiệm, nguy hiểm, cần giám sát và ngăn chặn.

Không có thể áp đặt mãi những quan niệm hủ lậu, liên minh tệ hại cho đất nước và toàn dân.

Và rồi sẽ sớm đến lúc đông đảo dân ta cùng lên tiếng yêu cầu lãnh đạo đất nước, cá nhân cũng như tập thế, phải là những tay lái tài giỏi am hiểu bản đồ địa – chính trị của thế giới và khu vực, am tường luật pháp quốc gia và quốc tế, vững tay lái cỗ xe của đất nước trên xa lộ văn minh của thời đại, đạt tốc độ cao, đến đích phồn vinh, hạnh phúc cho toàn dân.

Bùi Tín
VOA Tiếng Việt
[ Đọc Tiếp ]

19 tháng 8, 2011

Biển Đông: Tương Lai Của Xung Đột (1)


Châu Âu là một địa cảnh; Đông Á là một hải cảnh. Ở đó ngọa tàng một mối khác biệt quan trọng giữa thế kỷ 20 và 21. Những khu vực tranh chấp gay gắt nhất của địa cầu trong thế kỷ vừa qua nằm trên lục địa khô ráo của châu Âu, đặc biệt là giữa bình nguyên mênh mông đã khiến cho biên giới đông tây của nước Đức trở thành giả tạo và phơi bày lồ lộ dưới bước chân tàn khốc của nhiều đoàn quân chinh chiến. Nhưng qua khoảnh thời gian mấy mươi năm, trục kinh tế và nhân khẩu của Trái Đất đã chuyển dịch một cách đáng kể sang phía bên kia của đại lục Âu-Á, nơi mà khoảng cách không gian giữa các trung tâm nhân khẩu chính phần lớn là những hải vực bao la.  

Biển cả sẽ là chiến trường định tính của thế kỷ 21.

Vì tình hình do địa lý soi sáng và sắp đặt thứ tự ưu tiên, những kết cấu tự nhiên này dự báo một thế kỷ hải quân — ở đây khái niệm hải quân được dùng theo nghĩa rộng để bao gồm mọi cách thức dàn binh và bố trận cả trên không lẫn dưới biển, vì giờ đây hai lãnh vực này đã càng ngày càng trở nên khó tách rời. Tại sao? Trung Quốc — đặc biệt là giờ đây biên giới lục địa của họ đã an toàn hơn bất cứ lúc nào trong quá khứ, kể từ thời kỳ hưng thịnh nhất của nhà Thanh vào cuối thế kỷ thứ 18 — đang tiến hành một công cuộc bành trướng hải quân không thể chối cãi được. Chính bằng vào quyền lực hải dương mà Trung Quốc sẽ cương quyết xóa bỏ tâm trạng bị ngoại quốc xâm lăng trong suốt hai thế kỷ ngay trên lãnh thổ của mình — và điều này buộc tất cả các nước chung quanh phải phản ứng.

Đụng độ quân sự trên đất liền và dưới biển khác xa nhau vời vợi, bao hàm nhiều ảnh hưởng lớn lao đối với những đại chiến lược cần thiết để giành thắng lợi hoặc tránh né chúng. Các trận lục chiến vướng víu nhiều nhân số dân sự, trên thực tế đã thúc đẩy vấn đề nhân quyền thành yếu tố nổi bật trong các công trình nghiên cứu chiến tranh. Các trận hải chiến xử lý xung đột theo chiều hướng giải quyết một sự vụ kỹ trị và phi cảm tính, trên thực tế đã rút gọn chiến tranh vào phạm trù toán học, tương phản rõ rệt với các cuộc đấu trí nhằm hỗ trợ cho việc giải thích những xung đột trong quá khứ.

Thế Chiến II là một cuộc đấu tranh đạo đức chống chủ nghĩa phát-xít, một ý thức hệ phải chịu trách nhiệm về tội sát hại hàng chục triệu thường dân vô can. Chiến Tranh Lạnh là một cuộc đấu tranh đạo đức chống chủ nghĩa cộng sản, một ý thức hệ cũng bạo ngược không kém mà Hồng Quân đã dùng danh nghĩa của nó để chiếm cứ và cai trị nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn. Giai đoạn ngay sau thời hậu-Chiến-Tranh-Lạnh đã trở thành một cuộc đấu tranh đạo đức chống nạn diệt chủng tại vùng Balkan và Trung Phi, hai nơi mà chiến tranh lục địa và tội ác chống lại nhân loại không thể tách rời. Gần đây hơn, một cuộc đấu tranh đạo đức chống chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan đã kéo Hoa Kỳ vào sâu trong vùng biên giới núi non của Afghanistan, nơi mà việc cư xử nhân đạo đối với hàng triệu thường dân là yếu tố quyết định sự thành công của cuộc chiến. Trong tất cả mọi nỗ lực này, chiến tranh và chính sách đối ngoại không phải chỉ trở thành chủ đề riêng cho quân nhân và viên chức ngoại giao mà còn là mối quan tâm cho cả giới hoạt động nhân đạo và trí thức. Thực vậy, chính sách chống phản loạn tiêu biểu cho cái gọi là cao trào kết hợp giữa sĩ quan khoác quân phục và chuyên gia bảo vệ nhân quyền. Đây là kết quả của việc chuyển hóa từ chiến tranh trận địa sang chiến tranh toàn diện của thời hiện đại.

Đông Á, hay chính xác hơn là Tây Thái Bình Dương, khu vực đang nhanh chóng trở thành một trung tâm hội tụ hoạt động hải quân mới của thế giới, dự báo một động lực khác biệt cơ bản. Có lẽ nó sẽ tạo ra một số tương đối ít tình trạng tiến thối lưỡng nan về mặt đạo đức thuộc chủng loại mà chúng ta đã quen thuộc trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, với ngoại lệ nổi bật là khả năng xảy ra rất hiếm hoi của chiến tranh trận địa tại Bán Đảo Triều Tiên. Tây Thái Bình Dương sẽ đưa những sự vụ quân sự trở về với địa hạt hạn hẹp của các chuyên gia quốc phòng. Điều này không phải chỉ vì chúng ta đang đối phó với một thế giới hải quân, trong đó không có sự hiện diện của thường dân. Nguyên do còn bắt nguồn từ bản chất của chính các nhà nước tại Đông Á — giống Trung Quốc, tuy kiên quyết độc tài nhưng hầu hết không bạo ngược hay phi nhân quá độ.

Cuộc đấu tranh để giành địa vị ưu việt tại Tây Thái Bình Dương không nhất thiết phải bao gồm chiến tranh; phần lớn mọi diễn biến sẽ âm thầm xảy ra trên không gian trống vắng của biển cả ở ngoài chân trời xa xăm, với nhịp độ chuyển động tợ băng xuyên phù hợp với quá trình điều tiết chậm rãi và đều đặn để đạt đến mức quyền lực kinh tế và quân sự siêu việt mà nhiều quốc gia đã từng thực hiện trong suốt hành trình lịch sử. Chiến tranh chẳng phải là chuyện không thể tránh khỏi cho dù cạnh tranh là điều hiển nhiên. Và nếu Trung Quốc và Hoa Kỳ xử lý thành công cuộc chuyển giao sắp đến, thì châu Á, và cả thế giới, sẽ là một nơi an toàn và thịnh vượng hơn. Có gì có thể đạo đức hơn điều đó? Xin hãy nhớ rằng: Chính chủ nghĩa hiện thực trong nỗ lực phục vụ lợi ích quốc gia — mà mục đích là ngăn ngừa chiến tranh — là yếu tố đã cứu sống nhiều sinh mạng trong tiến trình của lịch sử hơn chủ nghĩa can thiệp nhân đạo gấp bội phần.

Xem tiếp phần 2

Tác giả: Robert D. Kaplan
Dịch giả: Hồ Kim Sơn

Copyright © 2011 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

17 tháng 8, 2011

Giải Mã Hàng Không Mẫu Hạm Trung Quốc (3)

Nhưng cho dù Trung Quốc có thể thực hiện tất cả những điều đó, Robert Rubel của Học Viện Chiến Tranh Hải Quân Hoa Kỳ nhận định rằng tuy chiếc hàng không mẫu hạm này còn lâu mới lỗi thời, "đối với tàu nổi, biển cả ngày nay, chí ít là một số hải vực nào đó, đang trở thành một vùng đất độn nguy hiểm [nằm giữa các lực lượng thù địch]" — và nên nhớ rằng hàng không mẫu hạm của Trung Quốc đang tiến vào môi trường khắc nghiệt này từ một cơ sở thấp kém nhất có thể có. Bởi thế, khó tưởng tượng được rằng QGPTQ có ý định đưa hàng không mẫu hạm của mình xông vào trận để trở thành chẳng gì khác hơn là những mục tiêu mềm yếu cho máy bay, tên lửa, và tàu ngầm của địch thanh toán. "Chúng ta đừng nên giả định rằng Trung Quốc sẽ sử dụng hàng không mẫu hạm của họ theo những chiều hướng mà chúng ta ước muốn," ông Cheng nói. Cũng có thể là Trung Quốc sẽ sử dụng hàng không mẫu hạm của họ để tham gia vào các chiến dịch quốc tế cần có sự hỗ trợ của không quân, nhưng Bắc Kinh dường như chưa có quyết tâm chính trị để dính líu vào loại sứ mệnh này. Về việc đối chọi với các quốc gia đồng cấp hay gần đồng cấp, có lẽ Trung Quốc đang tính toán rằng cơ hội bị lôi kéo vào loại chiến tranh này có xác suất thấp và bởi vậy nhược điểm hàng không mẫu hạm của họ rất dễ bị công kích sẽ không bao giờ được bộc lộ.

Hàng không mẫu hạm của Trung Quốc biến đổi thế cân bằng tại Eo Biển Đài Loan?

Ứng biến với tình hình Đài Loan là yếu tố hướng dẫn đại bộ phận chương trình hiện đại hóa của QGPTQ, và Trung Quốc đã bố trí hơn 1.300 mũi tên lửa để sẵn sàng công kích hòn đảo này. Bởi thế khó thấy được một hàng không mẫu hạm của Trung Quốc làm sao có thể thay đổi bàn toán này. Thực ra hàng không mẫu hạm là dấu hiệu biểu thị tư duy hậu-Đài-Loan rõ ràng nhất mà QGPTQ đã triển hiện từ trước cho đến bây giờ. Tuy thế nhưng Đài Loan vẫn phản ứng mạnh mẽ trước sự hạ thủy của Thi Lang bằng cách cổ súy phi đạn chống hạm mang tên Hùng Phong III mới ra đời của mình, được minh họa đầy đủ bằng một bức tranh miêu tả vũ khí này đang thanh toán một hàng không mẫu hạm của Trung Quốc. Tuy nhiên đây chỉ là một thao diễn PR [quan hệ công chúng] — Đài Bắc hiểu rằng những mũi tên lửa của QGPTQ, chứ không phải mẫu hạm vừa hạ thủy này, mới là mối đe dọa thực sự. Điều mang ý vị châm biếm là trong khi Thi Lang nguyên thủy là một vị tướng của nhà Thanh mang quân đến chiếm đoạt Đài Loan, Thi Lang hiện thời có rất ít triển vọng nối gót chân ông một cách đầy đủ ý nghĩa, cho dù một ngày nào đó Trung Quốc thu hồi được hòn đảo này.

Đối với Biển Đông có ảnh hưởng gì?

Sở hữu hàng không mẫu hạm đả phá lý luận mà Trung Quốc thường nêu ra là chiến lược quốc phòng của họ thuần túy mang tính chất tự vệ. Trong chức năng một giàn phóng sức mạnh, hàng không mẫu hạm không có ứng dụng phòng ngự, và thực tế này chưa hề mất tác động đối với các nước láng giềng của Trung Quốc. Việt Nam, chẳng hạn, đang đầu tư vào 6 tàu ngầm thuộc lớp Kilo do Nga chế tạo để đối phó trực tiếp với kế hoạch hiện đại hóa của QGPTQ (mặc dù không cụ thể nhắm vào hàng không mẫu hạm của họ) — chủ yếu là vì Việt Nam hoài nghi những tuyên bố về ý đồ lương thiện của Trung Quốc. "Những chiếc tàu ngầm Kilo cọng thêm phi đội chiến đấu cơ Sukhoi, và hệ thống tên lửa [chống hạm] Bastion đặt trên đất liền của Việt Nam tất cả sẽ là một vấn nạn lớn đối với hạm đội của Trung Quốc," giáo sư Carlyle Thayer của Học Viện Quốc Phòng Úc giải thích. Bởi vậy chúng ta lại quay trở về với vấn đề cũ rích của QGPTQ: truyền đạt thông tin. Trung Quốc chưa hề nói rõ mục đích sử dụng hàng không mẫu hạm của mình, và cho đến khi Trung Quốc thực hiện điều đó, các nước láng giềng — đã tỏ ra mẫn cảm trước những hành vi mà họ cho là mang tính xâm lược trong những vùng tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông — sẽ tiếp tục băn khoăn không biết có phải sức mạnh của Trung Quốc sắp được phóng về phía họ. "Đối với một số các cường quốc nhỏ hơn ở ven rìa Trung Quốc, quan trọng hơn là đối với Đài Loan hay Hoa Kỳ, chuyện này có thể biến đổi bản chất sự tình và buộc họ phải phản ứng," giáo sư William Murray của Học Viện Chiến Tranh Hải Quân Hoa Kỳ nhận định. "Thuyết phục họ là một vấn đề khó khăn đối với Trung Quốc." . . . .

o0o

Trở lại phần 2

Tác giả: Trefor Moss
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: The Diplomat

Copyright © 2011 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Giải Mã Hàng Không Mẫu Hạm Trung Quốc (2)

Trong tương lai Trung Quốc sẽ phát triển đội hàng không mẫu hạm của họ như thế nào?

Đây là điều chưa biết được. Có lời đồn cho rằng Trung Quốc đang xây dựng thêm hai hàng không mẫu hạm thổ sản mới tại Xưởng Đóng Tàu Giang Nam ở Thượng Hải và nhắm vào mục tiêu hạ thủy trong năm 2015, mặc dù nguồn tin này chưa được xác nhận. Điều này giả định rằng các nhà đóng tàu Trung Quốc có thể vượt qua những thử thách gian nan trong việc xây dựng loại tàu đặc biệt phức tạp này (họ phải mất đến 5 năm chỉ để tân trang Varyag). Thiết kế của những hàng không mẫu hạm mới này sẽ thố lộ nhiều điều về khả năng và đặc biệt là kích thước của chúng, chạy bằng năng lượng thông thường hay năng lượng hạt nhân, sân bay có dốc trượt (như Varyag) hay được trang bị bằng giàn phóng để dung nạp những loại máy bay lớn hơn có khả năng thực hiện các phi vụ trinh sát cũng như chỉ huy và kiểm soát (cho đến hiện tại kỹ sư Trung Quốc chẳng có kinh nghiệm gì trong phần lớn những lãnh vực kỹ thuật này).

Ông Cheng nhận định rằng phát triển chiến lược [hay gọi rườm rà hơn là học thuyết chến đấu] cho những mẫu hạm này sẽ là một thử thách ít gian nan hơn. "Quá trình tân trang Thi Lang đã kéo dài ít nhất là 5 năm, bởi thế họ đã tư khảo vấn đề chiến lược từ lâu rồi." Có người cho rằng sau khi đóng xong hai mẫu hạm thổ sản này thì họ sẽ tạm ngừng vì trong lịch sử của mình Trung Quốc chưa hề đóng hàng loạt nhiều tàu hải quân lớn (ngoại trừ các tuần dương hạm và công kích hạm loại nhỏ). Tuy nhiên, Stacy Pedrozo của Hội Đồng Quan Hệ Ngoại Giao thì lại cho rằng Trung Quốc có ý định dùng hàng không mẫu hạm để hỗ trợ cho việc "chấm dứt sự thống trị của Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương" trong khung thời gian từ 2020 đến 2040, và để thực hiện điều này có lẽ Trung Quốc phải cần đóng thêm một số mẫu hạm nữa, làm theo nguyên tắc cần có 3 mẫu hạm để duy trì một mẫu hạm hoạt động thường trực trên biển. Trong một báo cáo của Quốc Hội [Mỹ], nhà phân tích sự vụ hải quân Ronald O'Rourke đề xuất rằng Trung Quốc có thể đóng nhiều đến tổng số 6 mẫu hạm.

Một đội hàng không mẫu hạm của Trung Quốc sẽ có những ứng dụng gì trong thời bình?

Trung Quốc sẽ dùng hàng không mẫu hạm để làm sứ giả truyền tải tín hiệu ngoại giao, cả thân thiện lẫn thù hằn. Chúng sẽ được dùng cho những chuyến cập bến có tầm ảnh hưởng lớn và các sứ mạng nhân đạo/cứu trợ thảm họa. Chúng sẽ được giao trọng trách biểu đạt lòng bất mãn của Bắc Kinh. "Một chiến dịch sẽ xảy ra sớm là việc điều hành những cuộc thao diễn không quân ngoài biên giới 12 hải lý tại bờ biển phía tây của Hoa Kỳ để trả đũa các cuộc thao diễn của Hoa Kỳ ngoài vùng duyên hải của Trung Quốc," ông Cheng tiên đoán. Chúng cũng có thể được bố trí để củng cố sự hiện diện của Trung Quốc trong vùng tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông, đặc biệt là trong khi tầm bay của không quân Trung Quốc bị hạn chế vì thiếu khả năng tiếp nhiên liệu trên không. Tuy nhiên, Bắc Kinh phải cân nhắc sự lựa chọn này trước ảnh hưởng khích động — và có khả năng leo thang — mà sự hiện diện của một hàng không mẫu hạm có thể gây ra trong những lúc tình hình căng thẳng.

Và có những ứng dụng gì trong thời chiến?

"Chiếc hàng không mẫu hạm này sẽ là một con vịt ngồi ao [dễ bị tấn công và tiêu diệt] nếu xung đột xảy ra," một nhà phân tích sự vụ hải quân nhận định, yêu cầu dấu tên. "Giá trị uy tín của mẫu hạm là chức năng trịnh trọng của nó." Cho nên rất có khả năng là Trung Quốc chẳng hề dự định dùng hàng không mẫu hạm để làm giàn tác chiến, bởi vì mạo hiểm để mất một mẫu hạm sẽ là một đòn nặng giáng vào lòng tự hào dân tộc, cũng giống như việc hạ thủy mẫu hạm đó là niềm khích lệ lớn lao cho uy tín quốc gia. Lòng nước sâu của Biển Đông, rất lý tưởng cho tàu ngầm, là một môi trường hoạt động khắt khe đối với hàng không mẫu hạm của Trung Quốc trong thời chiến, trừ phi Trung Quốc có thể nâng cao năng lực tác chiến chống tàu ngầm lên mức đáng kể, tinh thông các chiến dịch tổng hợp hải quân và không quân cực kỳ phức tạp, và phát triển một loạt các hệ thống phòng vệ khác cũng như các hoạt động hộ tống (xét theo ngân sách nghiên cứu và phát triển đồ sộ của Trung Quốc, cơ hội thành công của họ trong việc thực hiện những điều này rất thiết thực).

Trở lại phần 1            Xem tiếp phần 3

Tác giả: Trefor Moss
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: The Diplomat

Copyright © 2011 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

16 tháng 8, 2011

Giải Mã Hàng Không Mẫu Hạm Trung Quốc (1)


Khi nào một hàng không mẫu hạm chẳng phải là một hàng không mẫu hạm? Câu trả lời khả dĩ là: Khi nó do Trung Quốc làm chủ.

Chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên trong lịch sử của Hải Quân Trung Quốc (vừa bắt đầu các cuộc thử nghiệm trên biển cách đây mấy hôm và đã khuấy động không ít đồn đoán trong giới truyền thông khi nó đang trên đường ra khơi) cần phải được tìm hiểu trên hai bình diện khác nhau là: tượng trưng và mục đích.

Trên bình diện tượng trưng, việc hạ thủy chiếc mẫu hạm này là một chương tiết khác trong bản trần thuật về thành tựu kiến tạo địa vị cường quốc của Trung Quốc. Nó đứng cùng nhóm với đập Tam Hiệp, cầu bắc qua vịnh Thanh Đảo, và xe lửa cao tốc: những công trình đồ sộ minh họa bản lãnh kỹ thuật và khả năng vô hạn của Trung Quốc nhằm hoàn thành bất cứ những gì mà họ quyết tâm thực hiện (dẫu rằng chẳng được bao lâu thì đập nước rạn nứt và tàu lửa sụp đổ).

Ý nghĩa tượng trưng về mặt quân sự của mẫu hạm này cũng mãnh liệt phi thường. Trên thực tế, những chương trình hiện đại hóa thành công nhất của Quân Giải Phóng Trung Quốc (QGPTQ) không phải là các bình đài quy ước như chiến hạm mà là các loại vũ khí bất đối xứng — những hệ thống tập trung vào việc hủy diệt sức mạnh của kẻ thù chứ không phải là để chống chọi bằng giải pháp đồng đẳng. Hỏa tiển đạn đạo chống chiến hạm, các hệ thống chống vệ tinh, và chiến tranh mạng Internet ... tất cả đều nằm gọn trong loại này. Nhưng danh sách này chắc chắn không thể bao gồm hàng không mẫu hạm. Tuy nhiên, quần chúng — không kể đến giới truyền thông chủ lưu và có lẽ là chính giới nữa (bao gồm cả chính giới Trung Quốc) — chẳng hề biết vũ khí bất đối xứng là gì vì đây là một khái niệm bí truyền không dễ gây ấn tượng. Ngược lại, cũng giống như chiếc chiến đấu cơ hào nhoáng mà Trung Quốc cho ra mắt vào hồi tháng giêng, hàng không mẫu hạm là một bộ phận rất phổ biến của nguồn từ vựng quyền lực cứng. Người ta hiểu rằng một quốc gia có hàng không mẫu hạm là thành viên của một câu lạc bộ cao cấp và hùng mạnh — và đó chính là thông điệp mà chính phủ Trung Quốc muốn truyền đạt đến khán thính giả nội địa cũng như ngoại quốc khi họ cho hạ thủy chiếc hàng không mẫu hạm này. Đây là một ẩn dụ dễ lý giải tượng trưng cho sự tới nơi của Trung Quốc và cũng là điều khiến cho phe dân tộc chủ nghĩa được mát lòng. 

Con tàu này cũng còn có ý nghĩa tượng trưng lớn lao về mặt kinh tế. Ngay giữa lúc Trung Quốc đang khởi động chiếc mẫu hạm đầu tiên này, chính phủ Obama lại tuyên bố rằng họ sẽ cắt xén kích thước của đội mẫu hạm Hoa Kỳ để tiết kiệm tiền. Đây chính là thời khắc tuyệt vời để Tân Hoa Xã lên tiếng chỉ trích Hoa Kỳ chỉ quen thói chi tiêu nhiều ngân khoản quốc phòng liều lĩnh để "can thiệp" khắp nơi trên thế giới nhưng "chẳng màng đoái hoài đến vấn đề liệu nền kinh tế của họ có khả năng hỗ trợ việc này hay không." Thông điệp được đưa ra ở đây là bây giờ chỉ riêng Trung Quốc, đang ngồi chễm chệ trên kho dự trữ ngoại hối khoảng 2 ngàn tỉ Mỹ kim, mới có uy quyền tài chính để xây dựng những xa xỉ phẩm quân sự như thế này.

Tuy nhiên mục đích thực tiễn của chương trình hàng không mẫu hạm mà Trung Quốc đang tiến hành là một vấn đề có tầm diễn giải rộng hơn. Phải chăng đây chỉ là một biểu tượng, và chẳng có gì hơn thế cả? Hay là con tàu cũ của thời Sô-viết nay đã được tân trang lại này cũng là một đầu nêm để cuối cùng dẫn đến nguồn năng lực phát triển mẫu hạm chân chính của Trung Quốc? Với nhiều nước trong vùng Á Thái đang theo dõi tình hình ở những mức độ quan ngại khác nhau, có nhiều vấn đề quan trọng đáng cần được thảo luận:


Hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc thực sự có khả năng làm được những gì?

Lời tuyên bố của chính Trung Quốc rằng con tàu này đã "lỗi thời" và chỉ dùng cho "các mục đích huấn luyện" có lẽ là một đánh giá khá chính xác. Hai nhà phân tích sự vụ hải quân Andrew Erickson và Gabriel Collins đã miêu tả con tàu trước kia mang tên là Varyag này — và được báo cáo rộng rãi hiện đã được đặt tên lại là Thi Lang — là một "mẫu hạm khơi mào" và việc sử dụng nó để làm vũ khí chiến tranh là một điều khó tưởng tượng. Đây là một con tàu "có gắn bánh xe để tập lái" dành riêng cho một lực lượng hải quân trước đây chưa hề vận hành hàng không mẫu hạm. Cột mốc chủ yếu đầu tiên, sau khi xác nhận chính nó có khả năng hoạt động, là trang bị cho mẫu hạm này một sân bay để phục vụ cho 15 chiếc chiến đấu cơ hải quân J-15 đang nằm trong giai đoạn phát triển và năng lực của chính bản thân chúng vẫn còn chưa được chứng thực. Dean Cheng, một nhà nghiên cứu của tổ chức Heritage Foundation, dự tính rằng Trung Quốc có thể đạt được mục tiêu này trong khung thời gian từ 6 đến 18 tháng. Ông cho biết rằng huấn luyện phi công để cất cánh từ sân bay của hàng không mẫu hạm là một diễn tập đòi hỏi nhiều thời gian và tổn thất. "Quá trình này sẽ không tránh khỏi thất bại, họ sẽ mất phi công," ông Cheng cảnh báo. "Họ sẽ xử lý điều đó như thế nào và hậu quả chính trị sẽ ra sao?"

Xem tiếp phần 2



Tác giả: Trefor Moss
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: The Diplomat

Copyright © 2011 Nam Hải Trường Sơn

[ Đọc Tiếp ]

14 tháng 8, 2011

Biểu Tình Chống Trung Cộng #10

Như thường lệ, đồng bào Hà Nội lại xuống đường lần thứ 10 vào ngày Chúa nhật 14.8.2011. Theo thống kê phi chính thức và phi khoa học của tôi thì đội ngũ biểu tình tuần này hình như đông hơn tuần trước. Đặc biệt là có sự tham gia của nhiều nhân vật VYP — giới  lãnh tụ của Việt Nam hậu bán thế kỷ 21 — Very Young Persons (hay gọi nôm na hơn là những nhà biểu tình ... nhí). Nội dung biểu ngữ rõ ràng là da dạng hơn và nhắm ngay vào các vấn đề nóng đang diễn ra tại Việt Nam như tình trạng lan tràn của nguồn lao động phi pháp đến từ Trung Quốc và việc nước này đang tiến hành thăm dò dầu khí ngoài khơi Hoàng Sa.

Chiến thuật gậy ông ... chống lưng dân biểu tình cũng được tăng cấp. Ngoài việc tiếp tục in thành áp-phích lời trung tướng giám đốc sở công an Hà Nội Nguyễn Đức Nhanh đăng trên báo Thanh Niên khẳng định rằng đảng và nhà nước không chủ trương trấn áp người biểu tình yêu nước, họ còn trích lời ông Hồ Chí Minh — Không bao giờ [lệ thuộc vào Trung Quốc!] — để dạy khôn Bộ Chính Trị ĐCSVN đang có khuynh hướng "đi đêm" để ký kết những thỏa thuận mờ ám với thiên triều phương bắc.

Tính quy chiếu của ẩn dụ cũng rõ ràng, trực tiếp, và táo bạo hơn nhưng vẫn không làm mất tính khôn khéo. Thử xem hai tờ biểu ngữ sau:
Không sợ sự đe dọa của kẻ ác
Chỉ sợ sự thờ ơ vô cảm của người lương thiện!
Tổ quốc Việt Nam là của 90 triệu người Việt Nam
Không riêng của bất kỳ ai, bất kỳ nhóm người nào!
Ai là "kẻ ác" và ai là "người lương thiện"? Trong khi đất nước đang lâm nguy vì bị "kẻ ác" hành hung mà lại thờ ơ vô cảm thì có thể gọi là "lương thiện" được chăng? Không sợ "kẻ ác" chỉ sợ "người lương thiện" — à ha, thì ra "người lương thiện" thực chất cũng chẳng hơn gì "kẻ ác". Phải chăng đây là một lối chơi chữ để ám chỉ "kẻ ác" và "người lương thiện" tuy hai mà một? Phân biệt tổ quốc chung chứ không phải của "bất kỳ ai" hoặc "bất kỳ nhóm người nào" tức là mặc nhận sự tồn tại của hiện tượng có kẻ [đã, đang, hoặc sẽ] tự xem tổ quốc là của riêng họ. Những cá nhân hoặc nhóm người này không được nói trắng ra nhưng ai cũng biết là ai. Mời quý vị xem bài phóng sự ảnh về cuộc biểu tình Hà Nội 10:



Tháng 8, 2011
Nam Hải Trường Sơn

Copyright © 2011 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

5 tháng 8, 2011

Lưỡi Bò Đến Từ Đâu? (2)

Tấm bản đồ 10-1947 và tư duy "lãnh thổ, lãnh hải chủ trương" của TQ

Sự mờ nhạt thiếu thuyết phục của các cứ liệu thư tịch - bản đồ cổ của Trung Quốc
Biết bao sự kiện rất lớn đã diễn ra ở Trung Hoa lục địa, Đài Loan và cả ở Việt Nam. Vấn đề Biển Đông (mà TQ gọi là Nam Hải) nổi cộm và nóng dần lên. Khởi đầu là việc chính quyền Trung Quốc cho quân xâm lược Hoàng Sa của Việt Nam vào tháng 3-1974, kế đến là việc Trung Quốc đánh chiếm một số đảo trong QĐ Trường Sa thuộc chủ quyền CHXHCNVN tháng 3-1988. Chính phủ VN đã nhiều lần tuyên bố Việt Nam có đầy đủ những căn cứ pháp lý để xác định chủ quyền của Việt Nam ở các vùng biển đảo nói trên. Nhưng phía Trung Quốc ngày càng lộ rõ tham vọng bá quyền, nhiều lần công bố các tài liệu thư tịch cổ mà họ cho là gián tiếp hoặc trực tiếp xác nhận chủ quyền của Trung Hoa ở Nam Hải, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc đặt tên là Tây Sa và Nam Sa.

Thấy các bằng cứ từ trong các thư tịch cổ của mình không thuyết phục được ai, nhà cầm quyền Bắc Kinh hướng sự chú ý vào các bản đồ.

Khác với nguồn thư tịch dù không mấy thuyết phục nhưng cũng còn có cái tên để nêu lên, thể loại bản đồ cổ Trung Quốc rất vắng thiếu và hầu như không có các cứ liệu ủng hộ cho lập trường bành trướng của họ đối với Biển Đông cũng như các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa! (Xem bài trên tờ China Daily cũng có thể thấy sự vắng thiếu ấy).

Lâm vào tình thế đó, thậm chí người ta thấy những bài viết bắt đầu lánh dần vấn đề các cứ liệu thư tịch - bản đồ, mà chuyển dần sang chủ điểm nói về một thứ "lãnh hải" rất kỳ quái mà họ gọi mà "lãnh hải chủ trương" - nghĩa là lãnh hải (trên Biển Đông) mà nhà cầm quyền Trung Quốc "chủ trương" muốn có và cần phải có. Chẳng hạn một sĩ quan cao cấp (về hưu) của TQ đã viết:

任何对领土、领海的主张都离不开以国力,国际话语权为后盾。"搁置争议、共同开发" 这是我国的现阶段解决领土、领海等边界问题的方针之一。就我国现阶段的国力以及国际环境来说这个方针是最好的了。

"Bất cứ chủ trương nào đối với lãnh thổ, lãnh hải cũng không thể tách rời khỏi sự hậu thuẫn của sức mạnh đất nước và quyền đối thoại quốc tế". (Blog帝国空军退役军官, 7-29-2008)

Cái gọi là "chủ trương lãnh thổ, lãnh hải" đó không gì khác hơn là cái tham vọng bất chấp sự thật lịch sử của chủ nghĩa bá quyền Bắc Kinh trên đất liền cũng như trên biển. Không chỉ đối với biển Đông, chẳng hạn đối với Nhật Bản trong vấn đề quần đảo Điếu Ngư (Nhật Bản gọi là Senkaku Shotō hay 尖閣諸島/Tiêm Các Chư Dảo) phía Trung Quốc cũng ứng xử theo kiểu "lãnh hải chủ trương" như vậy, khiến cho mâu thuẫn ở biển Hoa Đông giữa Trung Quốc và Nhật Bản có xu hướng gia tăng.

Tư duy "lãnh thổ, lãnh hải chủ trương" được hiện thực hoá

Đang lúc kiểu lý luận "lãnh hải chủ trương" được "tập huấn" cho quán triệt thì đâu đó lại loé lên hy vọng từ nguồn cứ liệu bản đồ. Không biết ai đó bỗng dưng phát hiện ra còn giữ được tấm bản đồ do nhóm Lâm Tuân vẽ hồi nào! Họ phát hiện ra "cái hay nhất" ở bản đồ lưỡi bò của nhóm Lâm Tuân là khiến cho cái tư duy "lãnh thổ chủ trương" hay "lãnh thổ chủ tương" (mơ tưởng) được loại hình hoá, giấy trắng mực đen hoá bằng bản đồ, chứ không còn phải nói khơi khơi chung chung nữa! Thế là bản đồ của chính quyền Quốc Dân Đảng ấn hành tháng 10-1947 suýt bị vứt vào sọt rác được lôi ra giới thiệu trang trọng, ra sức tung hô, coi đó là bằng chứng có giá trị duy nhất về chủ quyền lãnh hải của Đại Hán từ xưa đến nay ... và cả mai sau nữa!!

Từ bằng chứng "mấy nghìn năm", nay họ rút xuống chỉ cần cái bằng chứng 64 năm ấy là quá đủ, không phải bàn thảo gì nữa! Chế độ Tưởng Giới Thạch [chỉ có] duy nhất cái bản đồ lưỡi bò đó được [TQ] coi là "quốc bảo", rất mực được đề cao.

Từ năm 2006 Chính phủ TQ quy định tất cả bản đồ TQ đều phải thể hiện đường lãnh hải chữ U đó. Những người nặng đầu óc sôvanh lớn tiếng: "CHNDTH hoàn toàn kế thừa cái bản đồ [lưỡi bò] ấy!" (Chẳng hạn xem: Blog 万里风云 一庭花草, 30-5-2010)

Chính phủ TQ không hô như thế, nhưng như mọi người đã biết, ngày 6-5-2009 Bộ Ngoại giao TQ trình lên LHQ tấm bàn đồ hình chữ U (tức bản đồ lưỡi bò) ấy tức là chính thức gắn cho văn bản ấy một tính chất quốc tế chứ không còn là vấn đề tung hô trong nội bộ nữa!

Sự giải thích vá víu và con đường phá sản của bản đồ đường lưỡi bò

Như vậy, vấn đề lãnh hải hình lưỡi bò không còn là vấn đề riêng của vài quốc gia mà đã trở thành vấn đề công khai của các nước ĐNA với Trung Quốc. Một số nước khác như Mỹ, Nhật Bản cũng tuyên bố họ có quyền lợi liên quan đến hoà bình và ổn định ở các tuyến hàng hải trên Biển Đông. Không những các nước ĐNA trực diện phê phán lãnh hải lưỡi bò của Trung Quốc mà nhiều chính phủ và chính khách quốc tế cũng bày tỏ sự nghi ngại lớn đối với tham vọng của Trung Quốc ở vùng biển quan trọng này.

Gần đây TQ lại cho xuất hiện một vài cách giải thích mong làm cho một số nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản yên lòng.

Bài đăng trên China Daily dẫn lời của Triệu Lý Hải đưa ra khái niệm "sở hữu danh nghĩa" là một mưu toan khiến người ta hiểu rằng Trung Quốc nhận quyền "sở hữu danh nghĩa " như vậy, còn trên thực tế thì các nước có thể không bị ảnh hưởng gì! Hoặc điều đó "không có nghĩa là toàn bộ vùng biển trong đường này thuộc về vùng nội thủy của Trung Quốc", các nước qua đàm phán với Trung Quốc vẫn có thể được Trung Quốc cho tự do đi lại trên một số tuyến hàng hải nào đó theo quy định của Trung Quốc!

Chấp nhận sự giải thích mơ hồ đó có nghĩa là bất kể các nước ĐNA hay các cường quốc hàng hải nào trên thế giới đang được tự do đi lại trên biển Đông đều bị đặt vào tình thế phải đàm phán với Trung Quốc mới có thể tiếp tục được hưởng quyền tự do đi lại trên vùng biển quốc tế này!

Tiềm lực kinh tế quân sự thì các nước khác nhau, nhưng thế giới văn minh ngày nay làm sao có thể chấp nhận những áp đặt hoang đường như vậy? China Daily lẽ nào không nhận ra mức độ không tưởng của những luận điểm theo kiểu giải thích của Triệu Lý Hải đã được dẫn thuật hay sao?

Tham vọng "vô đáy" như vậy đối với chủ quyền ở Biển Đông không những bị dư luận thế giới phản đối, mà ngay ở trong nước những người Trung Quốc có lương tri cũng cho rằng chủ trương lãnh hải hình chữ U (lưỡi bò) ấy là không khả thi. Có bài báo viết: nếu theo đó thì có những nơi người dân nước họ "nhảy xuống nước bơi một đoạn, ngẩng đầu lên đã là ra ngước ngoài rồi"! Hoặc có người nói: "Đem lãnh hải đến đặt trước cửa nhà người ta như thế thì ai người ta chịu?" v.v...

Bản đồ lãnh hải lưỡi bò chính thức tung ra đến nay cũng đã 5-6 năm dù được đề cao hết mức nhưng xem ra tương lai của nó cũng không khác gì con bệnh đã đến hồi di căn. Có những ý kiến cực đoan đề nghị Trung Quốc tuyên bố thẳng, rằng không cần cái đường lưỡi bò ấy. Vẫn viên sĩ quan có bài trên mạng Thiết Huyết nêu:

国际政治遵循的是丛林法则,有理没理不重要,重要的是实力,美国能占住遥远的夏威夷,英国能占住阿根廷门口的马尔维纳斯群岛,我们当然也能占住南海,这就是持强凌弱,没什么不好意思的。

"Pháp luật mà chính trị quốc tế tuân theo là pháp luật rừng (tùng lâm pháp tắc 丛林法则), có lý không có lý không quan trọng, cái quan trọng nhất là thực lực. Nước  Mỹ có thể chiếm đóng Hawai xa xôi, nước Anh có thể chiếm quần đảo Manvinat ở ngay cửa khẩu của Achentina, thì chúng ta [tức Trung Quốc] cũng có thể chiếm biển Nam Hải! Đấy tức là kẻ mạnh lấn lướt kẻ yếu, có điều gì là xấu hổ đâu!"

Loại ý kiến cực đoan như dẫn trên cố nhiên không phải là quan điểm của chính phủ Trung Quốc và chúng tôi chân thành tin rằng kiểu lý luận thời trung cổ ấy không chỉ bây giờ mà mãi mãi không bao giờ là quan điểm chính thống của nhân dân và chính phủ Trung Quốc!

Trung Quốc là một nước lớn, một trong năm thành viên của HĐBA, chúng tôi chân thành mong chính phủ Trung Quốc cuối cùng sẽ nhận ra tính chất phí lý của chủ trương lãnh hải đường lưỡi bò, cùng các nước ĐNA và các nước có liên quan thực hiện các quy định theo Tuyên Bố Về Cách Ứng Xử Các Bên Trên Biển Đông (DOC), tiến đến Bộ Quy Tắc Ứng Xử Trên Biển Đông (COC) giữa ASEAN và Trung Quốc, để cuối cùng giải quyết hoà bình các tranh chấp biển đảo ở Biển Đông phù hợp với Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển 1982 (UNCLOS).

Trở lại phần 1

Tác giả: GS TS Ngô Đức Thọ
Cán bộ viện Nghiên Cứu Hán Nôm, đã nghỉ hưu
Nguồn: TuanVietnam.net 
Biên tập: Nam Hải Trường Sơn 
(chỉ riêng cho bản đăng tại Blog Nam Hải Trường Sơn) 

[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn