Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



22 tháng 7, 2011

Minh Oan


Minh Oan


         Mến tặng những người bạn Trung Hoa yêu chuộng hòa bình và công lý
    

     Trời sinh ra tớ
    Cơ phận lưỡi bò
    Suốt đời cặm cụi lo nhai cỏ
    Nuôi thân thể béo to
    Để một ngày nào đó
    Hiến dâng tất cả
    Xương, da, và thịt
    Cho người được ấm no

     Nhưng hỡi ôi!
    Chúng chẳng biết 
    Nhỏ lòng thương
    Thiện tính bẩm sinh
    Của loài gia súc cát tường
    Nhát dao đồ tể lạnh lùng buông
    Máu hồng tuôn thẫm ruộng vườn ...



    Chúng vẫn chẳng nương
    Dửng dưng bưng tớ bỏ Biển Đông
    Biến tớ thành một quái vật cuồng ngông
    Chín đoạn loằn ngoằn
    Tham lam như rắn muốn nuốt voi
    Hiểm độc chẳng thua lang sói
    Nhưng ăn nói lại như Không Tử tái sanh

     Xin bạn 
    Cần thấu hiểu
    Tớ cũng là nạn nhân
    Bị phường bá chủ sô-vanh
    Bạo hành
    Khủng bố
    Đâu phải tớ 
    Lưỡi bò ti tiện
    Muốn ngụy biện
    Lưu manh
    Chỉ vì hoàn cảnh, phải đành
    Thân bất do kỷ
    Hữu khẩu nan ngôn

     Tự đáy sâu của linh hồn
    Câm nín
    Tớ chỉ biết lâm râm
    Khấn nguyện
    Dẫu vĩnh kiếp đớn đau
    Xin được người đánh thánh đâm
    Bầm dập thân xác
    Để trị cho hết ác tật
    Phật khẩu xà tâm


                         ooOoo

        
Tháng 7, 2011
Nam Hải Trường Sơn

Copyright © 2011 Nam Hải Trường Sơn

鳴冤


         獻给愛慕和平與公理的
中華朋友
    

    天生我來
    作個牛脷小器官
    一輩子勤勉咀嚼小草兒
    滋養身體肥美
    等待那一天
    奉獻
    全部骨, 肉, 和肌膚
    讓人活得溫飽

    但是, 唉!
    他們不曉得拿出來一些同情心
    憐憫
    這群吉祥家畜的善良稟性
    殘酷屠宰一刀
    鮮血淋淋
    紅緋滿田園 . . .


    他們卻手不留情
    冷漠地拉我出來放在東海
    變我成一隻瘋狂的怪物
    九段彎曲樣
    貪婪如蛇欲呑象
    奸險不輸於狼虎
    而談吐卻似孔子再世

    兄弟
    請您們徹底明白
    我也是受害者
    被沙文霸道朋黨
    暴行
    欺負
    不是鄙脷卑賤
    想要偽辯
    流民
    只因為環境
    所以身不由己
    有口難言

    從暗啞靈魂的深淵
    我唯一可以做
    就默默祈禱
    盡管永劫沉輪痛苦
    讓我被
打神刺
    瘀傷累累
    但求醫得斷惡疾
    佛口蛇心

                       
ooOoo

        
2011年 7月
南海長山

Copyright © 2011 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

21 tháng 7, 2011

Phản Công Bắc Kinh Tại Biển Đông (7)

Tiến Về Tương Lai

Các quốc gia Đông Nam Á sử dụng ASEAN để tạo ra một hàng rào ngoại giao bao bọc quanh khu vực. Tuy nhiên, như những sự kiện xảy ra gần đây cho thấy, một Trung Quốc đang trỗi dậy đang cố đẩy lùi đường ranh giới đó và ASEAN hiện đang mong ước được Hoa Kỳ gia tăng sự hiện diện để đối trọng với sự xâm lấn của Trung Quốc. Thực tế khắc nghiệt là ngay cả các hiệp ước an ninh vững mạnh như được bọc thép và sự hiện diện của các tàu chiến Hoa Kỳ vẫn không đủ để bảo vệ các quốc gia Đông Nam Á nếu họ không sẵn sàng đứng lên tự bảo vệ. Các quốc gia ASEAN phải hành động cá nhân cũng như tập thể để tạo nên một lực lượng răn đe vững mạnh nhằm chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc. Theo lời thơ của thi sĩ Robert Frost: "Rào dậu chắc tạo láng giềng tốt," thế mà ASEAN lại thiếu nhất quán, thống nhất mục đích, và sức mạnh thể chế để thiết lập được một hàng rào vững chắc như thế.

Trung Quốc phô diễn một mối đe dọa quân sự mạnh mẽ thường trực, nhưng bắt đầu sự hỗ trợ của Hoa Kỳ bằng việc tăng cường sức mạnh quân sự cho ASEAN thì chẳng khác gì việc bắt tay xây nhà từ nóc xây xuống. Ưu tiên đầu tiên là phải để cho mỗi quốc gia riêng lẻ của khối xây dựng nền móng cho ngôi nhà đó bằng cách thanh tẩy hệ thống pháp luật của họ và từng bước đẩy lùi nạn tham nhũng. Ngoại trừ Singapore, tất cả các quốc gia khác trong khối ASEAN đều bị tiêm nhiễm bởi hệ thống pháp luật mục ruỗng trầm trọng. Đồi bại tư pháp là một tệ nạn mà quần chúng cực kì oán ghét, ở Indonesia được gọi là nền "tư pháp mafia," và sự hỗ trợ của Hoa Kỳ trong việc bài trừ tệ nạn này sẽ được hoan nghênh. Hoa Kỳ có một số chương trình, đặc biệt là những chương trình của Bộ Tư Pháp và Bộ Nội An, có thể hỗ trợ các nỗ lực cải cách tư pháp bản địa và phải là ưu tiên hàng đầu trong việc hỗ trợ cho khu vực.

Phải tiến hành cải tiến mạnh mẽ các hệ thống pháp luật của ASEAN và thúc đẩy tăng trưởng các nền kinh tế trong khối trước khi tăng cường sức mạnh quân sự.

Ưu tiên thứ nhì trong việc xây dựng ngôi nhà ASEAN là phải thiết lập tường vách và trụ cột kinh tế để nâng mái nhà. ASEAN đã có những tiến bộ trong việc nới lỏng hạn chế thương mại liên-ASEAN, nhưng khối này phải tiếp tục mở rộng những nỗ lực đó, và các nước thành viên phải cải cách nền kinh tế nội bộ để mở đường cho tăng trưởng kinh tế. Một lần nữa, Hoa Kỳ có nhiều bộ và cơ quan có thể và nên hỗ trợ phát triển kinh tế cho khối Đông Nam Á. Đặc biệt, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ có thể đàm phán một hiệp ước thương mại tăng cường giữa Hoa Kỳ và ASEAN, có lẽ nên theo mô hình hiệp định thương mại Hoa Kỳ-Việt Nam, mà đã hỗ trợ rất nhiều cho công cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam.

Tại Đông Nam Á, Hoa Kỳ có thể cung cấp tạm thời một lá chắn an ninh cho các quốc gia ASEAN, nhưng cam kết đó không phải trở thành một ràng buộc vô hạn định. Trợ cấp an ninh, giống như trợ cấp an sinh, thương mại, hoặc trợ cấp kỹ nghệ, có thể trở nên những quyền thừa hưởng đắt giá và cuối cùng có thể làm nảy sinh hành vi đi ngược lại chủ đích nguyên thủy của việc trợ cấp.

Nếu có sự cải thiện mạnh mẽ trong hệ thống pháp luật và tăng trưởng trong các nền kinh tế thì tự nhiên sức mạnh quân sự cũng sẽ gia tăng theo. Trút bỏ được gánh nặng mua sắm những hệ thống vũ khí mà hoạt dụng thực tế của chúng đang làm giàu cho giới chính trị gia hoặc các tướng lãnh sẽ gia tăng đáng kể khả năng quân sự mà không phải tốn phí thêm đồng xu nào. Hơn nữa, cùng với các nền kinh tế quốc gia lớn hơn và mạnh mẽ hơn, các quân đội trong khu vực sẽ thu đạt được nhiều nguồn tài nguyên hơn cho công cuộc hiện đại hoá mà không làm tăng thêm gánh nặng cho người thọ thuế. Lầu Năm Góc đã có các chương trình hỗ trợ mạnh mẽ quân sự trong khu vực, và các quân đội quốc gia đã cải tiến có thể tận dụng nhiều hơn nữa sự hỗ trợ này của Hoa Kỳ.

Về mặt ngoại giao, ASEAN nên bắt đầu những cuộc đàm phán liên-ASEAN về biên giới nội bộ. Khởi động tiến trình này có thể buộc Trung Quốc đòi tham gia vào tiến trình đa phương, cho phép ASEAN đặt ra các điều khoản cho các cuộc đàm phán. Cho dù Bắc Kinh không tham gia đi nữa, một thỏa ước biên giới trong khối ASEAN sẽ làm rối rắm đường lối ngoại giao của Trung Quốc và phá hỏng việc đe doạ song phương của họ.

Về mặt quân sự, ASEAN cần bắt đầu tiến trình cải tiến khả năng quốc phòng để tiến hành phòng vệ quân sự chung. Xây dựng từ các bước nhỏ đã sẵn có — chống khủng bố xuyên quốc gia, trấn áp nạn cướp biển, và cung cấp cứu trợ thiên tai — quân đội ASEAN nên bắt đầu tìm kiếm cơ hội để cải tiến khả năng triển khai các chiến dịch liên minh. Các mục tiêu đề ra của ASEAN về ngoại giao và chính trị là để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia thành viên. Xây dựng một rào chắn quân sự chung để bảo vệ những mục tiêu này chống lại tất cả những tai ương tiềm ẩn không phải là hoạt động chống Trung Quốc.

Sau cùng là, bài viết này không phải nhằm để biện luận rằng Bắc Kinh nhất thiết sẽ cưỡng hành các đặc quyền cổ xưa của họ, mà đúng hơn là về ý thức hệ Đại Hán như là cơ sở lịch sử mà giới lãnh đạo Trung Quốc căn cứ vào để quan niệm về thế giới. Bắc Kinh phải được thuyết phục để trở thành một thành phần liên kết tận tụy với mô hình Westphalia. Cựu Thứ trưởng Ngoại giao Robert Zoellick thường phát biểu rằng Trung Quốc cần trở nên thành "người trong cuộc" đóng vai trò nhiều hơn nữa trong hệ thống quốc tế và rằng mục đích đó cần phải được duy trì như là mục tiêu của chính sách dài hạn của Hoa Kỳ. Trong nửa sau của thế kỉ 20, Trung Quốc hưởng lợi rất nhiều từ sự bảo vệ nhất quán mô thức Westphalia về quốc gia dân tộc và chủ quyền lãnh thổ và hệ thống quốc tế rộng lớn hơn. Ngày nay Trung Quốc đã đủ lớn mạnh có thể gây ảnh hưởng lên trật tự thế giới, Trung Quốc không được phép thiết lập một cấu trúc tầng với Trung Quốc được quyền đòi hỏi các quyền lợi lớn hơn các quốc gia khác.

Các nhà hoạch định chính sách ở Washington phải nhớ rằng Trung Quốc hiện tại không phải là mối đe dọa cho bất cứ quốc gia nào. Mặc dù khả năng của một cuộc đụng độ Hoa Kỳ-Trung Quốc là rất đáng kể, đường lối ngoại giao thiện hảo ở Washington và sự trưởng thành chính trị đang phát triển tại Bắc Kinh có thể giúp ngăn ngừa bất kì cuộc đụng độ nào như thế. Cách tốt nhất để đạt được mục đích này là phải gắn kết cho được Trung Quốc vào trong các tổ chức có cơ sở luật lệ ràng buộc rồi từ đó kiên quyết đòi Bắc Kinh phải tuân thủ đúng với những luật lệ đó. UNCLOS là hiệp ước hàng hải toàn cầu quan trọng nhất, nhưng Hoa Kỳ vẫn chưa phê chuẩn nó và do đó có ít quyền hạn ảnh hưởng đến việc thực thi hiệp ước hơn so với Trung Quốc. Cách duy nhất để Hoa Kỳ có được một ghế tại bàn UNCLOS là Hoa Kỳ phải phê chuẩn UNCLOS và tham gia vào các uỷ ban khác nhau hướng dẫn cách triển khai hiệp ước này.

Lợi ích của Hoa Kỳ trong việc duy trì tự do hàng hải ở Biển Đông và các vùng biển tranh chấp khác cần được bảo vệ bằng ngoại giao được hỗ trợ bằng sức mạnh quân sự. Hoa Kỳ không phải nao núng hay thỏa hiệp, bởi vì bất kì sự nhượng bộ tạm thời nào trước những đòi hỏi sờ sờ nghịch lý của Trung Quốc sẽ không thu đạt được sự ân thưởng, mà trái lại sẽ trở thành một tiền lệ cho các đòi hỏi tương lai của Trung Quốc. Bằng ngoại giao và quân sự, Washington phải tiếp tục triển khai lực lượng đủ để ngăn cản mọi tham vọng bành trướng lãnh thổ không biện minh được của Trung Quốc.

oo0oo

Trở lại phần 6

Tác giả: Dana Dillon
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Hoover Institute, Standford University 
[ Đọc Tiếp ]

Điệu Hổ Ly Sơn

Điệu Hổ Ly Sơn — xua cọp rời núi — là một mưu kế dùng để điều động quân của đối phương. Trong kế này "hổ" là một lực lượng hùng mạnh của địch quân; và "sơn" là một trận địa quan trọng, bên nào chiếm được bên đó có lợi. Trong lãnh vực quân sự, khi địch mạnh ta yếu, và địch lại chiếm cứ địa hình có lợi, nếu ta miễn cưỡng tấn công thì nhất định sẽ tổn thất thê thảm. Để làm suy yếu lực lượng của địch trước tiên ta phải khiến địch rời khỏi vị trí chiến lược. Sau khi nắm được trận địa thuận lợi, ta sẽ tiến hành công kích. Nói cách khác, trong thực tiễn, mưu kế này bao gồm hai giai đoạn là "trước đuổi" và "sau đánh."

Cao thủ cờ tướng không những phải giỏi điều động quân cờ của mình mà còn phải giỏi điều động quân cờ của đối thủ. Khi công chẳng nổi, ta phải biết sử dụng các thủ đoạn cưỡng bức hoặc dẫn dụ để đối thủ đưa lực lượng phòng thủ chủ yếu của họ rời khỏi vị trí và nhân lúc trận địa của họ bị bỏ trống ta ập vào tấn công. Khi các quân cờ mạnh của đối thủ chiếm cứ những vị trí trọng yếu của ta, kiềm hãm lực lượng tấn công chủ chốt của ta, hoặc uy hiếp sự an toàn của một bộ phận nào đó, ta phải tìm cách điều động chúng đi chỗ khác. Đây là những ứng dụng căn bản của kế Điệu Hổ Ly Sơn trong lãnh vực cờ tướng.

Cuộc cờ thực chiến sau đây giữa hai danh thủ Trung Quốc Châu Đức Dụ và Triệu Văn Tuyên trong một trận đấu vào năm 1932 là một thí dụ điển hình của kế Điệu Hổ Ly Sơn. Đỏ dùng chiêu Pháo Đầu Mã Đội hung hãn tấn công trung lộ của Xanh, nhưng Xa trái tạm thời bị phong tỏa và Xa phải bị Pháo Xanh cầm chân với nước hăm he đánh Tượng. Xanh có trận hình phòng thủ rất kiên cố và lời 1 con chốt đầu. Hai bên vừa đi được 13 nước. Theo hình thì bây giờ đến lượt Xanh đi cờ và Xanh đã thi triển kế Điệu Hổ Ly Sơn một cách rất ấn tượng để tiến thẳng vào tận "hang hùm" đại náo "hổ huyệt" giành chiến thắng. Mời bạn bấm nút để thưởng thức và tham khảo.




13.    . . .                 Pháo 2 thối 1

Thối Pháo bắt Xa là bước thứ nhất trong kế Điệu Hổ Ly Sơn của Xanh nhằm trục xuất Xa đỏ ra khỏi trực tuyến thứ 3 để Pháo đánh Tượng đáy. Một nước cờ tuyệt diệu, không để mất cơ hội.

14.  Binh 7 tấn 1

Đỏ tấn Binh qua sông để tạm thời giải nguy. Nếu Xa 3 thối 1, Xanh tấn Chốt đầu qua sông thì Mã Đỏ phải thối về và Xanh cũng chiếm ưu thế lớn.

14.   . . .                    Chốt 5 tấn 1 

Tấn Chốt bắt Xa là bước thứ hai trong kế Điệu Hổ Ly Sơn của Xanh. Một nước cờ hung hãn cưỡng bức hổ ly sơn, rời khỏi vị trí phòng thủ trọng yếu của Đỏ.

15.  Xa 3 bình 5          Pháo 7 tấn 5        

Xa bắt buộc phải ăn Chốt. Kế Điệu Hổ Ly Sơn của Xanh hoàn toàn thành công, Pháo đánh được Tượng chiếu để triển khai công thế khiến Đỏ hoàn toàn lâm vào thế bị động.

16.  Sĩ 4 tấn 5              Pháo 7 bình 9  

17.  Sĩ 5 tấn 6              Xa 8 tấn 9  

18.  Tướng 5 tấn 1       Xa 8 thối 1  

19.  Tướng 5 thối 1      Pháo 2 tấn 3  

Xa Xanh mượn thế chiếu Tướng đi thêm hai nước để chiếm vị trí thuận lợi, không cho Đỏ đấu Xa. Nếu nước thứ 17 Xanh trực tiếp đi Pháo 2 tấn 3 chứ không phải tấn Xa chiếu thì Đỏ sẽ Xa 5 bình 2 đấu Xa để tiêu diệt phần lớn thế công của Xanh.

20.  Xa 5 bình 2            Xa 8 bình 7  

21.  Binh 7 tấn 1           Xa 7 tấn 1  

22.  Tướng 5 tấn 1       Pháo 9 bình 4 

Pháo Xanh ăn Sĩ bắt chết Xa Đỏ. Đến đây thì Đỏ binh bại như núi đổ, rất khó cứu vãn tình thế.

23.  Pháo 5 tấn 5          Tượng 3 tấn 5 

24.  Tượng 7 tấn 5        Pháo 4 thối 1 

25.  Xa 8 tấn 2              Xa 7 thối 1  

26.  Tướng 5 thối 1       Xa 2 tấn 8  

27.  Sĩ 6 thối 5              Xa 2 tấn 1  

28.  Sĩ 5 thối 6              Pháo 4 bình 1  

Đến đây thì trận thế của Đỏ đã hoàn toàn băng hoại, chỉ còn nước ... bắt tay chịu thua.

Tháng 7, 2011
Nam Hải Trường Sơn

Copyright © 2011 Nam Hải Trường Sơn


Các trang cờ tướng khác trong blog này:
[ Đọc Tiếp ]

19 tháng 7, 2011

Phản Công Bắc Kinh Tại Biển Đông (6)

Nam Dương là quốc gia lớn nhất Đông Nam Á, chiếm 40% dân số của khu vực; nó có nền kinh tế lớn nhất và một nền dân chủ đang phát triển. Quan điểm của Nam Dương về các hoạt động của Trung Quốc phản ánh viễn tưởng của Jakarta tự xem mình là quốc gia lãnh đạo phi chính thức của ASEAN. Phát biểu tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Và Quốc Tế tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Bộ Trưởng Ngoại Giao Nam Dương Marty Natalegawa nói rằng: “Đối với các nước thành viên của ASEAN, điều đáng lo ngại hơn là Biển Đông có khả năng trở thành đấu trường trung tâm của cuộc cạnh tranh tiềm tàng.” Mục tiêu của Nam Dương, và mở rộng ra cũng là mục tiêu của ASEAN, là cân bằng Hoa Kỳ và Trung Quốc để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập.

Chính phủ Việt Nam xem Trung Quốc không kém gì hơn một mối đe dọa sinh tồn; một nỗi âu lo được chứng thực bằng kinh nghiệm lịch sử. Lịch sử ký lục của Việt Nam đã có cách đây 2.700 năm. Trung Quốc chiếm cứ quốc gia này hơn một ngàn năm trong khoảng thời gian đó và Hà Nội phải còng lên vai thân phận chư hầu nặng nề gần như suốt phần lịch sử còn lại. Mặc dù đã từng chống đối Trung Quốc trong nhiều cuộc chiến tranh cam go và dài lâu, Hà Nội hưởng thụ độc lập chân chính chỉ trong một số giai đoạn ngắn ngủi.

Kinh lịch của Hà Nội đối với Trung Quốc trong thời hậu đế chế là Trung Quốc luôn luôn xem thường độc lập và chủ quyền của Việt Nam. Vào năm 1979, để trừng phạt Việt Nam về những chính sách mà Bắc Kinh không ưa, Trung Quốc đã tấn công và chiếm cứ một số địa phận của Việt Nam trong một thời gian ngắn. Hơn nữa, hải quân Trung Quốc đã nhiều lần tấn công và đánh chìm tàu hải quân của Việt Nam hoạt động ngay ngoài khơi miền nam Việt Nam và cách xa bờ biển Trung Quốc hàng trăm dặm; binh lính Trung Quốc đồn trú trên những đảo nhỏ và các bãi san hô trong khu vực EEZ của Việt Nam; tàu hải quân của Trung Quốc thường xuyên quấy nhiễu hoặc bắt giữ ngư dân Việt Nam; và Bắc Kinh cản trở những nỗ lực của Hà Nội trong việc khai thác các nguồn khí đốt thiên nhiên hoàn toàn nằm trong khu vực EEZ của Việt Nam. Thế nhưng Hà Nội vẫn dè dặt không khiêu khích Trung Quốc và tiếp tục mưu cầu quan hệ tốt đẹp với Bắc Kinh.

Kinh lịch của Hà Nội đối với Trung Quốc trong thời hậu đế chế là Trung Quốc luôn luôn xem thường độc lập và chủ quyền của Việt Nam.

Mặc dù Singapore không dính líu vào cuộc tranh chấp lãnh hải tại Biển Đông, và có 75% dân số là người gốc Hoa, quan điểm của Singapore về nước Trung Quốc đang trỗi dậy đã chứng thực định luật cho rằng ASEAN luôn nghi ngờ ý đồ của Trung Quốc. Singapore là một nước đa sắc tộc, nhưng đại bộ phận dân số là hậu duệ của những người di cư từ Trung Quốc, chủ yếu là dân lao động được đưa đến trong thời Anh Quốc thống trị. Vì thành tựu kinh tế và nguồn gốc di cư của dân chúng, Singapore thường bị các nước khác trong vùng oán hận và lên tiếng biểu thị hoài nghi lòng trung thành của mình. Mặc dù đã xây dựng nhiều mối quan hệ kinh tế vững chắc với Trung Quốc trong mấy thập kỷ qua, Singapore đã đợi đến năm 1990 mới thiết lập quan hệ chính thức với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa — là quốc gia cuối cùng trong khối ASEAN làm như vậy. Singapore vẫn tiếp tục duy trì mối liên kết kinh tế vững chắc đó, nhưng thái độ hung hăng gần đây của Trung Quốc đã buộc Singapore phải tuyên bố lập trường của mình.

Để trấn an các nước láng giềng của mình (và thông báo với Trung Quốc) rằng Singapore không phải là một tỉnh của Trung Quốc, tại lễ kỷ niệm Ngày Quốc Khánh trong tháng 8 năm 2010, Thủ Tướng Singapore Lý Hiển Long đã trịnh trọng miêu tả bản sắc văn hóa đặc thù của Singapore, bao gồm việc chọn Anh văn làm quốc ngữ và biểu dương ẩm thực đặc sắc của Singapore. Để nhấn mạnh thông điệp này, bài xã luận trên số báo ra ngày 6 tháng 9 năm 2010 của tờ Straits Times, nhật báo quốc gia của Singapore và cơ quan ngôn luận của chính phủ, đã cường điệu rằng nhân dân Singapore không phải là Hoa kiều ở hải ngoại, lý giải rằng “thuật ngữ 'Hoa Kiều Ở Hải Ngoại' sẽ làm nhân dân Singapore trong tất cả mọi sắc tộc bực tức bởi vì nó ám chỉ rằng người Hoa tại Singapore vì lý do nào đó là 'ở hải ngoại' và bị chia cách với 'đại lục'. Thuật ngữ này còn ám chỉ một ước vọng có thể được 'trở về' một ngày nào đó. Trong thực tế, hầu hết mọi người dân Singapore không phải là 'ở hải ngoại'. Họ có gốc gác ở đây.” Trong một bài xã luận khác vào mùa hè vừa qua Straits Times thận trọng tán thành sách lược mới của Hoa Thịnh Đốn tại Biển Đông và cảnh báo Bắc Kinh rằng “hành động của họ sẽ được theo dõi chặt chẽ để đối chứng với những gì họ nói về 'sự trỗi dậy hòa bình' của cường quốc đang phát triển này.”

Mối quan tâm lớn nhất của Singapore đối với chính sách mới của Hoa Kỳ không phải  là nỗi sợ hãi trong việc khiêu khích Trung Quốc mà là tính thất thường trong chính sách của Hoa Kỳ, một quan điểm phản ánh lập trường chung của ASEAN. Theo quan điểm của ASEAN, mặc dù Trung Quốc đã đưa ra nhiều tuyên bố đinh tai và phô trương nhiều hành động quân sự suốt cả mấy chục năm qua, Hoa Kỳ vẫn cứ giữ thái độ “dè dặt” trong cuộc tranh chấp này, tỏ vẻ chẳng biết hoặc chẳng quan tâm đến tham vọng bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông và những ảnh hưởng của nó đối với toàn khu vực cũng như hoàn cầu. Chẳng hạn, khi Phi Luật Tân phát hiện Trung Quốc xây đồn hải quân trên đảo Mischief Reef, Hoa Thịnh Đốn chẳng chịu san sẻ sự phẫn nộ của Manila và không bày tỏ lập trường trong vụ tranh chấp này, ngay cả khi Trung Quốc phát triển và nới rộng sự hiện diện của họ.

Nhưng các quốc gia ASEAN có thái độ nước đôi đối với cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc. Họ yêu cầu sự hiện diện và giúp đỡ lâu dài của Hoa Kỳ để cân bằng Trung Quốc. Đồng thời, nhiều quốc gia ASEAN lại ngần ngại không muốn cung cấp quá nhiều quyền sử dụng cho Hoa Kỳ vì sợ tổn hại chủ quyền của mình. Các nước ASEAN kiêng sợ sức mạnh quân sự và ý đồ chính trị của Trung Quốc nhưng họ lại hoan nghênh nguồn đầu tư của Trung Quốc và các cơ hội kinh doanh tại thị trường khổng lồ của Trung Quốc.

Cuối cùng, các nước ASEAN còn lâu mới thống nhất được quan điểm khẳng định Trung Quốc là một mối đe dọa. Trong tổng số 10 nước của ASEAN có 4 nước không dính líu vào cuộc tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông là Miến Điện, Cam Bốt, Lào, và Thái Lan. Chính quyền quân sự của Miến Điện, một chế độ bị thế giới ruồng rẫy, xếp Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa vào nhóm một vài quốc gia thiện hữu của mình và sẽ ngần ngại trong việc bảo vệ các đối tác ASEAN trước sự xâm lấn của người đỡ đầu mình. Thái Lan đang ngập sâu trong hố phân rẽ chính trị và khó có thể tham gia vào một mặt trận phòng thủ chung. Hơn nữa, giới lãnh đạo Thái Lan rất hãnh diện với chính sách ngoại giao linh hoạt “như tre” của mình và nhận thấy chẳng có lý do gì lại không nương theo chiều gió thổi từ Trung Quốc. Các hoàng gia tại cả Thái Lan lẫn Cam Bốt đều có quan hệ thân hữu với chính phủ Trung Quốc. Sau rốt, thủ tục quyết định dựa trên nguyên tắc đồng thuận nhất trí của ASEAN có nghĩa là Trung Quốc chỉ cần một phiếu chống là có thể tránh được sự chỉ trích của ASEAN.


Trở lại phần 5          Xem tiếp phần kết

Tác giả: Dana Dillon
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Hoover Institute, Standford University 
[ Đọc Tiếp ]

Phản Công Bắc Kinh Tại Biển Đông (5)

Cảm Thức Tại Đông Nam Á

Đường lối ngoại giao hiếu chiến của Hoa Kỳ nhằm xây dựng một “liên minh đối trọng” để chống lại Trung Quốc chỉ có thể chứng thực mối ngờ vực của Trung Quốc về một chiến lược kiềm chế Trung Quốc của Hoa Kỳ trong khi nhiều hoạt động của Hoa Kỳ lại đồng thời thúc đẩy các chính phủ Đông Nam Á xa lánh mình. So với Hoa Thịnh Đốn, thủ đô các nước ASEAN quan tâm đến Trung Quốc nhiều hơn, nhưng họ lại dễ bị những áp lực kinh tế và quân sự của Bắc Kinh gây tổn thương hơn và do đó ngần ngại không muốn khiêu khích sự trừng phạt của Trung Quốc. Nói một cách lý tưởng, ASEAN muốn Hải Quân Hoa Kỳ rầm rộ tiến vào Biển Đông để duy trì hòa bình, trong khi đó họ đứng bên lề ậm ợ tỏ vẻ không tán thành và trấn an Trung Quốc rằng mình hoàn toàn vô can. Nhưng về mặt lý trí, hiển nhiên ASEAN biết rằng họ phải hành động khôn khéo hơn thế. Tìm hiểu quan điểm của các quốc gia ASEAN là bước đầu tiên trong việc phát triển một chính sách thích ứng và cân bằng.

Nam Dương, Mã Lai, Phi Luật Tân, Singapore, và Thái Lan thành lập ASEAN vào năm 1967 với mục tiêu đề ra là để thúc đẩy hòa bình và ổn định, nhưng mục tiêu quan trọng nhất là để đạt được sự đồng thuận của tất cả các nước thành viên về nguyên tắc “hỗ tương tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ, và bản sắc dân tộc của tất cả mọi quốc gia” giống như mô thức Westphalia. Trong thời Chiến Tranh Lạnh, ASEAN tiếp tục phát triển trong chức năng của một công cụ ngoại giao để rào chắn cuộc đua tranh của các siêu cường trong khu vực. Sau Chiến Tranh Lạnh, ASEAN chiêu mộ thêm Miến Điện, Cam Bốt, Lào, và Việt Nam, và tập trung vào lãnh vực phát triển kinh tế. Trong thế kỉ 21, một lần nữa các vấn đề an ninh lại chiếm địa vị ưu tiên trong nghị trình của ASEAN. Ban đầu nạn khủng bố quốc tế và cướp biển đã khích lệ quan hệ hợp tác an ninh trong nội bộ khối ASEAN, và bây giờ sự trỗi dậy của Trung Quốc ngày càng vượt lên đỉnh điểm của nghị trình thảo luận các vấn đề an ninh.

Viện dẫn sự gia tăng nhanh chóng gần đây trong mức chi tiêu quân sự ở Đông Nam Á, một số nhà phân tích suy đoán rằng các quốc gia này đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc đấu tranh quân sự với Trung Quốc. Ví dụ, Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế Stockholm đã báo cáo rằng mức nhập khẩu vũ khí của Nam Dương, Singapore, và Mã Lai trong năm năm qua đã gia tăng, theo thứ tự tương ứng, 84%, 146%, và 722%. Cũng trong khung thời gian này, ngân sách quốc phòng của Thái Lan đã gia tăng gấp đôi. Một số nhà phân tích cho rằng sự gia tăng khổng lồ trong mức chi tiêu quốc phòng này là một dấu hiệu biểu thị mối quan ngại của Đông Nam Á trước sự đe dọa của Trung Quốc. Tiếc rằng, cũng giống như nhiều hoạt động do chính phủ chỉ đạo khác tại Đông Nam Á, so với gợi ý của những tư liệu thô này, thực tế diễn ra kém hơn rất nhiều.

Tại Mã Lai, chẳng hạn, đợt mua sắm tàu ngầm của Pháp và các hệ thống vũ khí đắt tiền khác trị giá hàng tỷ Mỹ kim thường xuyên được nhắc đến có lẽ là có liên quan đến nạn tham nhũng phung phí nhiều hơn là việc hoạch định chiến lược quốc phòng. Nói cho đúng hơn, toàn bộ lịch sử mua sắm vũ khí ở Mã Lai xem ra cũng bị tham nhũng đè nặng — một cách thức trang sức lực lượng vũ trang của mình bằng các loại vũ khí mật độ thấp và đắt tiền chỉ làm rối ren công tác hậu cần nhưng không gia tăng giá trị chiến đấu.

Tại Phi Luật Tân, một nước dễ bị guồng máy vũ lực của Trung Quốc tàn hại, an ninh quốc gia thường bị hy sinh vì những vấn đề chính trị quốc nội.

Tại Thái Lan, nỗ lực tăng cường quân sự hiện thời chỉ bắt đầu sau khi Quân Đội Hoàng Gia Thái Lan tiến hành đảo chánh và áp đặt một chính phủ lệ thuộc quân đội vào năm 2006. Hơn nữa, mặc dù các tướng lãnh Thái Lan tán thành một chính sách quốc phòng thân Mỹ trước mặt các quan chức Hoa Kỳ đến viếng thăm, trong thực tế họ mua sắm thiết bị từ một tập hợp khác thường bao gồm nhiều công ty phi Hoa Kỳ. Từ quan điểm hậu cần, duy trì một gánh thiết bị quân sự tạp nhạp là một vấn đề khó khăn và tốn kém; nhưng mặt khác, việc sử dụng các công ty cung cấp vũ khí phi Hoa Kỳ nhỏ hơn có thể dễ dàng tạo điều kiện cho quan chức Thái Lan ăn huê hồng hối lộ.

Tại Phi Luật Tân, quốc gia Đông Nam Á đứng ở vị trí thứ hai chỉ sau Việt Nam về mức độ dễ bị guồng máy vũ lực của Trung Quốc tàn hại, an ninh quốc gia thường bị hy sinh vì những vấn đề chính trị quốc nội. Từ sau biến cố 11 Tháng 9, Hoa Kỳ đã tham gia vào một nỗ lực kiên trì nhằm cải thiện năng lực của quân đội Phi Luật Tân. Tổng số viện trợ của Hoa Kỳ đã tăng gấp ba lần từ khoảng 38 triệu Mỹ kim trong năm 2001 lên đến gần 140 triệu Mỹ kim trong năm 2010. Hơn nữa, không tính vào những khoản tiền viện trợ đó, còn có thêm nhiều triệu Mỹ kim được chi tiêu để tiến hành thường xuyên một loạt diễn tập quân sự năng nổ giữa Hoa Kỳ và Phi Luật Tân được thiết kết để cải thiện năng lực của quân đội Phi Luật Tân. Tiếc rằng, mặc dù Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương của Hoa Kỳ đã có nhiều nỗ lực chân thành, cải thiện trong quân đội Phi Luật Tân (PAF) vẫn còn quá nhỏ nhoi.

Tình trạng khiếm khuyết tiến triển này có liên quan đến sự suy sụt ngân sách quốc phòng của Phi Luật Tân. Khi nguồn viện trợ của Hoa Kỳ gia tăng, Quốc Hội Phi Luật Tân cắt giảm ngân sách quốc phòng. Bên cạnh mối đe dọa từ Trung Quốc, Phi Luật Tân còn khốn đốn vì nhiều cuộc nổi loạn trong nước, nhưng thiết bị của PAF chỉ là đồ cũ của thời Chiến Tranh Việt Nam và ngân sách quốc phòng trong hiện tại chỉ bằng khoảng 1% GDP, hay khoảng 1,16 tỉ Mỹ kim trong năm 2009. Mặc dù, hay có lẽ là bởi vì nguồn viện trợ của Hoa Kỳ rất hào phóng nhiều chính khách Phi Luật Tân, bao gồm cả Tổng Thống Benigno Aquino III mới đắc cử, cho rằng họ có quyền đòi hỏi nhiều hơn nữa. Phớt lờ sự đồng lõa của mình trong việc không cung cấp đầy đủ tài trợ cho các lực lượng an ninh, những chính khách này đang kêu gọi tái xét Hiệp Định Các Lực Lượng Khách Viếng (hiệp định cho phép sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ để trợ giúp huấn luyện PAF). Họ xem Hiệp Định Các Lực Lượng Khách Viếng như là công cụ để kèo nài thêm nhiều trợ cấp quân sự của Hoa Kỳ.

Cũng may là hình ảnh an ninh tại Đông Nam Á không phải là hoàn toàn hối lộ và biếng nhác. Cả Việt Nam lẫn Nam Dương đang tiến hành nhiều đợt mua sắm vũ khí đáng kể được tập trung vào việc tăng cường an ninh quốc gia của họ. Thêm vào đó, sau nhiều thập kỷ đầu tư khôn khéo, quân đội Singapore đã đạt đẳng cấp quốc tế và hùng hậu nhất ASEAN.

Các lực lượng hải quân và không quân của ASEAN gộp chung lại cũng oai vệ lắm, nhưng không đủ để đánh bại quân đội lớn mạnh của Trung Quốc.

Trên giấy tờ, các lực lượng hải quân và không quân của ASEAN gộp chung lại cũng oai vệ lắm. ASEAN có thể kiêu hãnh với một đội quân bao gồm 680 chiến đấu cơ có cánh cố định, 412 tàu tác chiến trên mặt nước, và 8 tàu ngầm của tất cả các lực lượng hải quân gộp lại. Những con số này không đủ để đánh bại Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân lớn mạnh, với 2.300 chiến đấu cơ, 65 tầu ngầm, và 256 tàu tác chiến trên mặt nước, nhưng đủ để thực hiện vai trò răn đe nếu có bất cứ một ý thức phòng thủ chung nào hiện hữu. Rất tiếc, ASEAN không phải là NATO: ở Đông Nam Á không nước nào có nghĩa vụ theo quy định của hiệp ước phải hỗ trợ một nước khác trong trường hợp bị tấn công, và chỉ có rất ít nỗ lực thuần bản địa nhằm phối hợp các hoạt động quân sự.

Trở lại phần 4        Xem tiếp phần 6

Tác giả: Dana Dillon
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Hoover Institute, Standford University
[ Đọc Tiếp ]

16 tháng 7, 2011

Phản Công Bắc Kinh Tại Biển Đông (4)

Khi đảng Cộng Sản Trung Quốc chiếm đoạt ngai vàng vào năm 1947 họ đã tìm cách lấy lại quyền kiểm soát tất cả các bờ cõi cũ của đế chế. Học giả nghiên cứu Trung Quốc John K. Fairbank đáng kính mô tả thế giới quan của Trung Quốc bằng những vòng tròn đồng tâm với "Khu Trung Hoa" bao gồm các nước có văn hóa tương tự nằm ở chính giữa, "Khu Nội Á" bao gồm các nước chư hầu nằm quanh rìa lãnh thổ Trung Quốc, và "Khu Ngoại Vi" của các dân tộc man di. Khác với Hàn Quốc, một nước ở trong Khu Trung Hoa, Vương Quốc Kashgar từng là một nước chư hầu thuộc Khu Ngoại Vi. Vương Quốc Kashgar ngày xưa ấy ngày nay đã trở thành một bộ phận của tỉnh mới được đặt tên lại là Tân Cương của Trung Quốc. Mặc dù chính thuộc địa này đã hai lần tuyên bố độc lập để trở thành Cộng Hòa Đông Turkistan (vào năm 1933 và 1944) Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân cũng vẫn cứ "hòa bình giải phóng" quốc gia độc lập này ra khỏi chính tay nó vào năm 1949.

Các hoàng đế Trung Quốc đối đãi với các nước chư hầu của mình cũng giống kiểu các quân vương châu Âu đối đãi với thuộc địa của họ.

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa không đủ sức mạnh để mở rộng ảnh hưởng của mình đến tất cả các nước cựu chư hầu của đế chế. Triều Tiên thoát khỏi số phận của Kashgar là nhờ sự trỗi dậy của đế quốc Nhật Bản. Triều Tiên trở thành bãi chiến trường của hai đế quốc Trung Hoa và Nhật Bản, và Nhật Hoàng đã giành chiến thắng vào năm 1895. Mặc dù sự chiếm đóng của Nhật Bản vẫn còn lưu lại nhiều kỷ niệm đớn đau, niềm an ủi cho người Triều Tiên ngày nay là quá trình thực dân hóa của Nhật Bản và hậu quả của trận Đệ Nhị Thế Chiến đã ngăn cản Trung Quốc thôn tính Triều Tiên như họ đã làm với Đông Turksitan và Tây Tạng.

Luận điểm cho rằng Triều Tiên cũng đã có thể cùng chung số phận với các nước chư hầu cũ của Trung quốc không phải chỉ là suy đoán mà là ý kiến được cân nhắc của Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc. Vào năm 2002, chính phủ Trung Quốc đã phát động một công trình nghiên cứu gọi là Đề Án Đông Bắc. Năm 2004, các nhà nghiên cứu của Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc tham gia đề án này tuyên bố rằng Vương Quốc Cao Câu Lệ thời cổ không phải là một vương quốc độc lập mà chỉ là một tỉnh của Trung Quốc. Cùng năm đó, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã gỡ bỏ tất cả mọi tham chiếu trên trang mạng của mình xác nhận Cao Câu Lệ là một giai đoạn lịch sử của Triều Tiên. Chính phủ Trung Quốc cũng đã chủ trì các công trình nghiên cứu tương tự cho Tân Cương và Tây Tạng dưới các danh xưng tương ứng là Đề Án Tây Bắc và Đề Án Tây Nam. Có lẽ chỉ là vấn đề thời gian trước khi Viện Khoa Học Trung Quốc phát động những đề án nghiên cứu mới về các nước chư hầu cũ của Trung Quốc tại Đông Nam Á.

Đông Nam Á có được nền độc lập đương đại cũng là nhờ vào sự chiếm đóng của ngoại bang. Giữa thế kỷ 17 và 19, các cường quốc châu Âu mở rộng đế chế của mình đến khắp các nước chư hầu của Trung Quốc tại vùng Nam Á và Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam và một số vương quốc trị vì tại các khu vực của Phi Luật Tân và Nam Dương ngày nay. Người châu Âu và Nhật Bản đã tước đoạt các quốc gia này từ trong tay hoàng đế Trung Quốc yếu kém bằng cái mà người Trung Quốc ngày nay chế nhạo là "các điều ước bất bình đẳng" và họ đã biến thuộc địa của Trung Quốc thành thuộc địa của châu Âu. Sau khi đế quốc Nhật Bản bị tiêu diệt trong Đệ Nhị Thế Chiến và các đế quốc châu Âu rút khỏi châu Á, di sản quan trọng nhất mà sự chiếm đóng của họ còn lưu lại là khái niệm quốc gia độc lập và có chủ quyền lãnh thổ. Trung Quốc đã quá yếu kém không thể tái khẳng định quyền kiểm soát các quốc gia chư hầu cũ trước sự chống đối của Hoa Kỳ và châu Âu, và những quốc gia mới đã được thiết lập dựa trên khuôn mẫu biên giới của các thuộc địa cũ đã được giải phóng khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc, ít nhất là tạm thời.

Trung Quốc chẳng màng đếm xỉa đến các điều ước đã ký và đem những mối quan hệ triều cống của thời tiền thực dân ra làm căn cứ cho các đòi hỏi chủ quyền hiện thời của mình.

Trong quá trình theo đuổi tham vọng của mình, Bắc Kinh chẳng màng đếm xỉa đến "các điều ước bất bình đẳng" đã thỏa thuận với Nhật Bản và các cường quốc châu Âu và đem những mối quan hệ triều cống của thời tiền thực dân ra làm căn cứ cho các đòi hỏi chủ quyền hiện thời của mình. Ví dụ, từ 1992 đến 2000 Trung Quốc và Việt Nam đã tiến hành đàm phán để phân định biên giới biển trên Vịnh Bắc Bộ. Đòi hỏi chủ quyền của Việt Nam trên Vịnh này căn cứ vào một hiệp ước do Pháp và Trung Quốc ký kết vào năm 1887 để thiết lập biên giới hiện đại của Việt Nam. Nhưng Trung Quốc không thừa nhận giá trị pháp lý của hiệp ước đó hoặc những tuyên bố lịch sử của Việt Nam. Rốt cuộc một hiệp ước cũng đã được thỏa thuận, nhưng rõ ràng là quá bất công cho Việt Nam nên Hà Nội đã cố giấu nhẹm nội dung của nó trong nhiều năm. Cuối cùng một số điều khoản bị rò rỉ ra ngoài, khích động nhiệt tình dân tộc và đe dọa sự an toàn của chính phủ Việt Nam.

Vì biên giới của mỗi quốc gia ở Đông Nam Á đều bắt nguồn từ các điều ước và hiệp định ký kết từ thời thực dân (kể cả Thái Lan, một nước chẳng bao giờ là thuộc địa của châu Âu nhưng đã ký kết một số điều ước biên giới với các đế quốc châu Âu), nên kinh nghiệm của Việt Nam cần được xem như là một cảnh báo cho bất cứ quốc gia ASEAN nào muốn tiến hành đàm phán song phương với Trung Quốc. Tuy vậy nhưng chẳng bao lâu sau khi Việt Nam hoàn tất các điều ước biên giới của mình, Tổng Thống Gloria Macapagal Arroyo của Phi Luật Tân đã ký kết một hiệp định khai thác dầu lửa với Trung Quốc vào năm 2004. Giống như Việt Nam, bà ta cũng đã cố giấu nhẹm nội dung nhưng không thành công. Phục Lục "A" trước kia được giữ bí mật cho thấy rằng các đường ranh phân định biên giới bao gồm nhiều diện tích lớn lao trên khu vực EEZ của Phi Luật Tân. Trong tổng số gần 150.000 kilômét vuông bao gồm trong hiệp định, khoảng 24.000 kilômét vuông thuộc về lãnh hải trước đây chỉ riêng Phi Luật Tân tuyên bố có chủ quyền. Khi những điều khoản của hiệp định này cuối cùng bị phơi bày, một lần nữa nhiệt tình dân tộc lại được khích động. Amado Macasaet, người phát hành tạp chí Malaya nổi tiếng và có uy tín tại Phi Luật Tân, đã vượt xa tới mức tuyên bố rằng Tổng Thống Arroyo phải bị buộc tội phản quốc vì đã ký kết các hiệp định mà ông cho là được thực hiện để đổi lấy những khoản tiền vay "do hối lộ và tham nhũng trông nom." Sau đó, ngay cả cựu Tổng Thống Marcos đã bị lật đổ trước đây cũng được ưa chuộng hơn bà Arroyo.

Đối với các thuộc địa cũ của Trung Quốc, chẳng có lắm lý do để tin rằng xoa dịu Trung Quốc tại Biển Đông sẽ thỏa mãn cơn thèm khát lãnh thổ hay bá quyền của nó. Trong trật tự thế giới kiểu Trung Quốc, Trung Quốc không phải một quốc gia trong cộng đồng mà là một nước có nền văn minh cổ xưa nhất trong số những quốc gia mới nổi lên. Chủ quyền của bất cứ quốc gia nào cuối cùng cũng phải cậy vào Trung Quốc và mức độ độc lập của họ tùy thuộc vào việc họ đánh giá "lợi ích cốt lõi" của Bắc Kinh như thế nào. Trong khi khẳng định "chủ quyền không thể tranh cãi" của mình trên Biển Đông, Bắc Kinh đang đặt ra những mốc giới hạn như thể để xác quyết rằng: "Chúng ta có thể giải quyết vấn đề này bằng phương thức dễ dàng, hay bằng phương thức khó khăn, nhưng nó phải là phương thức của Trung Quốc."

Trở lại phần 3            Xem tiếp phần 5

Tác giả: Dana Dillon
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Hoover Institute, Standford University

[ Đọc Tiếp ]

Phản Công Bắc Kinh Tại Biển Đông (3)

Đòi hòi của Trung Quốc mạnh cỡ nào? Vào thế kỷ thứ 9, một chiếc thuyền buôn của người Ả Rập bị đắm ngoài khơi đảo Belitung, tại vùng biển thuộc Nam Dương bây giờ, trong hải vực phía nam của Biển Đông. Chiếc thuyền buồm chở đầy 60.000 tạo tác bằng vàng, bạc, và sành sứ tinh xảo này hiển nhiên là đã xuất phát từ thành phố cảng Quảng Châu ở miền nam Trung Quốc và đang trên đường đi đến các thị trường Đông Nam Á. Nó được ngư dân Nam Dương khám phá vào năm 1998 và hiện nay được coi là một trong những phát hiện quan trọng nhất của ngành khảo cổ hải dương.

Tàn hài tại Belitung này không phải là tàu buôn của Trung Quốc (vào thời nhà Đường, Trung Quốc chưa có một nền văn hóa hàng hải hữu hiệu), nhưng nó là biểu tượng của ý thức hệ Đại Hán mới nhằm biểu dương tính trác việt của Trung Quốc tại Đông Á. Đòi hỏi chủ quyền tại Biển Đông của chính phủ Trung Quốc một phần là dựa vào các di tích, các đồng tiền kim loại, các mảnh sành sứ cổ xưa, cũng như các vật phẩm tương tự được vương vãi khắp các đảo nhỏ của Biển Đông. Thực tế những tạo tác này chắc chắn không phải là do thủy thủ Trung Quốc để lại dường như chẳng có ảnh hưởng gì đối với những đòi hỏi kỳ quặc của Bắc Kinh.

Trung Quốc cũng viện dẫn nhiều loại văn bản tồn tại hơn cả 2.000 năm về trước nhưng có nội dung mơ hồ để biện minh cho đòi hỏi chủ quyền trên Biển Đông của mình.

Bắc Kinh cũng chẳng thể chứng minh được rằng người Trung Quốc đã từng thường trú tại Hoàng Sa và Trường Sa, vì đây là các quần đảo không thể cư trú. Nhiều hòn đảo bị ngập nước thường xuyên hoặc gián đoạn. Những nơi hầu như khô ráo thì lại thiếu nguồn nước uống, và các địa mạo thấp này theo chu kỳ lại phải trơ thân chịu đựng các trận gió mùa. Ngày nay, nhân số duy nhất của các hải đảo và các rặng san hô này là những người lính đồn trú được các chính phủ liên đới của họ duy trì bằng những phí tổn kếch xù cũng như bằng mối nguy hiểm lớn lao cho chính bản thân họ. Tuyệt nhiên không có cách nào để có thể nói rằng những hòn đảo này có "một đời sống kinh tế riêng" và do đó không có khả năng cấu tạo nên những khu vực EEZ cho chính bản thân chúng theo Điều 121 của UNCLOS.

Trong nỗ lực gom góp tài liệu để chứng minh đòi hỏi chủ quyền của mình trên Biển Đông, Trung Quốc cũng viện dẫn nhiều loại văn bản lịch sử đã tồn tại từ hơn 2.000 năm trước nhưng nội dung mơ hồ, đầy nghi vấn, và chẳng có liên quan gì đến luận điểm. Chắc chắn rằng ngư dân và các nhà thám hiển Trung Quốc đã từng dương buồm trên Biển Đông cả 2.000 năm, và có người đã ghi lại kỳ công của mình, nhưng một điều cũng hiển nhiên không kém là người Trung Quốc theo truyền thống luôn luôn cho rằng đảo Hải Nam là tiền đồn cực nam của nền văn minh Trung Hoa, chắc chắn là cho đến cuối thế kỷ 19.

Những kỷ lục xưa cổ của Trung Quốc không phủ nhận chủ quyền của Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, Brunei, hay Nam Dương. Có nhiều bằng chứng khảo cổ học cho thấy các dân tộc của vùng Đông Nam Á ngày nay đã từng sinh sống trên những quần đảo đó trước khi Trung Quốc có sử viết rất lâu. Nhiều đợt người di cư đã đặt chân đến các quần đảo Phi Luật Tân và Nam Dương cả 250.000 năm về trước. Những dân tộc sơ kỳ này đã dương buồm hoặc chèo thuyền vượt Biển Đông để đến những nơi mà con cháu họ đang sinh sống ngày nay. Mặc dù hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa quá nhỏ bé không thể làm nơi thường trú nhưng các dân tộc của tất cả các quốc gia duyên hải đã đánh bắt hải sản và khai thác kinh tế tại đó trước khi Trung Quốc ra đời. 

Đối với các nước ven bờ Biển Đông, đòi hỏi của Trung Quốc tương tự như chuyện một gã láng giềng của bạn tuyên bố rằng toàn bộ con đường trước nhà bạn là tài sản riêng của cá nhân hắn. Hơn thế nữa, hắn còn cho rằng vỉa hè, lối vào ga-ra, và sân trước tính lên tới tận bậc thềm nhà bạn cũng là của hắn nốt. Đám bảo vệ có vũ trang của hắn đậu xe trên lối vào ga-ra của bạn và hắn vào vườn nhà bạn ngắt hoa mang về. Nếu bạn hoặc láng giềng của bạn phản đối thì hắn phủ nhận giá trị pháp lý của sản quyền mà bạn sở hữu và không chịu ra tòa để giải quyết. Nếu ai khăng khăng đòi hỏi chủ quyền tài sản thì đám bảo vệ của hắn sẽ đập cho một trận.

Những Viễn Tưởng Đối Kháng

Cộng đồng quốc tế, dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ, đang theo đuổi một viễn tưởng về tương lai của Đông Nam Á và một biện pháp giải quyết tranh chấp tại Biển Đông mang tính đối kháng với thế giới quan của Trung Quốc. Viễn tưởng của thế giới về cộng đồng quốc gia dân tộc là một viễn tưởng dựa trên nguyên tắc quốc gia độc lập có chủ quyền lãnh thổ của mô thức Westphalia. Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Công Ước LHQ Về Luật Biển là những biểu hiện của mô thức đó. Trái lại, viễn tưởng của Trung Quốc hướng về một trật tự thế giới kiểu Trung Quốc, một khuôn mặt mới của hệ thống triều cống cổ xưa của Trung Quốc trong đó Trung Quốc là trung tâm quyền lực và Bắc Kinh ngự trị tại cực điểm của nền chính trị toàn cầu.

Các quốc gia Đông Nam Á đã tiếp nhận mô thức Westphalia cho mình và thành lập ASEAN để tạo dựng một cơ chế rõ rệt cho việc bảo vệ độc lập và chủ quyền của các nước hội viên. Tuy nhiên, hệ thống triều cống là một bộ phận quen thuộc trong lịch sử Đông Nam Á và nó đã được gánh chịu mặc dù họ phải trả giá hy sinh độc lập, đặc biệt là để thay thế cho việc đối đầu với sức mạnh quân sự của Trung Quốc.

Trật tự thế giới kiểu Trung Quốc. Cơ chế của hệ thống triều cống thường được miêu tả là tương đối vô hại. Các nước chư hầu nạp cống phẩm, các vua chúa hoặc sứ thần của họ đến làm lễ khấu đầu trước mặt hoàng đế Trung Quốc để thừa nhận quyền uy tối thượng của thiên tử, và đổi lại họ được ban bố nhiều tặng phẩm quí giá và nhiều đặc quyền mậu dịch có lợi. Theo các nhà sử học tán thành quan điểm về hệ thống triều cống này, các hoàng đế Trung Quốc ít khi can thiệp vào nội bộ của quốc gia chư hầu và không có tham vọng chiếm đoạt lãnh thổ.

Trong thực tế, các hoàng đế Trung Quốc đối đãi với các nước chư hầu của mình cũng giống kiểu các quân vương châu Âu đối đãi với thuộc địa của họ: Hoàng đế sẽ không ngần ngại sử dụng vũ lực quân sự để bảo vệ tài sản của mình. Ví dụ, vào thế kỷ 15, một ông vua chư hầu của Trung Quốc tại đảo Java của Nam Dương đã giết chết các sứ thần do hoàng đế Trung Quốc phái đến để chính thức làm lễ tấn phong cho ông "vua" tự xưng tại thuộc địa Palembang của Trung Quốc, một thuộc địa trước đó đã thần phục Java. Để trả đũa, hoàng đế Trung Quốc phái một hạm đội hải quân lớn đến để truyền thông điệp: "Nhà ngươi phải lập tức dâng nộp 60.000 lượng vàng để chuộc tội thì mới có thể bảo toàn bờ cõi và thần dân. Nếu trái lệnh, ta không thể ngăn cản quân đội ta kéo sang trừng phạt nhà ngươi."


 Trở lại phần 2            Xem tiếp phần 4

Tác giả: Dana Dillon
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Hoover Institute, Standford University
[ Đọc Tiếp ]

12 tháng 7, 2011

Phản Công Bắc Kinh Tại Biển Đông (2)

Vấn Đề Biển Đông

Sáu quốc gia đòi hỏi chủ quyền trên các hải đảo của Biển Đông là: Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Cộng Hòa Trung Hoa (Đài Loan), Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, và Brunei. Trung Cộng và Đài Loan (hai chính phủ đối đầu của "Trung Quốc") đòi hỏi chủ quyền tại Biển Đông dựa trên danh nghĩa của các tạo tác văn hóa, ám thị văn chương mơ hồ, và hành vi chiếm cứ trắng trợn. Việt Nam cũng đòi hỏi chủ quyền trên tất cả các hải đảo tại Biển Đông, phần lớn là dựa vào cứ liệu lịch sử, hệ quả của việc Nhật Bản từ bỏ chủ quyền trên các tiểu đảo tại Biển Đông trong thời hậu chiến, và quyền thừa kế di sản thông qua các chứng thư biểu thị chủ quyền trên một số tiểu đảo quan trọng tại Biển Đông do thuộc địa Pháp để lại. Phi Luật Tân, Mã Lai, và Brunei đòi hỏi chủ quyền trên tất cả hoặc bộ phận khu vực lưỡi liềm ở phía nam quần đảo Trường Sa, phần lớn là dựa vào Vùng Đặc Quyền Kinh Tế (EEZ) và thềm lục địa tương ứng của mỗi nước. Theo UNCLOS, khu vực EEZ của một quốc gia trải rộng ra khơi 200 hải lý tính từ đường nước cạn tại bờ biển của quốc gia đó. Bản đồ Biển Đông do Trung Quốc xuất bản triển hiện một đường ranh gián đoạn vươn ra đến tận khu vực EEZ của đảo Natuna trên lãnh thổ Nam Dương, do đó có khả năng gia tăng con số các đối tượng tranh chấp lên bảy nước.

Vấn đề này không phải là chuyện pháp lý bí ẩn mà là một mối đe dọa nguy hiểm và gần kề đối với nền kinh tế hoàn cầu cũng như hệ sinh thái của khu vực. Những hải tuyến giao thông trên Biển Đông nối liền châu Âu và châu Á, biến vùng biển này thành một thủy lộ tấp nập nhất thế giới. Gần phân nửa khối lượng vận tải đường biển của thế giới và phần lớn nguồn cung ứng dầu hỏa cho vùng đông bắc Á xuất phát từ Trung Đông đi qua thủy lộ này. Biển  Đông còn dồi dào nguồn hydro-carbon dưới nhiều dạng khác nhau, và việc khai thác toàn bộ những nguồn tài nguyên này đang bị cản trở vì tình trạng biên giới chưa được giải quyết và những hăm he đe dọa quân sự trắng trợn. Cuối cùng, do việc đánh bắt quá mức nên tổng lượng thu hoạch hải sản sút giảm đáng kể, khiến ngư dân phải sử dụng nhiều kỹ thuật táo bạo hơn. Không có một thỏa thuận đa phương nhằm quy định việc đánh bắt trên Biển Đông, nền công nghiệp đánh cá và hệ sinh thái biển đang nhanh chóng tiếp cận hiểm họa.

Những cuộc tranh chấp trên Biển Đông không phải là chuyện pháp lý bí ẩn mà là những mối đe dọa nguy hiểm và gần kề đối với nền kinh tế hoàn cầu cũng như hệ sinh thái của khu vực.

Đòi hỏi của Trung Quốc. Tất cả các nước tranh chấp đều biện minh cho đòi hỏi lãnh hải của họ bằng cách sử dụng các định nghĩa có tầm diễn giải rộng rãi trong các điều khoản của UNCLOS. Tuy nhiên, chỉ riêng Trung Quốc là nước phô diễn một hỗn hợp bao gồm các tuyên bố đòi hỏi chủ quyền có phạm vi rộng lớn; sức mạnh quân sự, chính trị, và kinh tế; một lập trường ngoại giao không nhân nhượng; và một thái độ hung hăng được bộc lộ rõ ràng trong việc mưu cầu những mục tiêu của mình. Sự kết hợp lạ đời của những đặc trưng này đưa Trung Quốc lên địa vị đấu thủ quan trọng nhất trong việc giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ nhưng đồng thời lại biến nó thành chướng ngại lớn nhất trong việc thực thi điều đó.

Khi thương thảo chuyển sang lãnh vực ngoại giao và một biện pháp giải quyết tranh chấp bằng đàm phán, Trung Quốc nằng nặc nhắc nhở các quốc gia tranh chấp khác rằng Biển Đông là lãnh thổ thuộc chủ quyền của Trung Quốc và từ chối đàm phán trừ phi họ thừa nhận chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc. Cho đến hiện tại, chiến thuật của Trung Quốc vẫn là chỉ tham gia đàm phán song phương và tránh né việc phân xử khách quan thông qua thủ tục của UNCLOS hoặc bất cứ đối tượng ngoại cuộc nào khác. Thêm vào đó, Trung Quốc đã đưa ra nhiều tuyên bố và cung cấp nhiều định nghĩa có tầm diễn giải rộng rãi khiến tiến trình giải quyết trở nên cực kỳ phức tạp và thúc đẩy Trung Quốc lao vào con đường đụng đầu với phần thế giới hàng hải còn lại.

Thềm lục địa và tính bất thực dụng của việc vẽ ranh giới bờ biển cho các nước có bờ biển phức tạp và lõm sâu như Na Uy, và các quốc gia quần đảo như Phi Luật Tân hoặc Nam Dương, đã được thừa nhận trong các điều khoản của UNCLOS như Điều 7 ("Đường cơ sở thẳng"), Điều 47 ("Đường cơ sở quần đảo"), và Điều 76 và 77 ("Thềm lục địa"). Những điều khoản này cho phép các nước vạch đường biên giới thẳng qua các hải đảo và địa mạo phức tạp hoặc nằm kề cận nhau ở ven biển nếu chúng không gây trở ngại cho quyền tự do hàng hải theo thông lệ. Nhưng Trung Quốc lại nới rộng những định nghĩa của các điều khoản này bằng cách áp dụng chúng vào các hải đảo và địa mạo ven biển mà họ đòi chủ quyền.

Ủy Ban Thường Vụ của Đại Hội Đại Biểu Nhân Dân Toàn Quốc [Quốc Hội Trung Quốc] thông qua "Luật Lãnh Hải Và Khu Vực Tiếp Giáp" (Luật Lãnh Hải) vào ngày 25 tháng 2 năm 1992. Đạo luật này không chính xác nêu rõ chi tiết về đòi hỏi lãnh thổ của Trung Quốc nhưng nó khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hơn nữa, Trung Quốc đã công bố bản đồ xác định chủ quyền lãnh hải bằng một đường vòng bao quanh toàn bộ Biển Đông từ đảo Hải Nam xuống tận đảo Natuna của Nam Dương. Năm 1993, bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc trấn an người đồng nhiệm của mình tại Nam Dương bằng miệng rằng hòn đảo Natuna có mật độ dân số cao và quan trọng về mặt kinh tế này không nằm trong đòi hỏi của Trung Quốc, nhưng cho đến nay Bắc Kinh vẫn chưa chính thức xác nhận tuyên bố phi chính thức đó.

Theo UNCLOS và thông lệ quốc tế, "lãnh hải" là vùng biển trải rộng ra khơi 12 hải lý tình từ đường nước cạn dọc theo bờ biển của một quốc gia. Nhưng khi ký kết UNCLOS, trong những tuyên bố đính kèm, Trung Quốc lại đơn phương đề xuất những định nghĩa về lãnh hải và quyền lợi của các quốc gia duyên hải khác hẳn với những điều đã được vạch ra trong UNCLOS. Cùng với những lập luận khác, Trung Quốc đã tuyên bố rằng:
1. Theo các điều khoản của Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển, Công Hòa Nhân Dân Trung Hoa được hưởng chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán trên vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa.

2. Thông qua thương nghị, Công Hòa Nhân Dân Trung Hoa sẽ thực hiện việc phân định ranh giới quyền tài phán trên biển với từng quốc gia có bờ biển đối diện hoặc tiếp giáp với Trung Quốc, dựa trên cơ sở của luật pháp quốc tế và theo nguyên tắc công bằng.

3. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tái khẳng định chủ quyền trên tất cả các đảo và quần đảo liệt kê trong Điều 2 của Luật Lãnh Hải Và Khu Vực Tiếp Giáp được ban hành vào ngày 25 tháng 2 năm 1992 của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.
4. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tái khẳng định rằng những điều khoản của Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển liên quan đến quyền thông hành vô tác hại trên lãnh hải không thể gây tổn thất cho quyền hạn của một quốc gia duyên hải trong việc dựa theo luật lệ của mình để yêu cầu các nước ngoài phải xin phép hoặc thông báo với quốc gia duyên hải trước khi điều động tàu chiến qua lãnh hải của quốc gia duyên hải này.
Những tuyên bố này biến đổi bản chất ý nghĩa của các điều khoản UNCLOS và tương phản rõ rệt với truyền thống luật lệ hải dương. Trung Quốc tuyên bố khu vực EEZ của mình không phải chỉ là ranh giới kinh tế mà còn là lãnh thổ chủ quyền, và như vậy nới rộng biên giới lãnh hải thêm 200 hải lý. Trung Quốc còn tuyên bố rằng những hải đảo không có người ở và các rặng san hô trên Biển Đông cũng là lãnh thổ của mình nên do vậy cũng có khu vực EEZ trải rộng thêm 200 hải lý tính từ mỗi mốc này nữa, và rằng thềm lục địa của Trung Quốc trải rộng ra đến tận bất cứ nơi nào mà Trung Quốc chọn để vạch ranh. Cuối cùng, những tuyên bố này nới rộng thêm đặc quyền của Trung Quốc trong địa vị một quốc gia duyên hải bằng cách kiên trì đòi hỏi các tàu chiến muốn sử dụng quyền thông hành vô tác hại trước hết phải xin phép Trung Quốc, lần nữa đây là một hành động vi phạm cả UNCLOS lẫn truyền thống luật lệ hải dương.

Trung Quốc còn tuyên bố rằng những hải đảo không có người ở và các rặng san hô trên Biển Đông cũng là lãnh thổ của mình nên do vậy cũng có khu vực EEZ

Lập trường của chính phủ Trung Quốc ảnh hưởng trực tiếp đến các nền kinh tế trong vùng, quyền tự do giao thông trên biển và trên không của các đoàn tàu bè và máy bay của mọi nước trên toàn cầu, cũng như các lực lượng hải quân và không quân của Hoa Kỳ. Nếu Trung Quốc được phép thực thi chủ quyền trên Biển Đông thì các thuyền buôn qua lại trên vùng biển này, bất kể là treo cờ của nước nào, đều bắt buộc phải tuân thủ luật lệ của Trung Quốc và phải nộp bất cứ các loại lệ phí, thuế má, hoặc các hạn chế nào khác mà Trung Quốc tùy tiện áp đặt. Hơn nữa, Trung Quốc sẽ chiếm độc quyền khai thác hải sản và khoáng sản trên một vùng biển mà các nước duyên hải khác cậy vào để mưu cầu một phần thu nhập đáng kể từ tài nguyên thiên nhiên cho mình. Cuối cùng, việc Trung Quốc kiên trì đòi hỏi bất cứ tàu chiến nào qua lại trên Biển Đông đều phải xin phép Bắc Kinh trước sẽ vô hiệu hóa quyền thông hành vô tác hại của các tàu chiến ngoại quốc. Hơn nữa, các tàu chiến thực sự qua lại trên vùng lãnh hải này sẽ phải đối đầu với nhiều hạn chế khắt khe do Trung Quốc áp đặt vào hoạt động của chúng.

Những hạn chế này, nếu được áp dụng trên toàn bộ Biển Đông, sẽ nghiêm trọng giới hạn hoạt động của Hải Quân Hoa Kỳ và ngăn cản khả năng của nó trong việc bảo vệ ngành vận tải đường biển của cả Hoa Kỳ lẫn thế giới. Hơn nữa, căn cứ theo lập trường của Trung Quốc thì cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về những hoạt động của máy bay trinh sát EP-3 gần đảo Hải Nam vào tháng 4 năm 2001, những đợt quấy nhiễu hai tàu USNS Impeccable Victorious của Hoa Kỳ vào mùa xuân 2009, vụ va chạm giữa tàu ngầm Trung Quốc và giàn xô-na của tàu USNS John McCain vào tháng 6 năm 2009, cũng như việc phô trương sức mạnh qua các trận diễn tập hải quân tại Hoàng Hải gần đây không phải là những sự cố riêng lẻ mà ngược lại là những chương tiết mới nhất trong chiến dịch khẳng định chủ quyền tại Biển Đông của Trung Quốc và có thể xem như là những hiệp đầu trong trận đấu giằng co đang leo thang giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Trung Quốc còn tuyên bố rằng những hải đảo không có người ở và các rặng san hô trên Biển Đông cũng là lãnh thổ của mình nên do vậy cũng có khu vực EEZ.

Lập trường của chính phủ Trung Quốc ảnh hưởng trực tiếp đến các nền kinh tế trong vùng, quyền tự do giao thông trên biển và trên không của các đoàn tàu bè và máy bay của mọi nước trên toàn cầu, cũng như các lực lượng hải quân và không quân của Hoa Kỳ. Nếu Trung Quốc được phép thực thi chủ quyền trên Biển Đông thì các thuyền buôn qua lại trên vùng biển này, bất kể là treo cờ của nước nào, đều bắt buộc phải tuân thủ luật lệ của Trung Quốc và phải nộp bất cứ các loại lệ phí, thuế má, hoặc các hạn chế nào khác mà Trung Quốc tùy tiện áp đặt. Hơn nữa, Trung Quốc sẽ chiếm độc quyền khai thác hải sản và khoáng sản trên một vùng biển mà các nước duyên hải khác cậy vào để mưu cầu một phần thu nhập đáng kể từ tài nguyên thiên nhiên cho mình. Cuối cùng, việc Trung Quốc kiên trì đòi hỏi bất cứ tàu chiến nào qua lại trên Biển Đông đều phải xin phép Bắc Kinh trước sẽ vô hiệu hóa quyền thông hành vô tác hại của các tàu chiến ngoại quốc. Hơn nữa, các tàu chiến thực sự qua lại trên vùng lãnh hải này sẽ phải đối đầu với nhiều hạn chế khắt khe do Trung Quốc áp đặt vào hoạt động của chúng.

Những hạn chế này, nếu được áp dụng trên toàn bộ Biển Đông, sẽ nghiêm trọng giới hạn hoạt động của Hải Quân Hoa Kỳ và ngăn cản khả năng của nó trong việc bảo vệ ngành vận tải đường biển của cả Hoa Kỳ lẫn thế giới. Hơn nữa, căn cứ theo lập trường của Trung Quốc thì cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về những hoạt động của máy bay trinh sát EP-3 gần đảo Hải Nam vào tháng 4 năm 2001, những đợt quấy nhiễu hai tàu USNS Impeccable Victorious của Hoa Kỳ vào mùa xuân 2009, vụ va chạm giữa tàu ngầm Trung Quốc và giàn xô-na của tàu USNS John McCain vào tháng 6 năm 2009, cũng như việc phô trương sức mạnh qua các trận diễn tập hải quân tại Hoàng Hải gần đây không phải là những sự cố riêng lẻ mà ngược lại là những chương tiết mới nhất trong chiến dịch khẳng định chủ quyền tại Biển Đông của Trung Quốc và có thể xem như là những hiệp đầu trong trận đấu giằng co đang leo thang giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.


Trở lại phần 1          Xem tiếp phần 3

Tác giả: Dana Dillon
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Hoover Institute, Standford University
[ Đọc Tiếp ]

Phản Công Bắc Kinh Tại Biển Đông (1)

Tại sao Hoa Kỳ không thể khoanh tay đứng nhìn Trung Quốc tiến hành tham vọng bành trướng lãnh thổ

Cội nguồn nguy hiểm nhất của tình hình bất ổn tại châu Á là một Trung Quốc đang trỗi dậy để tái khẳng định uy thế của mình, và Biển Đông là nơi mà Trung Quốc có khả năng đối đầu với một nguy cơ xung đột quân sự hơn cả. Trong thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21, những hải vực chẳng mấy khi được bình yên của Biển Đông lại sùng sục bọt sóng vì sức cộng hưởng của các đợt đua tranh diễn tập hải quân và những tràng ngôn luận ba hoa nóng bỏng. Nhiều bình luận gia, chính khách, và tướng lãnh cho rằng Biển Đông sẽ là địa điểm cạnh tranh tương lai giữa các cường quốc.

Suy đoán về những va chạm sắp xảy ra bắt đầu tại Diễn Đàn Khu Vực ASEAN vào tháng bảy năm 2010 khi Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đưa ra lời tuyên bố đã được mong đợi quá lâu về lợi ích của Hoa Kỳ tại Biển Đông. Bà Clinton khẳng định rằng Hoa Kỳ có quyền lợi quốc gia trong lãnh vực tự do hàng hải tại Biển Đông, rằng Hoa Kỳ ủng hộ một tiến trình hợp tác nhằm giải quyết các tranh chấp lãnh thổ tại đó, và rằng Hoa Kỳ ủng hộ bản tuyên bố chung vào năm 2002 giữa Trung Quốc và ASEAN về cách hành xử của hai bên tại Biển Đông.

Bất chấp lời tuyên bố của bà Clinton ủng hộ những thỏa thuận mà chính Trung Quốc đã ký kết với Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN), Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã lớn tiếng phản bác, tuyên bố rằng lời phát biểu của bà bộ trưởng “thực chất là một trận công kích Trung Quốc.” Quân đội Trung Quốc cũng đã lên tiếng phản đối việc “quốc tế hóa” cuộc tranh chấp giữa sáu quốc gia này và ngay sau đó một tuần đã tiến hành một trận diễn tập hải quân mới tại Biển Đông có quy mô lớn lao khác thường.

Chính chủ trương đòi hỏi chủ quyền trên toàn bộ Biển Đông và việc Trung Quốc công khai tuyên bố ý định cưỡng hành chủ quyền đó đã phiến động cuộc đối đầu trên biển cả đang gia tăng cường độ này. Nhưng thái độ xấc xược của Trung Quốc bắt nguồn từ quan điểm cho rằng họ sở hữu ủy quyền lịch sử để thống trị toàn thiên hạ. Nới rộng biên cương ra ngoài Biển Đông thêm một ngàn dặm chỉ là một (trong nhiều) biểu hiện chính sách của viễn tưởng xây dựng một trật tự thế giới mới kiểu Trung Quốc. Nhất quán với ý thức hệ Đại Hán của mình, Bắc Kinh tin tưởng quyền hạn của Trung Quốc đối với những lân bang nhỏ hơn phải bao gồm cả việc quyết định chính sách đối ngoại cho họ. Sau khi bà Clinton thách thức tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ Biển Đông của Trung Quốc, nghe nói rằng ngoại trưởng Trung Quốc đã trừng mắt nhìn một nhà ngoại giao Singapore và trịnh trọng lên giọng, “Trung Quốc là một nước lớn và các quốc gia khác là những nước nhỏ, và đó chỉ là một sự thực.”1 Bộc lộ rõ ràng hơn chủ trương về địa vị của Trung Quốc giữa các quốc gia khác, ngày thứ hai sau đó Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã cho đăng tải tuyên bố rằng “quan điểm của Trung Quốc đại biểu cho ‘những người đồng cư tại Châu Á khác.’”

Nhất quán với ý thức hệ Đại Hán của mình, Bắc Kinh tin tưởng quyền hạn của Trung Quốc đối với những lân bang nhỏ hơn phải bao gồm cả việc quyết định chính sách đối ngoại cho họ.

Những tuyên bố tranh giành lãnh thổ tại Biển Đông đã kéo dài cả mấy chục năm rồi, nhưng ngày nay chính quyền Trung Quốc tràn trề cảm hứng thành tựu và Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân được trang bị dồi dào bằng một ngân sách quân sự có mức tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Có lẽ tuyên bố của bà Clinton đã được kích phát bởi những tuyên bố mà người đồng nhiệm của bà tại Trung Quốc, Đới Bỉnh Quốc, ủy viên Quốc Vụ Viện đặc trách ngoại vụ, đã đề cập trực tiếp với chính bà cũng như đã nhiều lần lặp lại với một số phụ tá Hoa Kỳ rằng thực thi chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông là một “lợi ích cốt lõi” ngang hàng với Đài Loan và Tây Tạng. Trong khi có người cho rằng Đới Bỉnh Quốc đã ngưng sử dụng thuật ngữ “lợi ích cốt lõi” để miêu tả chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc, những nhân vật trong quân đội Trung Quốc vẫn cứ tiếp tục dùng. Vào tháng giêng năm 2011, trang mạng của tờ Nhân Dân Nhật Báo, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đã thực hiện một cuộc thăm dò ý kiến độc giả về vấn đề Biển Đông có phải là “lợi ích cốt lõi” hay không; 97% của gần 4.300 người tham gia trả lời là có.

Ngoại trừ chiến tranh bom đạn, bảo vệ quyền tự do hàng hải trên một tuyến đường biển tấp nập nhất địa cầu đòi hỏi các đối tượng tranh chấp chủ quyền lãnh thổ phải có quyết tâm thiện hữu. Vai trò lãnh đạo và lòng kiên trì của Hoa Kỳ là yếu tố cần thiết để khởi đầu một tiến trình nhằm giải quyết hoặc trung hòa hóa vấn đề. Ngoại giao cứng rắn được hậu thuẫn bằng quyền lực hải quân đáng tín phục và sự lãnh đạo kiên nhẫn có thể tạo thế cân bằng tại khu vực để bảo vệ quyền tự do hàng hải, tính công chính của luật pháp quốc tế, cũng như độc lập và chủ quyền của các quốc gia Đông Nam Á.

Xét từ quan điểm của Hoa Kỳ, giải pháp tệ hại nhất cho cuộc tranh chấp Biển Đông là đơn giản để cho các lân bang ASEAN của Trung Quốc chấp thuận lập trường của Bắc Kinh và để cho toàn bộ Biển Đông trở thành lãnh thổ thuộc chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Lập trường của Bắc Kinh cũng là giải pháp tệ hại nhất cho ASEAN và mọi quốc gia giao thương khác trên trái đất. Nhưng một giải pháp gần như cũng tệ hại không kém là để cho Hoa Kỳ dính líu vào một cuộc đối đầu tay đôi với Trung Quốc mà không có sự cam kết và hỗ trợ vững chắc của các đối tượng tranh chấp khác quanh miền duyên hải này cũng như các đồng minh của Hoa Kỳ tại vùng Á-Thái. Không có sự hỗ trợ của những lực lượng liên minh trong khu vực, Hoa Kỳ sẽ bị vướng mắc trong một chiến dịch viễn chinh ở tận cuối tuyến hậu cần và nằm sâu trong vòng kiểm soát của một đại cường quốc đang trỗi dậy.

Giải pháp lý tưởng là để cho các nước ASEAN đứng lên đương đầu với Trung Quốc và kiên trì đòi hỏi một nghị định đa phương để giải quyết tranh chấp dựa trên các điều khoản của Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển và quy tắc ứng xử theo quy định của Hiệp Ước Thân Hữu Và Thương Mãi mà Trung Quốc đã ký kết vào năm 2002. Giải pháp này không thể thực thi nếu ASEAN không phát triển được các nguồn tài nguyên quân sự, kinh tế, và chính trị để thách thức ảnh hưởng của Trung Quốc. Trong tương lai gần, sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và các cường quốc khác trong khu vực bao gồm Nhật Bản, Ấn Độ, và Úc sẽ là nguồn bảo dưỡng trong khi ASEAN phát triển một khả năng răn đe bản địa. Trong tương lai xa, ASEAN phải tự mình đứng lên đương đầu.

ASEAN sẽ ngần ngại trong việc tiếp nhận sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, nếu sự hỗ trợ này được bày tỏ trên khuông giá của một bộ phận trong chính sách địa-chính-trị chống đối Trung Quốc của một đại cường quốc. Trung Quốc không phải chỉ là lân bang mà còn là nguồn đầu tư, đối tác mậu dịch quan trọng nhất, và có khi lại là đồng minh chính trị của Đông Nam Á. Tuyên bố rằng Trung Quốc là một mối đe dọa và yêu cầu các quốc gia ASEAN tham gia vào một liên minh chống đối Bắc Kinh là một công thức dẫn đến thất bại về mặt chính sách. Thay vào đó, Hoa Kỳ cần phải bày tỏ rõ ràng với các quốc gia châu Á về một viễn tưởng tương phản với ý đồ tái áp đặt quyền bá chủ cổ xưa của Trung Quốc. Viễn tưởng đó cần bao gồm những nguyên tắc truyền thống của phương Tây như tự do thương mãi, độc lập chính trị, và chủ quyền lãnh thổ.

Xem tiếp phần 2

Tác giả: Dana Dillon
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Hoover Institute, Standford University
[ Đọc Tiếp ]

4 tháng 7, 2011

Cách Giải Khai Cuộc "Giang Hồ"

Công Kỳ Vô Bị

 
Một trong những kỹ năng cần thiết của cao thủ cờ tướng là mẫn nhuệ phát hiện nhược điểm của đối thủ và kịp thời tiến hành phương án công kích thích đáng. Nhược điểm của thế Điệp Pháo là tuy nước Pháo 2 bình 8 có thể nhanh chóng chiếm quyền khống chế trên trực tuyến thứ 8 nhưng đồng thời lại tạo thành một lỗ hổng phòng thủ lớn trên hoành tuyến thứ 3. Nếu Xanh có thể kịp thời lấp lỗ hổng này thì "âm mưu" thành công. Đỏ thường bị mắc bẫy vì tật đi cờ theo thói quen, tức là sau Pháo 2 bình 5 thì cứ theo "thông lệ" mà đi tiếp Mã 2 tấn 3 — xét từ góc độ tâm lý học thì đây là kết quả của lối tư duy tập quán hay tư duy định hình. Sau khi thấy rõ nhược điểm của Xanh thì Đỏ lập tức ra đòn trí mạng là Pháo 8 tấn 5 để làm tê liệt khả năng phòng thủ của Xanh ở hoành tuyến thứ 3, không cho Tượng và Mã Xanh tấn lên khu vực nòng Pháo Đỏ. Nhưng để thành công cần phải có sự hậu thuẫn của nước Xa 9 bình 8 nhằm vô hiệu hóa nước Xa 1 tấn 2 (bắt Pháo) của Xanh, bởi vậy Đỏ phải kịp thời đi Mã 8 tấn 7 (chứ không phải Mã 2 tấn 3) để tranh 1 nước tiên tạo cơ hội cho Xa trái nhanh chóng xuất ra trợ chiến. Tóm lại, bí quyết phá giải thế Điệp Pháo là Công Kỳ Vô Bị — khống chế hoành tuyến bỏ ngỏ thứ 3 của Xanh.


Bổng Đả Uyên Ương

Trọng tâm của thế Uyên Ương Pháo là kết hợp 2 pháo tại 2 hoành tuyến 2 và 3 để tùy cơ công kích Xa và cánh phải của Đỏ hoặc vào trung lộ phòng thủ. Một khi Xanh đi Xa 9 tấn 2 giữ Pháo thì ý đồ tạo thế Uyên Ương Pháo đã lộ rõ, bởi vậy Đỏ cần kịp thời bình Pháo vào góc sĩ (Pháo 8 bình 6) để chuẩn bị tấn 6 cản không cho Pháo phải của Xanh chạy sang cặp kè với Pháo trái. Tiếp theo là tấn trung Binh để bức Xanh lên Sĩ (nếu Xanh lên Tượng, Pháo Đỏ thối 1, lời quân). Sau đó lên Mã đội ra Xa ngang tấn công trung lộ và cánh trái của Xanh. Đến đây có thể thấy rõ cả 3 con Xa, Mã, Pháo bên cánh trái của Xanh đều nằm trong vòng kềm tỏa của Đỏ và thế công của Đỏ bắt đầu rất hung hãn. Kế hoạch phản kích của Đỏ hoàn toàn thành công. Tóm lại, bí quyết phá thế Uyên Ương Pháo là Bổng Đả Uyên Ương — dùng Pháo góc sĩ như một cây gậy để tách rời cặp uyên ương.



Tháng 7, 2011
Nam Hải Trường Sơn

Copyright © 2011 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn