Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



27 tháng 11, 2010

Bá Thuật Của Ẩn Dụ (2)

Liệu Tổng Thống Obama có thể thoát khỏi cạm bẫy này không? Để thực hiện được điều đó, ông cần nghiên cứu lỗi lầm mà những tổng thống tiền nhiệm đã vi phạm và học tập gương một ít vị tổng thống đã nỗ lực tránh thoát được đọa đày của ẩn dụ. Và ngài tổng thống cần phải hiểu rõ làm thế nào chúng ta đã đến được đây.

Chuyện tình của Hoa Kỳ và chủ nghĩa phổ cứu, tín niệm đầu tiên của bộ ba ảo tưởng, bắt đầu từ tháng giêng năm 1918 với chương trình hòa bình của Tổng Thống Woodrow Wilson, được mệnh danh là Nguyên Tắc Mười Bốn Điểm: những lý lẽ biện minh quyến rũ thối thúc Hoa Kỳ tham gia “một cuộc chiến để chấm dứt tất cả mọi cuộc chiến” và tạo dựng thế giới phương Tây thành khu vực “an toàn cho chế độ dân chủ.” Những mục đích cao cả này đã hấp dẫn người Hoa Kỳ vì chúng được xem là dấu ấn công nhận tính siêu việt về thể chế của họ. Chúng đủ sức thuyết phục một đất nước Hoa Kỳ vốn theo chủ nghĩa cô lập chịu hy sinh hơn 50,000 nhân mạng trong 19 tháng cuối cùng của cuộc Đại Chiến tại châu Âu. 20 năm sau chiến tranh, khoảng thời gian chứng kiến sự trỗi dậy của chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa quốc xã Đức, và chủ nghĩa quân phiệt Nhật dẫn khởi cuộc Đệ Nhị Thế Chiến, đã chứng minh rằng giấc mơ tạo dựng một nền hòa bình và tự trị phổ quát của Tổng Thống Wilson chỉ là ảo tưởng, và điều đó đã khiến người Hoa Kỳ quay trở về với lớp vỏ bao che của chủ nghĩa cô lập cho đến khi cuộc tấn công Trân Châu Cảng vạch rõ ra rằng nền “an ninh miễn phí” do những đại dương mênh mông và những lân bang yếu kém cung ứng đã không còn khả năng đảm bảo an toàn cho quốc gia của họ nữa.

Tuy nhiên những hy vọng mang tính lý tưởng về một thế giới tốt đẹp hơn của Tổng Thống Wilson đã không hề tan biến đi trên những bãi biển Normandy hoặc trong các hang động ở Iwo Jima. Nếu có một tác động gì đó, thì cuộc Đệ Nhị Thế Chiến chỉ đã củng cố những kỳ vọng hão huyền của người Hoa Kỳ rằng họ có thể giảm thiểu — nếu không phải là kết thúc — những xung đột của nhân loại. Học thuyết Wilson tiếp tục duy trì sức sống trong sự ra đời của tổ chức Liên Hiệp Quốc và trong chiến thắng của thể chế dân chủ ở Đức, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Nam Hàn, Đài Loan, và một số nước khác ở châu Mỹ La-tinh. Nhưng viễn kiến của Tổng Thống Wilson lại được đưa lên địa vị của một học thuyết thiêng liêng đã lừa dối Hoa Kỳ rất nhiều lần. Nôn nóng tin tưởng rằng Đệ Nhị Thế Chiến có thể điều trị được cuồng vọng chém giết của nhiều quốc gia, người Hoa Kỳ khăng khăng xem các nước Đồng Minh — Anh Quốc, Trung Quốc, Liên Xô, và Hoa Kỳ — là bạn bè trường cửu, hợp tác hài hòa để cùng nhau bảo vệ nền hòa bình thời hậu chiến.

Chiến Tranh Lạnh khởi phát đã kết thúc tức tưởi những giấc mơ này. Nhưng tín niệm về sức hấp dẫn không thể kháng cự nổi của các định chế Hoa Kỳ lại thôi thúc mối hy vọng cho rằng trong mỗi người ngoại quốc đều có một người Mỹ chực chờ hiện thân, một thế giới quan đã uốn nắn tư duy Hoa Kỳ không chỉ trong những năm tháng đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản, mà còn kéo dài đến tận những lý luận biện minh cho cuộc chiến ở Iraq của cựu Tổng Thống George W. Bush. Ngày nay, tiên đoán của cựu Tổng Thống Bush cho rằng việc hủy diệt nền độc tài quân sự của Saddam Hussein có thể chuyển hóa Trung Đông trở thành một trung tâm phồn thịnh với những quyền tự do truyền thống kiểu Hoa Kỳ rõ ràng đang chứng thực nó cũng khó nắm bắt giống như chính viễn tưởng hoằng vỹ nguyên thủy của Tổng Thống Wilson. Những chế độ đầy khuyết tật do Mỹ đỡ đầu ở Baghdad — và trong chiều hướng đó, cả ở Kabul nữa — vẫn còn cách xa vời vợi những nền dân chủ hùng mạnh mà cựu Tổng Thống Goerge W. Bush đã kỳ vọng sẽ trở thành ước mơ của toàn khu vực. “Sự sống còn của nền tự do tại đất nước chúng ta càng ngày càng phụ thuộc vào sự thành công của nền tự do ở những quốc gia khác. Niềm hy vọng tuyệt vời nhất cho nền hòa bình trong thế giới của chúng ta chính là sự mở rộng tự do đến tất cả mọi miền trên trái đất,” cựu Tổng Thống Goerge W. Bush phát biểu như thế trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai mang đậm tư tưởng Wilson, mặc dù những nhà lãnh đạo quân sự Hoa Kỳ ở Iraq và Afghanistan đã nỗ lực xê dịch những cột mốc mục đích, hứa hẹn sẽ thiết lập một cách hợp lý những chính phủ thân Hoa Kỳ có đủ khả năng tự đảm đương nền an ninh của mình.

Tuy nhiên, phần lớn mọi chứng cớ đều chỉ đến một tương lai mờ mịt cho cả hai quốc gia này, nơi mà bất ổn chính trị, tinh thần bài Mỹ, và những cuộc đảo chánh quân sự dường như khó lòng biến mất. Có lẽ phải cần 10 hay 20 thậm chí 30 năm bảo hộ của Hoa Kỳ mới có thể mang lại tự do và thịnh vượng cho Iraq và Afghanistan, trong khi đó lòng nhẫn nại của người Hoa Kỳ thì có giới hạn đối với một công trình kiến thiết quốc gia bằng một giá quá đắt không thể chấp nhận được trên cả hai phương diện của cải vật chất lẫn máu xương — và ý thức tập thể của họ về những gì mà quyền lực Hoa Kỳ có thể đạt được trong thực tiễn thông thường lại chính xác hơn những thành viên ưu tú nhất của chính phủ. Họ chưa hề quên cuộc chiến Việt Nam, cho dù, đôi khi giới lãnh đạo của họ có vẻ như đã quên.

Thực vậy, Việt Nam vĩnh viễn là một cạm bẫy dành cho giới lãnh đạo Hoa Kỳ, một cạm bẫy do ảo tưởng trí mạng và ngoan cố thứ hai cài đặt — thất bại trong việc đả kích mọi hành vi hung hăng trên trường quốc tế là đồng nghĩa với nhân nhượng, là quay trở lại vị thế thụ động đã từng thất bại của thập niên 1930. Ảo tưởng này đã nhiều lần dẫn dắt Hoa Kỳ vào những cuộc phiêu lưu quân sự đắt giá và thiếu khôn ngoan. Tuy Winston Churchill đã tỏ ra chính xác một cách kỳ diệu trong nhận định rằng Anh Quốc có quyền chọn lựa giữa chiến tranh và sỉ nhục tại Munich vào năm 1938 và thái độ nhân nhượng của Neville Chamberlain đối với Adolf Hitler sẽ mang lại cả hai điều đó, nhưng sự kiện Munich không phải là một ví dụ loại suy hoàn hảo cho việc giải quyết những xung đột về sau, như chính ông Churchill đã thừa nhận. Theo lời ông giải thích vào năm 1950, “Nhân nhượng không phải là một từ ngữ được nhiều người mến chuộng, nhưng nhân nhượng có vị trí của nó trong tất cả mọi chính sách. Hãy đoan chắc rằng bạn đặt để nó vào đúng chỗ. Nhân nhượng với kẻ yếu. Thách thức với kẻ mạnh.” Nhưng đối với giới diều hâu, mọi chuyện lúc nào cũng là Munich 1938 — bất kể kẻ gây hấn là Saddam Hussein, Slobodan Milosevic, hay là “Bác Sĩ Con” Duvalier — và những tổng thống từ Harry Truman cho đến Goerge W. Bush đều bị ẩn dụ nhân nhượng dẫn đến những phán đoán lầm lạc gây thương tổn cho Hoa Kỳ và hủy hoại sự nghiệp tổng thổng của chính họ.

Trở lại phần (1)      Xem tiếp phần (3)

Tác giả: Robert Dallek
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Nguồn: Foreign Policy, tháng 11, 2010

Copyright © 2010 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

23 tháng 11, 2010

Bá Thuật Của Ẩn Dụ (1)

Ba huyền thoại lịch sử đã dẫn dắt nhiều vị tổng thống Hoa Kỳ vào trong mê lộ gần cả một thế kỷ. Liệu Tổng Thống Obama có đủ khôn ngoan để tránh khỏi lối mòn số phận đó?

Vào năm 1952, nhà sử học Anh Denis William Brogan cho xuất bản một bài báo mẫn nhuệ tuyệt vời về “Ảo Tưởng của Toàn Năng Hoa Kỳ.” Giữa lúc cuộc chiến Triều Tiên đang bùng nổ, ông Brogan không những chỉ bình phẩm về nỗi bức xúc của người Hoa Kỳ vì họ không đủ khả năng thanh toán dứt khoát quân đội Bắc Hàn và Trung Cộng vốn được xem là thấp kém hơn, mà còn lên tiếng cảnh báo về những phiêu lưu bất hạnh được tạo ra bởi Hoa Kỳ giả định sai lầm rằng vị thế siêu cường của mình chắc chắn sẽ mang lại thắng lợi quân sự trong bất cứ xung đột nào mà Hoa Kỳ muốn tham dự. Sử gia Brogan hẳn cũng có thể ung dung mệnh danh bài nghị luận của mình bằng nhan đề “Toàn Năng của Ảo Tưởng Hoa Kỳ” để hồi hưởng âm thanh phê phán của Friedrich Nietzsche đối với những tín đồ chân chính. "So với dối trá," vị triết gia Đức vĩ đại này viết, "tín niệm là những kẻ thù nguy hiểm gấp bội lần của chân lý.”

Sử gia Brogan và triết gia Neitzsche cũng có thể đang đàm luận về khoảng thời gian 100 năm qua của tư duy Hoa Kỳ trong chính sách đối ngoại và những tín niệm — hoặc có thể gọi là những ảo tưởng — đã uốn nắn nó trong suốt quãng đường ấy, xuyên qua chính quyền do các vị tổng thống có thế giới quan và bối cảnh khác biệt lãnh đạo như Woodrow Wilson, Dwight Eisenhower, và George W. Bush.

Hoạt động can thiệp của Hoa Kỳ vào chính sự thế giới trong thế kỷ 20 chắc chắn cũng có rất nhiều điều đáng được tuyên dương như: Chiến thắng Đệ Nhị Thế Chiến, Học Thuyết Truman, Kế Hoạch Marshall, sách lược ngoại giao của Tổng Thống John F. Kennedy trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng hỏa tiển ở Cuba, các hiệp định hòa bình Camp David, Thỏa Ước Kênh Đào Panama, chính sách mở cửa với Trung Quốc của Tổng Thống Richard Nixon, và nỗ lực hòa hoãn với Liên Xô, ở đây chỉ xin đề cập những sự kiện hiển nhiên nhất. Nhưng một cái nhìn toàn diện hơn cần phải bao gồm cả những vấp ngã của nó nữa. Ba ảo tưởng dai dẳng —  một niềm tin sai lạc vào chủ nghĩa phổ cứu, hoặc vào sức mạnh của Hoa Kỳ để chuyển hóa thế giới từ một cộng đồng gồm các quốc gia thù địch, hỗn loạn trở thành những quốc gia khải mông tận hiến cho công cuộc hợp tác hòa bình; một nhu cầu tránh né nỗ lực nhân nhượng với tất cả mọi kẻ thù hoặc để cáo buộc những đàm phán hòa giải với họ là yếu đuối lầm lạc; và niềm tin tưởng vào hiệu năng chắc chắn của sức mạnh quân sự trong việc chế ngự quân thù, bất chấp tất cả mọi khả năng đe dọa Hoa Kỳ của họ — đã khiến Hoa Kỳ hầu như không thể tư duy sáng suốt ngõ hầu tìm ra những phương cách hữu hiệu hơn để giải quyết những vấn nạn đối ngoại của mình. Hãy gọi nó là bá thuật của ẩn dụ: Để thực hiện tất cả mọi kỳ vọng trong việc định hình lịch sử của họ, các tổng thống Hoa Kỳ trong nhiều trường hợp đã trở thành tù nhân của chính nó.

Ngay cả Tổng Thống Barack Obama, vị tổng thống đã mang theo vào tòa Bạch Ốc quan điểm chống chiến tranh Iraq và đã thực thi lời hứa rút quân chiến đấu Hoa Kỳ ra khỏi Iraq mà ông đã tuyên bố từ hồi vận động tranh cử, cũng không thoát khỏi ảnh hưởng của ảo tưởng lịch sử. Làm sao ngài tổng thống có thể thoát khỏi điều đó? Những chính sách đối nội thường là một phần của chính sách đối ngoại cũng giống như những đánh giá về tình hình bên ngoài cương thổ quốc gia. Nhưng Tổng Thống Obama vẫn có thể thành công trong việc chế ngự những áp lực đó. Ngài tổng thống đặc biệt chú ý đến khả năng tận dụng khôn khéo nhất những bài học lịch sử, và điều này rất hiển nhiên đối với tôi sau hai bữa tiệc tối mà tôi và mười sử gia khác đã tham dự cùng tổng thống tại tòa Bạch Ốc trong hai năm qua. Bởi vì, dẫu đang phải đối mặt với nhiều luồng chống đối, Tổng Thống Obama tỏ ra rất hăm hở muốn học hỏi từ chúng tôi cách thức những tổng thống tiền nhiệm đã vượt qua hoàn cảnh của họ để đạt được những thành quả quản trị có tính chuyển hóa.

Những bài học như thế có ảnh hưởng lớn lao tại thời điểm mà Tổng Thống Obama phải đối mặt với quyết định hệ trọng sắp đến của mình là phải hành động như thế nào tại Afghanistan trong lúc ông đang cầu mong rằng Đại Tướng David Petraeus, người hùng của chiến dịch tăng quân tại Iraq, có thể tái lập một kỳ công tương tự trước khi lòng nhẫn nại của công chúng cạn kiệt. Cho tới bây giờ, Tổng Thống Obama đã tránh được cả hai điều: không khư khư ôm chầm lấy cuộc chiến ở Afghanistan và cũng không kêu gọi dứt khoát triệt thoái. Việc ông cam kết tăng thêm 30,000 quân là nhằm trấn an nhóm diều hâu trong giới an ninh quốc gia Hoa Kỳ rằng chính bản thân ông cũng kiên quyết như họ trong việc bảo vệ an toàn cho đất nước khỏi bị tấn công trong tương lai. Đồng thời, việc ngài tổng thống đã hứa sẽ bắt đầu tiến hành kế hoạch triệt thoái quân đội Hoa Kỳ ra khỏi Afghanistan vào tháng 7 năm 2011 cho thấy ông hiểu rõ rằng Afghanistan có nguy cơ trở thành một Việt Nam khác — một cuộc chiến quá tốn kém và không thể chiến thắng mà còn có thể khiến Hoa Kỳ bị sa lầy ở châu Á đến một tương lai vô định. Dĩ nhiên, cũng rất có thể là Tổng Thống nghiêm túc hoài nghi giá trị của việc đưa quân đội Hoa kỳ đến hy sinh tại một vùng đất nghèo đói xa xôi không có một mảy may giá trị chiến lược nào, nhưng đồng thời ông cũng hiểu rõ rằng việc không dưng quay lưng bỏ rơi cuộc chiến nầy cũng có nghĩa là phải đương đầu với những nguy cơ chính trị không thể chấp nhận được, hủy hoại khả năng thực thi một nghị trình đối nội táo bạo được xem là trọng tâm của chính phủ cũng như cơ hội  đắc cử nhiệm kỳ thứ hai của ông.

Giống như Tổng Thống Harry Truman không thể làm ngơ trước những áp lực chính trị từ Nhóm Vận Động Hành Lang Trung Quốc nhằm ủng hộ cho chế độ đang suy vong của Tưởng Giới Thạch chống lại quân cộng sản của Mao Trạch Đông vào giữa thế kỷ trước, Tổng Thống Obama ý thức rất rõ những mối nguy hại chính trị nếu mình tỏ ra không quyết đoán. Vừa rồi, ông John Bolton, đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc của tổng thống tiền nhiệm, đã lên án việc Tổng Thống Obama cho công bố lịch trình rút quân ra khỏi Afghanistan là phát ra “một tín hiệu của sự yếu kém khiến kẻ thù diễn dịch cho là chúng ta đã thất bại.” Cựu Phó Tổng Thống Dick Cheney đã gọi ngài tổng thống là người “chu du khắp thế giới để tỏ lòng hối lỗi.” Chính bản thân cựu Tổng Thống George W. Bush cũng đã diễn trước một màn tấn công tương tự qua bài diễn văn đọc tại Israel vào năm 2008, trong đó ông phê phán Obama và nhiều nhân vật khác đã kêu gọi tiếp hợp với Iran lúc bấy giờ. Ông Bush nói rằng: “Trước đây chúng ta đã từng nghe qua thứ hoang tưởng xuẩn ngốc này. Khi xe tăng của quân Phát-xít tràn vào Hòa Lan năm 1939, một thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đã tuyên bố: ‘Lạy Chúa, giá gì tôi được đàm đạo cùng Hitler, thì những chuyện như thế nầy đâu thể xảy ra.’ Chúng ta có trách nhiệm phải nêu đích danh thực trạng này — sự êm ái giả hiệu của chính sách xuống thang hòa hoãn, đã bị lịch sử bác bỏ nhiều lần.” 

Xem tiếp phần (2)

Tác giả: Robert Dallek
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Nguồn: Foreign Policy, tháng 11, 2010

Copyright © 2010 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Lãnh Đạo Bằng Quyền Lực Dân Sự  (5)

Mục đích căn bản của Kế Hoạch Y Tế Toàn Cầu là chấm dứt tình trạng cô lập và rời rạc trong việc cung ứng dịch vụ chăm nom bằng cách kết hợp những chương trình y tế cá biệt — PEPFAR, PMI, cũng như các chương trình bảo vệ sức khỏe của sản phụ và nhi đồng, kế hoạch gia đình, bệnh nhiệt đới bị lãng quên, và các lãnh vực y tế quan trọng khác — thành một hệ thống chăm nom tổng thể, hợp điệu, và bền vững, do chính bản thân các nước chịu ảnh hưởng nắm vai trò lãnh đạo.

Chương trình Nuôi Sống Tương Lai cũng dựa trên những nguyên tắc tương tự. Xin đơn cử một ví dụ, chính phủ Bangladesh đang phát triển một chiến lược đầu tư an ninh thực phẩm bằng cách trao đổi ý kiến, trong một diễn đàn công cộng, với hơn 500 đại biểu từ xã hội dân sự, giới học thuật, các viện trí khố, và giới tư doanh. Chiến lược này đã được các chuyên gia kỹ thuật độc lập phúc kiểm và đang được các vị lãnh đạo quốc gia và các chuyên gia khác hoàn thiện thêm. Chính phủ Hoa Kỳ đang nỗ lực cộng tác với các chính phủ khác cũng như giới quyên tặng quốc tế nhằm thiết lập một chương trình đầu tư để hỗ trợ chiến lược của Bangladesh.

Đây là hình tượng của quan hệ đối tác trong thực tiễn. Hầu như có thể khẳng định chắc chắn rằng các chính phủ đối tác sẽ chọn lựa phương thức hành động khác với Hoa Kỳ, hoặc có thể họ sẽ vạch ra những ưu tiên dị biệt. Thẩm định và đầu tư vào những chương trình của các chính phủ này có lẽ sẽ mất nhiều thời gian hơn so với việc tự chúng ta cung ứng dịch vụ. Nhưng kết quả hứa hẹn một chiến lược bền vững có khả năng tiếp tục hoạt động hữu hiệu dài lâu hơn, ngay cả sau khi sự hỗ trợ của Hoa Kỳ đã chấm dứt.

Chương trình QDDR cũng tập trung vào phương diện ngoại giao của chính sách phát triển hữu hiệu, đề cao việc thiết lập những liên kết mạnh mẽ và có hệ thống hơn giữa Bộ Ngoại Giao và USAID, tại Hoa Thịnh Đốn cũng như ở hải ngoại.

Ngoại giao có thể hỗ trợ cho chính sách phát triển dưới nhiều dạng thức khác nhau. Nỗ lực ngoại giao quan trọng nhất của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc trong những năm gần đây — tiến trình Đối Thoại Kinh Tế Và Chiến Lược — bao gồm hội thảo cấp cao về các vấn đề phát triển cũng như về ý nghĩa của nỗ lực cá biệt và hợp tác của hai nước tại châu Phi và các nơi khác. Trước khi hội nghị G-8 nhóm họp tại L'Aquila, Ý, vào năm 2009, tiếp hợp cấp cao với các chính phủ đối tác đã giúp Hoa Kỳ thu hoạch được một cam kết quốc tế trị giá 20 tỉ USD nhằm xúc tiến chiến lược an ninh thực phẩm và thiết lập một liên minh các quốc gia muốn đóng góp. Và tại Hội Nghị Thượng Đỉnh Các Nước Châu Mỹ vào năm 2009, Tổng Thống Obama đã phát động chương trình Hợp Tác Khí Hậu Và Năng Lượng Của Các Nước Châu Mỹ, hiệu triệu tất cả các quốc gia có chính phủ dân chủ tại bán cầu này để nỗ lực hướng về mục tiêu chung trong việc tạo dựng những nguồn năng lượng rẻ tiền, sạch sẽ, và có thể tái hồi. Trong chiều hướng này, Hoa Kỳ và Ba Tây hiện đang hỗ trợ 7 nước thiếu thốn năng lượng trong khu vực Ca-ri-bê và Trung Mỹ để họ có thể phát triển những nguồn năng lượng sinh học cho chính mình. Điều này sẽ thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế bền vững và hoạt động hội nhập của khu vực cũng như giảm thiểu tình trạng phụ thuộc vào dầu hỏa nhập khẩu từ Venezuala.

Nhưng ngoại giao và phải triển chỉ có thể tăng viện cho nhau nếu chính phủ Hoa Kỳ cũng  đồng thời chỉnh đốn lại cơ chế hoạt động của mình. Bước đầu tiên là phải vượt qua tệ nạn "thổi ống khói" [xử lý dữ liệu một cách cẩu thả] ở mỗi cơ quan và sử dụng tất cả tài ba và khả năng chuyên môn trong toàn chính phủ liên bang. Kế Hoạch Y Tế Hoàn Cầu, chẳng hạn, được đặt dưới sự chỉ đạo chung của giám đốc USAID, điều phối viên toàn cầu của chương trình AIDS Hoa Kỳ, và giám đốc Trung Tâm Kiểm Soát Và Phòng Ngừa Bệnh Tật. Các cơ quan của họ cùng với Bộ Y Tế Và Phục Vụ Nhân Sinh, Viện Y Tế Quốc Gia, và Binh Đoàn Hòa Bình hợp tác với nhau dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn tổng thể của tôi. Cấu trúc lãnh đạo đặc biệt này tăng cường việc điều phối tại mọi tầng lớp, từ Tòa Bạch Ốc trở xuống.    
                  
Chương trình QDDR cũng kiến nghị việc cải tổ nội bộ USAID và một phần của tiến trình này đã bắt đầu được thực thi. Giám Đốc USAID Rajiv Shah đã đề xuất một phương án năng nổ để xử lý các hoạt động ưu tiên gọi là USAID Tiên Tiến, được thiết kế để thúc đẩy cơ quan này hoạt động hữu hiệu, có trách nhiệm, và minh bạch hơn.

Mục đích của việc cải tổ quy trình cung ứng là xây dựng năng lực địa phương tại các quốc gia mà Hoa Kỳ tham gia hoạt động bằng cách dựa vào tài ba và khả năng chuyên môn của giới tiểu doanh thương và các tổ chức phi chính phủ. Ví dụ, Senegal có hơn 1,400 cái gọi là lều y tế nơi mà cán bộ y tế địa phương do USAID huấn luyện đảm đương công tác trị liệu căn bản và lắm lúc là trị liệu cứu sinh, giảm thiểu phí tổn và đưa đất nước này tiến gần về thời điểm mà sự giúp đỡ của Hoa Kỳ không còn cần thiết nữa.

Trở lại phần (4)      Xem tiếp phần (6)
[ Đọc Tiếp ]

Lãnh Đạo Bằng Quyền Lực Dân Sự (4)

Nhìn về tương lai, khảo sát các lực lượng định hướng nền chính trị hoàn cầu của ngày mai, chúng ta có thể thấy rõ điều kiện vật chất của cuộc sống con người có thể ảnh hưởng đến những mục tiêu an ninh quốc gia Hoa Kỳ như thế nào. Trong khi USAID chỉ đạo công tác phát triển tại hải ngoại, nhân viên Bộ Ngoại Giao—từ quý vị đại sứ cho đến chuyên gia Công Vụ—phải tiếp cận và thành thạo hơn trong các vấn đề phát triển. Vì lý do này, tôi đã ra lệnh tiến hành phúc kiểm các chương trình viện trợ của Hoa Kỳ tại Afghanistan và Pakistan để chúng phù hợp với những mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ và phái hai vị đại sứ có kinh nghiệm đến điều phối hoạt động ngoại viện tại Kabul và Islamabad.

Sách lược tổng hợp này là yếu tố quan kiện trong tiến trình tiếp hợp của Hoa Kỳ tại nhiều khu vực. Ví dụ, tại Mễ Tây Cơ, Hoa Kỳ tiếp tục hỗ trợ nỗ lực chấp hành pháp luật nhằm bắt giữ và truy tố thành viên của các tập đoàn buôn bán ma túy, nhưng Hoa Kỳ cũng đã bắt đầu tiến hành giai đoạn hai của Kế Hoạch Merida, làm việc với các đối tác Mễ Tây Cơ—trong chính phủ, doanh thương, và xã hội dân sự—để tăng cường hệ thống tư pháp và xúc tiến một nền "văn hóa thượng tôn pháp luật" trong các cộng đồng địa phương.

Khi các yếu tố đa dạng của quyền lực dân sự Hoa Kỳ hoạt động chặt chẽ—như tại các đại sứ quán quanh thế giới, và tại Hoa Thịnh Đốn trong những ngày tốt đẹp nhất—tiềm năng ảnh hưởng của một lực lượng phục vụ dân sự toàn cầu triển hiện rõ ràng. Không có gì bảo đảm rằng sách lược tổng hợp này sẽ thực hiện được mọi mục tiêu, đặc biệt là khi phải đương đầu với những thử thách phức tạp và thâm căn cố đế như tình hình tại các nước Haiti, Pakistan, hoặc Yemen. Nhưng đó là sách lược tốt nhất mà chúng ta hiện có, và là sách lược mà chúng ta cần phải đeo đuổi.

Phát Triển Có Tầm Ảnh Hưởng Lớn


Thỉnh thoảng có người chất vấn tôi rằng tại sao phát triển lại cần thiết cho chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và tại sao Hoa Kỳ phải chi tiền giúp đỡ người ngoại quốc trong khi trong nước đang có nhiều thử thách kinh tế. Tuy nghe có vẻ phản trực giác, nhưng câu trả lời là phát triển, nếu thực thi một cách hữu hiệu, là một trong những công cụ tốt nhất để nâng cao mức ổn định và thịnh vượng của Hoa Kỳ. Phát triển có thể tăng cường những nhà nước suy yếu hoặc không hợp cách, hỗ trợ sự trỗi dậy của những đối tác có khả năng đóng góp vào việc giải quyết những vấn đề khu vực và toàn cầu, cũng như xúc tiến dân chủ và nhân quyền.

Đồng thời, một điều quan trọng cần phải thừa nhận là tuy những vấn nạn của thế giới rất lớn lao, nhưng tài nguyên của Hoa Kỳ chỉ hạn hẹp. Trong trọng trách xử lý tiền thuế của người dân Hoa Kỳ, Bộ Ngoại Giao và USAID phải tiến hành hoạt động có tính chất chiến lược trong việc đeo đuổi những nhu cầu cấp thiết nhất cũng như trong việc đề xuất quyết định dựa trên bằng chứng xác thực để đảm bảo rằng đầu tư sẽ mang lại kết quả mong muốn. Và chúng ta phải giữ vững lập trường dài lâu — không những chỉ giải quyết những nhu cầu bức thiết của nhân dân trong hiện tại mà còn phải xây dựng nền tảng cho một tương lai thịnh vượng hơn. Với ý thức này, Chỉ Thị Thực Thi Chính Sách Phát Triển do Tổng Thống Obama ban hành vào tháng 9 vừa qua — chỉ thị đầu tiên của một tổng thống Hoa Kỳ — đề cao nhu cầu nhắm vào các quốc gia có chính phủ biết đảm đương trách nhiệm và có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cũng như chọn lựa và hợp tác với một nhóm ngành nghề nhỏ hơn tại mỗi quốc gia để tạo tầm ảnh hưởng tối đa. Chỉ thị này khẳng định rằng viện trợ phải được điều hợp với mậu dịch, tài chánh, tín dụng đầu tư, và các chính sách kinh tế khác để tăng cường các thị trường đang lên và để củng cố nguồn tăng trưởng kinh tế phổ quát và dài lâu. Tăng trưởng kinh tế là con đường chắc chắn nhất để thoát ly cảnh bần khốn, và nỗ lực nới rộng và tăng cường giai cấp trung sản khắp thế giới sẽ là mấu chốt quan kiện trong việc thiết lập một trật tự quốc tế công bằng và bền vững, một vấn đề hạch tâm trong chiến lược an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.

Chương trình QDDR nhấn mạnh rằng phát triển là một tiến trình tự lực cánh sinh được hỗ trợ nhằm xúc tiến lợi ích và giá trị quan của Hoa Kỳ. Một quốc gia đang phát triển phải gánh vác trọng trách và đưa ra mục tiêu cụ thể để đáp ứng nhu cầu của nhân dân mình. Hoa Kỳ tham gia trong cương vị đối tác, chứ không phải là người đỡ đầu, cho mướn tài nguyên và trí thức chuyên môn, và cuối cùng, sẽ tự kết thúc doanh nghiệp một khi nước chủ nhà đã có khả năng tự duy trì.

Hiện tại, chính phủ Obama đang đưa mô thức hợp tác này vào thực tiễn bằng hai phương án đặc trưng vừa được tuyên bố trong năm qua: Kế Hoạch Y Tế Toàn Cầu và chương trình Nuôi Sống Tương Lai, một bộ phận trong sách lược an ninh thực phẩm toàn cầu có quy mô lớn hơn của chính phủ.

Kế Hoạch Y Tế Toàn Cầu xác nhận rằng tình hình y tế tại nhiều nước đang phát triển đã được cải thiện trong nhiều năm qua, một phần nhờ vào Chương Trình Cấp Cứu AIDS (PEPFAR) và Kế Hoạch Chống Sốt Rét (PMI) do cựu Tổng Thống George W. Bush thành lập, cũng như đóng góp của nhiều quốc gia và tổ chức khác. Nhưng tình trạng đông đúc này không nhất thiết có thể cải thiện kết quả y tế một cách hữu hiệu hoặc có giá trị trường cữu.

Trở lại phần (3)      Xem tiếp phần (5)
[ Đọc Tiếp ]

Lãnh Đạo Bằng Quyền Lực Dân Sự   (3)

Mặc dù ngoại giao truyền thống luôn luôn giữ vai trò chủ yếu trong việc xúc tiến nghị trình của Hoa Kỳ, chỉ đơn thuần dựa vào yếu tố này vẫn không đủ. Hoa Kỳ phải nới rộng phạm vi tiếp hợp để gặp gỡ và tạo ảnh hưởng với nhiều đoàn thể đa dạng hơn nữa bằng cách sử dụng những chiến lược, kỹ năng, và công cụ mới. Để đạt mục đích đó, Bộ Ngoại Giao đang nới rộng quy trình khái niệm về vai trò và trách nhiệm của nhân viên chấp hành ngoại vụ.

Ngành Ngoại Vụ nguyên gốc, như tên gọi gợi ý, bao gồm những nhân viên được huấn luyện để xử lý quan hệ giữa chính phủ Hoa Kỳ và nước ngoài thông qua tham vấn với giới chức đồng nhiệm của các chính phủ đó. Đây là chức năng chính của các đại sứ và đại sứ quán Hoa Kỳ, cũng như nhân viên phục vụ tại Bộ Ngoại Giao. Nhưng bây giờ, tính liên kết toàn cầu càng ngày càng lớn mạnh đòi hỏi chúng ta phải vượt qua các đối tác chính phủ để tiếp hợp trực tiếp với công dân và nới rộng phạm trù của chính sách đối ngoại nhằm quán xuyến thêm những vấn đề trước đây chỉ được hạn chế trong khuôn khổ của chính sách đối nội, chẳng hạn như quy chế kinh tế và môi trường, ma túy và bệnh tật, hoạt động tội phạm có tổ chức, và nạn đói thế giới. Vì những vấn đề này lan tràn qua biên giới quốc gia, những cơ quan xử lý những vấn đề này tại quốc nội bây giờ phải tiến hành nhiều công tác của mình ở hải ngoại, đặt căn cứ hoạt động tại các đại sứ quán và lãnh sự quán. Bởi thế, một vị đại sứ Hoa Kỳ trong năm 2010 không những chịu trách nhiệm quản lý nhân viên dân sự từ Bộ Ngoại Giao và USAID mà còn là vị Tổng Giám Đốc điều hành một phái đoàn đa cơ quan. Và ông (hay bà) ta còn phải thành thạo trong việc giao thiệp với những nhóm cử tọa ngoài chính phủ, chẳng hạn như giới tư doanh và xã hội dân sự.

Hãy thẩm xét đại sứ quán Hoa Kỳ tại Islamabad [thủ đô Pakistan]. Tổng số nhân viên của phái đoàn này  là 800 người, trong đó có khoảng 450 nhà ngoại giao và công chức từ Bộ Ngoại Giao, và khoảng 100 người từ USAID. Phần lớn công tác ở đây bao gồm các hoạt động ngoại giao truyền thống—nhân viên Ngoại Vụ giúp đỡ công dân Hoa Kỳ với các vấn đề du lịch và kinh doanh trong vùng, thị thực nhập cảnh, và tiếp hợp với giới chức dân sự và quân sự đồng nhiệm trong chính phủ Pakistan. Nhưng vị đại sứ Hoa Kỳ ở đó còn là người lãnh đạo điều khiển nhân viên dân sự từ 11 cơ quan liên bang khác nhau, bao gồm các chuyên gia cứu nạn và tái thiết đang giúp đỡ việc tái thiết tại Pakistan sau những cơn lũ lịch sử vào mùa hè vừa qua; các chuyên gia y tế, năng lượng, truyền thông, tài chính, nông nghiệp, và tư pháp; và nhân viên quân sự đang hợp tác với quân đội Pakistan nhằm nâng cao khả năng tác chiến của họ, cũng như hỗ trợ họ, chống phần tử cực đoan bạo hành.

Ngoại giao công cộng phải bắt đầu từ cấp lãnh đạo. Tại Indonesia và Thổ Nhĩ Kỳ, tôi tiến hành hội nghị song phương với quan viên chính phủ, nhưng tôi cũng gặp gỡ các nhà lãnh đạo xã hội dân sự và tham gia với tư cách khách mời trên các tiết mục đàm thoại truyền hình bình dân. Tôi cử hành nhiều buổi hội thảo cộng đồng với nhiều đoàn thể khác nhau tại mọi đại lục mà tôi đã có dịp viếng thăm, như tôi vẫn thường làm trong suốt cuộc đời công vụ của tôi. Những hoạt động công cộng như thế này cũng là một bộ phận trách nhiệm của tôi trong cương vị ngoại trưởng, quan trọng chẳng kém gì việc gặp gỡ tại các bộ ngoại giao nước ngoài, bởi vì sự bền vững trong quan hệ đối tác của Hoa Kỳ sẽ tùy thuộc vào thái độ của nhân dân cũng như chính sách của chính phủ họ.

Tại Hoa Thịnh Đốn, Bộ Ngoại Giao cũng đang hợp lý hóa và hiện đại hóa quy trình khái niệm và thực thi ngoại giao công cộng. Chúng ta đang thoát ly các bục đài truyền thống và thay vào đó đang xây dựng liên kết với công chúng ngoại quốc tại những khu vực trước đây được xem là nằm ngoài tầm với của Hoa Kỳ. Việc đưa khối lượng tài nguyên lớn nhất đến những khu vực mà quan hệ của Hoa Kỳ đã kiên cố và an toàn nhưng lại giảm thiểu nỗ lực xuống mức thấp nhất tại những nơi mà tiếp hợp với công chúng rất cần thiết cho thành công không còn hợp lý nữa.

Chúng ta cũng có thể nâng cao hiệu suất của quyền lực dân sự bằng cách kết nối doanh thương, những nhà từ thiện, và các đoàn thể công dân với chính phủ đối tác để thực thi những công tác mà chính phủ một mình không thể đảm đương. Đặc biệt, kỹ thuật có thể cung cấp cho chúng ta những công cụ tiếp hợp mới. Một thành công lớn lao trong năm nay là mối quan hệ hợp tác được thiết lập hầu như chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ giữa các công ty điện thọai di động của Hoa Kỳ và Haiti, Hội Hồng Thập Tự, các xí nghiệp xã hội, Lực Lượng Tuần Duyên Hoa Kỳ, và cuối cùng là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ nhằm sáng lập một bệ máy sử dụng tin nhắn văn bản để quảng bá vị trí của nạn nhân động đất đang cần cứu nạn. Bộ Ngoại Giao cũng đã phát động chương trình gởi tin nhắn bằng văn bản để quyên góp 10 USD cho Haiti đến Hội Hồng Thập Tự, thu hút sự đóng góp của hơn 30 triệu người Hoa Kỳ. Tại Bộ Ngoại Giao và USAID, chúng tôi tiếp tục phát triển các phương thức mới để tiện dụng 4,6 tỉ máy điện thoại di động trên thế giới nhằm cải thiện đời sống của những người sinh sống tại những vùng hẻo lánh trong hoàn cảnh gian nan.

Những chuyến viếng thăm nước ngoài của các phái đoàn chuyên gia kỹ thuật Hoa Kỳ cũng đã mở ra nhiều con đường đầy hứa hẹn cho việc tạo dựng những mối quan hệ hợp tác cách tân trong các lãnh vực như nông nghiệp và y tế. Chẳng hạn, một chuyến viếng thăm Liên Bang Nga trong khuôn khổ này đã góp phần chuẩn bị cho việc thiết lập một quan hệ hợp tác giữa chính phủ và tư doanh được gọi là "text4baby" ["tin vắn cho em bé"] nhằm cung cấp cho sản phụ và những bà mẹ mới sinh con một chương trình ứng dụng di động để họ có thể tìm kiếm thông tin y tế bằng điện thoại cầm tay và tạo điều kiện cho họ tự theo dõi tiến trình thai nghén của mình.

[ Đọc Tiếp ]

20 tháng 11, 2010

Lãnh Đạo Bằng Quyền Lực Dân Sự  (2)

Tại Hoa Thịnh Đốn, trách nhiệm của tôi trong cương vị bộ trưởng là bảo đảm rằng nhân viên Ngoại Vụ và Công Vụ tại Bộ Ngoại Giao và USAID hợp tác chặt chẽ với nhau cũng như hợp tác chặt chẽ với các cộng sự ở các đơn vị khác trong chính phủ liên bang. Chương trình đối thoại chiến lược giữa Hoa Kỳ và Pakistan bao gồm mười nhóm công tác riêng biệt, dẫn đến sự tham gia của nhiều bộ trưởng nội các và chuyên gia từ nhiều cơ quan trong hai chính phủ. Chương trình đối thoại với Ấn Độ liên kết 22 cơ quan khác nhau; và khi Bộ Trưởng Tài Chánh Timothy Geithner và tôi công du Bắc Kinh vào tháng 5 để tham gia chương trình Đối Thoại Kinh Tế Và Chiến Lược đợt 2, phái đoàn chúng tôi bao gồm nhân viên dân sự từ hơn 30 cơ quan khác nhau.

Nhân viên Ngoại Vụ và  Công Vụ cũng như những người công tác tại Bộ Ngoại Giao và USAID là lực lượng nòng cốt xúc tiến nỗ lực tiếp hợp toàn cầu của chúng ta. Dựa vào nguồn tài năng hiện hữu trong các cơ quan liên bang tại Hoa Kỳ và tiền đồn ở hải ngoại, Hoa Kỳ có thể xây dựng một lực lượng phục vụ dân sự toàn cầu có tầm cỡ và linh hoạt như quân đội Hoa Kỳ. Với nhân viên nội bộ và chuyên gia từ nhiều cơ quan liên bang—bao gồm Bộ ngoại Giao, USAID, Công Ty Thử Thách Thiên Niên Kỷ, Công Ty Đầu Tư Tư Doanh Hải Ngoại, Ngân Hàng Xuất Nhập Khẩu, Bộ Tư Pháp, Bộ Tài Chánh, Bộ Nông Nghiệp, Trung Tâm Kiểm Soát Và Phòng Ngừa Bệnh Tật, Quân Đoàn Hòa Bình, và nhiều cơ quan khác—bộ máy thực thi chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ phải tưởng thưởng hợp tác đồng đội, khuyến khích nỗ lực cộng tác, ủng hộ quy trình luân hoán giữa các cơ quan. Tiếp hợp cần phải tiến xa hơn tương tác giữa chính phủ và chính phủ. Trong thời đại thông tin này, dư luận của công chúng chiếm một vai trò quan trọng hơn thậm chí tại các quốc gia độc tài, và những tác nhân nằm ngoài cơ cấu nhà nước có nhiều khả năng ảnh hưởng các sự kiện đang xảy ra trong hiện tại hơn. Ngày nay, một vị đại sứ Hoa Kỳ không những tạo dựng quan hệ với chính phủ nước chủ nhà mà còn tiếp hợp với nhân dân họ. Chương trình QDDR tán thành chiến lược ngoại giao công cộng mới nhằm đưa hoạt động tiếp hợp với công chúng vào phạm vi trách nhiệm của mỗi nhà ngoại giao, thông qua các buổi hội thảo với thị dân và phỏng vấn với giới truyền thông, tổ chức nới rộng tiếp hợp, tham gia hoạt động của các tỉnh lị và cộng đồng nhỏ hơn. Thực vậy, trong thế kỷ 21 này, đối với một nhà ngoại giao Hoa Kỳ chuyện gặp gỡ bô lão của một bộ lạc ở làng quê cũng thường như việc gặp gỡ đối tác đồng nhiệm của họ tại bộ ngoại của nước chủ nhà, và việc mặc quần áo khuân vác cũng thường như chuyện mặc đồ côm-lê sọc kim.

Những mục tiêu ngoại giao thường được bảo đảm bằng thu hoạch trong lãnh vực phát triển. Việc khôi phục đối thoại trực tiếp giữa Do Thái và Palestine vào mùa hè vừa qua là một công trình ngoại giao tài ba và kiên nghị. Nhưng tiến triển trên bàn hội nghị sẽ được kết nối trực tiếp với tiển triển trong nỗ lực xây dựng những cơ chế vững chắc và ổn định cho một nhà nước Palestine cũng như nỗ lực lo liệu cho Do Thái một nền an ninh cần thiết. Và các mục tiêu phát triển thường được bảo đảm bằng nỗ lực tiếp hợp ngoại giao. Ảnh hưởng của chương trình cứu đói hoàn cầu mang tên Nuôi Sống Tương Lai cũng như Kế Hoạch Y Tế Thế Giới một phần sẽ tùy thuộc vào nỗ lực khuyến dụ các quốc gia đối tác cải tổ chính sách; các Hiệp Ước Thử Thách Thiên Niên Kỷ một phần là sản phẩm của nỗ lực tiếp hợp chính trị bền bỉ được thiết kế để tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển. Ở nhiều nơi, bao gồm Afghanistan và Iraq, nhu cầu hỗ tương chi viện giữa hai chiến lược ngoại giao và phát triển xuất phát từ hiện thực tương tác nhân quả giữa xung đột bạo lực, tình trạng bất ổn định, và hệ thống nhà nước suy yếu.

Một Lực Lượng Dân Sự Toàn Cầu


Hai mẫu tự D trong QDDR [tiêu biểu cho Diplomacy (Ngoại Giao) và Development (Phát Triển)] phản ánh chiều hướng của thế giới mà Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đang ghi nhận trong hiện tại — cũng như hình thái mà nó dự tưởng cho tương lai. Quá trình phúc kiểm nhờ vào trí tuệ và tài năng của nhân viên trong Bộ Ngoại Giao và USAID, những người đã làm việc không mệt mỏi để xây dựng bản thiết kế cho hoạt động cải tổ, dự định sẽ được thực thi trong vòng bốn năm tới và sẽ có ảnh hưởng dài lâu hơn nữa. Chương trình QDDR vừa được khai trương trong năm qua đề ra những phương thức và khuôn mẫu kỹ năng mới cho quan chức ngoại giao và chuyên gia phát triển, xác định thứ tự ưu tiên trong ngân sách, thiết lập quy trình kế hoạch, tu chỉnh chế độ khuyến khích thăng cấp, và kiến nghị cải cách cơ cấu tổ chức. Chương trình này tập trung vào ba lĩnh vực chính: hiện đại hóa và điều phối hoạt động ngoại giao của tất cả các cơ quan trong chính phủ Hoa Kỳ, bảo đảm rằng công tác phát triển tạo dựng được ảnh hưởng bền vững, và thiết lập một kết nối kiên cố hơn giữa hoạt động ngoại giao và phát triển, cũng như điều phối hợp điệu hơn với đối tác trong quân đội, trong những khu vực xung đột và các quốc gia yếu nhược.

Từ nhiều năm qua ngoại giao là thành phần trụ cột trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Ngày nay điều đó vẫn y nhiên như vậy. Tuyệt đại bộ phận công việc của tôi tại Bộ Ngoại Giao bao gồm hoạt động tiếp hợp ngoại giao để giải quyết những thử thách lớn lao trong các vấn đề toàn cầu và khu vực, chẳng hạn như đối phó với tham vọng hạch nhân của Iran, xúc tiến đàm phán giữa Do Thái và Palestine, tăng cường ổn định tại Bán Đảo Triều Tiên, và hợp tác với các chính phủ khác để tiến hành nỗ lực cứu tế khẩn cấp tại Haiti. Và một điều chắc chắn là Tổng Thống Barack Obama và tôi cũng đã xắn tay áo nỗ lực xúc tiến hoạt động ngoại giao truyền thống để hoàn thành một hiệp ước vào phút cuối tại hội nghị Copenhagen về vấn đề biến đổi khí hậu vào tháng 12 năm ngoái. 

Trong những cuộc đối thoại chiến lược hàng năm với một nhóm đối tác chủ yếu—bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nigeria, Pakistan, Nga, và Nam Phi—Hoa Kỳ nhắm vào mục tiêu tiến sâu và nới rộng thêm mối quan hệ với họ và xây dựng một nền tảng kiên cố hơn để giải quyết những vấn đề chung, xúc tiến những lợi ích chung, và xử lý những điều dị biệt. Hoa Kỳ đang đầu tư vào việc tăng cường những kết cấu toàn cầu như nhóm G-20 và những kết cấu khu vực như Tổ Chức Các Quốc Gia Mỹ Châu và Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á. Đây là bộ phận của cam kết xây dựng một cơ chế kiến trúc nhằm xúc tiến công cuộc hợp tác toàn cầu, không những chỉ dành riêng cho các quốc gia Đông và Tây mà còn bao gồm cả những đối tác Bắc và Nam.

Trở lại phần (1)       Xem tiếp phần (3)

Tác giả: Hillary Rodham Clinton
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: Foreign Affairs, Nov/Dec 2010, Vol. 89, Issue 6.
[ Đọc Tiếp ]

17 tháng 11, 2010

Lãnh Đạo Bằng Quyền Lực Dân Sự   (1)

Tái Định Vị Chiến Lược Ngoại Giao Và Phát Triển Của Hoa Kỳ


Thế giới ngày nay là một lò lửa hội tụ đủ loại khiêu chiến đang thử thách vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ. Những vấn đề toàn cầu, từ chủ nghĩa cực đoan bạo hành cho đến tình trạng suy thoái kinh tế lan tràn khắp thế giới, biến đổi khí hậu, và bần khốn, đòi hỏi một biện pháp giải quyết tập thể, dẫu rằng quyền lực trên địa cầu đang trở nên phân tán hơn trước. Những vấn đề này đòi hỏi nhiều nỗ lực hợp tác quốc tế hữu hiệu, dẫu rằng điều này đang trở nên khó thực hiện hơn trước. Những vấn đề này không thể giải quyết trừ phi có một quốc gia nguyện ý đứng ra đảm đương trách nhiệm động viên hành động. Quốc gia đó là Hoa Kỳ.

Tôi bắt đầu nhiệm kỳ Ngoại Trưởng Hoa Kỳ bằng cách nhấn mạnh nhu cầu nâng cao chiến lược ngoại giao và phát triển lên ngang hàng với quốc phòng — một mô thức "quyền lực trí tuệ" trong việc gải quyết những vấn đề toàn cầu. Tuy nhiên, để khiến mô thức này đi đến thành công, quyền lực dân sự Hoa Kỳ cần phải được tăng cường và nới rộng. Như Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert Gates đã nhận định trong tạp chí này, quyền lực dân sự cần phải được đưa vào thế cân bằng hơn với quyền lực quân sự Hoa Kỳ. Trong một bài diễn văn vào hồi tháng 8 vừa qua, ông Gates đã nói rằng "Cần phải cải biến thái độ trong việc thừa nhận vai trò chủ chốt của các cơ quan như Bộ Ngoại Giao và USAID [Cục Phát Triển Quốc Tế Hoa Kỳ, chữ viết tắt của cụm 'the U.S. Agency for International Development'] . . . để những cơ quan này phát huy tác dụng chỉ đạo mà theo tôi chúng cần phải phát huy."

Nỗ lực này đang được tiến hành. Quốc hội đã phê chuẩn ngân sách cho kế hoạch đào tạo thêm 1.108 nhân viên Ngoại Vụ và Công Vụ để tăng cường năng lực của Bộ Ngoại Giao trong việc mưu cầu lợi ích và xúc tiến giá trị quan của Hoa Kỳ. USAID cũng đang tiến hành việc gia tăng gấp đôi tổng số nhân viên phát triển, mướn thêm 1.200 nhân viên Ngoại Vụ có khả năng và kinh nghiệm cần thiết để đối phó với các thử thách đang diễn biến trong lãnh vực phát triển, và sử dụng hữu hiệu hơn đội ngũ nhân viên thuê mướn tại địa phương, những người có tầm hiểu biết sâu rộng về đất nước họ, trong các phái đoàn hải ngoại của chúng ta. Chính phủ Obama đã bắt đầu việc tái thiết USAID để nó trở thành một tổ chức phát triển hàng đầu của thế giới, một tổ chức mang trọng trách bồi dưỡng nguồn tăng trưởng dài lâu và thể chế dân chủ, có bộ phận nghiên cứu riêng, có khả năng đóng góp vào việc soạn thảo chính sách cũng như cải tổ, và sử dụng tiêu chuẩn đo lường để bảo đảm đầu tư của chúng ta có hiệu suất và an toàn.

Nhưng chúng ta cần làm nhiều hơn nữa. Chúng ta không những phải tái thiết — mà còn phải tái tư nghị, tái cải tổ, và tái hiệu chuẩn. Trong những năm làm việc tại Ủy Ban Quân Vụ của Thượng Nghị Viện tôi đã chứng kiến Bộ Quốc Phòng vận dụng chương trình Phúc Kiểm Quốc Phòng Mỗi Bốn Năm để điều chỉnh tài nguyên, chính sách, và chiến lược cho hiện tại — cũng như tương lai — như thế nào. Trong khi đó lại chẳng có cơ chế tương tự nào để hiện đại hóa Bộ Ngoại Giao và USAID. Vào tháng 7 năm 2009, tôi đã phát động chương trình Phúc Kiểm Ngoại Giao và Phát Triển Mỗi Bốn Năm [Quadrennial Diplomacy and Development Review, được viết tắt là QDDR] lần đầu tiên, một chương trình phúc kiểm toàn bộ hoạt động của Bộ Ngoại Giao và USAID để đưa ra kiến nghị cho việc cải thiện trang bị, tài trợ, huấn luyện và tổ chức nội bộ nhằm đáp ứng những nhu cầu ngoại giao và phát triển cấp thiết trước mắt, và bắt đầu kiến thiết nhân sự, cơ cấu, quá trình, và tài nguyên trong hiện tại nhằm giải quyết thử thách của thế giới cho những năm sắp đến.

QDDR không phải chỉ đơn giản là phúc kiểm. Nó còn vạch rõ quy trình điều hợp, hỗ trợ, và tăng viện giữa hai lãnh vực ngoại giao và phát triển. Nó đánh giá những gì đã tiến triển tốt đẹp cũng như đã thất bại trong quá khứ, và dự đoán các chọn lựa chiến lược và nhu cầu tài nguyên cho tương lai. Mặc dù Bộ Ngoại Giao và USAID có những vai trò và nhiệm vụ riêng biệt, nhưng ngoại giao và phát triển thường chồng chéo lên nhau và phải hoạt động ăn khớp với nhau. Những thử thách toàn cầu càng ngày càng đòi hỏi sự kết hợp của hai yếu tố này, tạo nên nhu cầu cần thiết cho một mô thức tổng thể về quyền lực dân sự.

Xem tiếp phần 2

Tác giả: Hillary Rodham Clinton
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: Foreign Affairs, Nov/Dec 2010, Vol. 89, Issue 6.

[ Đọc Tiếp ]

15 tháng 11, 2010

Dạy Cho Trung Quốc Một Bài Học

Vì Sao Phải Dạy Cho Trung Quốc Một Bài Học?


Trung Quốc đang phô bày mọi dấu hiệu của một cường quốc quân sự càng ngày càng tự phụ. Từ khi cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu năm 2008 khẳng định sức mạnh và địa vị kinh tế đang trỗi dậy của Trung Quốc so với Hoa Kỳ, chúng ta đã thấy tận mắt một số hoạt động chứng tỏ Bắc Kinh bắt đầu có hành vi diệu võ dương oai.  

Điều đó bắt đầu từ thái độ của Bắc Kinh đối với vấn đề biến đổi khí hậu tại hội nghị Copenhagen vào tháng 12 năm ngoái và tiếp tục kéo dài với lập trường không chịu nâng cao tiền tệ quá rẻ giá của mình. 

Nhưng sự tự phụ càng ngày càng lớn của Trung Quốc trong lãnh vực quân sự mới là điều đáng lo ngại hơn cả. Những sự cố tranh chấp hải quyền gần đây chứng tỏ Trung Quốc đang phô bày dấu hiệu tự khoe khoang sức mạnh của mình. Giọng điệu của Trung Quốc càng ngày càng the thé trong việc tuyên bố chủ quyền trên các hải đảo và lãnh thổ ngoài khơi đang ở trong tình trạng tranh chấp.

Gần đây nhất, những yêu sách của Bắc Kinh cuối cùng đã đưa đến tuyên bố rằng toàn bộ Biển Đông là một "lợi ích hạch tâm" của Trung Quốc, đưa nó lên địa vị lãnh thổ thông thường chỉ dành riêng cho Đài Loan và Tây Tạng. 

Trong tháng 10, Bắc Kinh đã phản đối kế hoạch diễn tập hải quân của Hoa Kỳ tại Hoàng Hải ngoài bờ biển Nam Hàn. Hoa Thịnh Đốn kịp thời đình hoãn bộ phận diễn tập do hàng không mẫu hạm  nguyên tử USS George Washington chỉ đạo. Quyết định hủy bỏ cuộc diễn tập này rõ ràng là để né tránh các vấn đề xung đột với Trung Quốc trước khi hội nghị thượng đỉnh G20 nhóm họp trong tháng này tại Seoul. Một phát ngôn viên của Ngũ Giác Đài cho hay sự tham gia của hàng không mẫu hạm này "không nhằm mục đích gởi thông điệp đến chính phủ Trung Quốc." Nhiều người băn khoăn chẳng hiểu Hoa Kỳ còn phải  nhân nhượng Trung Quốc đến độ nào nữa.

Trong tháng 9, Bắc Kinh và Đông Kinh bị lôi vào một vụ cãi vã tồi tệ chưa từng thấy trong nhiều năm qua. Sự cố bắt đầu khi Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng của một tàu rà cá Trung Quốc sau khi ông ta cố ý đụng vào hai tàu Tuần Duyên Nhật Bản gần Senkaku, một quần đảo do Nhật Bản quản trị mà người Trung Quốc gọi là Điếu Ngư Đài. Quần đảo này tọa lạc trên một khu vực phong phú ngư sản và gần địa hạt được nghi là có nhiều trầm tích khí đốt tại vùng biển nằm giữa Okinawa và Đài Loan.

Bắc Kinh hung hăng hăm dọa rằng Đông Kinh phải gánh chịu toàn bộ hậu quả cho hành động của mình. Nhật Bản kịp thời phóng thích ông thuyền trưởng, nhưng có nhiều báo cáo cho hay rằng Bắc Kinh lại phái tàu tuần ngư đến đó với mục đích "bảo vệ quyền lợi pháp lý của ngư dân Trung Quốc." Trong khi đó nhiều cuộc biểu tình chống đối được dàn dựng khéo léo tại Trung Quốc, hô hào đả đảo và tẩy chay hàng hóa Nhật Bản. Bắc Kinh còn ra lệnh hạn chế việc xuất khẩu sang Nhật Bản những kim loại đất hiếm, nguyên vật liệu không thể thiếu trong ngành chế tạo thiết bị điện tử cao cấp.

Tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ Biển Đông của Bắc Kinh không phải là điều mới lạ nhưng trong quá khứ họ bỏ tham vọng lãnh thổ qua một bên nhằm ủng hộ cái mà họ kỳ quặc mệnh danh là "một khu vực hòa hài." Một số quốc gia Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam và Phi Luật Tân, cũng đã đưa ra tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông chồng chéo với Trung Quốc. Nhưng trong tháng 7 vừa qua, Ngoại Trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì lại nhắc nhở các nước ASEAN rằng "Trung Quốc là một nước lớn và các quốc gia khác là nhỏ bé, và đó chỉ là một sự thật."

Nhưng sự thực chân chính là Bắc Kinh đang phô bày mọi dấu hiệu hà hiếp Nhật Bản trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ, chẳng hạn, tại quần đảo Senkaku, cũng như bác bỏ bằng cớ đã được quốc tế ghi nhận mà Nam Hàn đưa ra để chứng tỏ rằng Bắc Hàn, đồng minh của Trung Quốc, đã phóng ngư lôi hủy diệt tàu hộ tống Cheonan của Nam Hàn trong tháng 2 vừa qua. Hiện tại, Trung Quốc không những thách thức quyền tự do sử dụng Hoàng Hải của Hoa Kỳ mà còn tỏ ý không muốn tôn trọng quyền tự do hàng hải qua khu vực 200 hải lý (370 km) mà họ tuyên bố sở hữu đặc quyền kinh tế tại Biển Đông cũng như các nơi khác.

Theo quan điểm của tôi, hiện tượng bất đồng ý kiến với Trung Quốc về việc sử dụng thích đáng lãnh vực hải dương sẽ trở thành một thử thách càng ngày càng lớn đối với nền an ninh trong vùng. Thượng tướng Chris Barrie, cựu tổng tư lệnh lực lượng quốc phòng Úc, nhận định rằng "chế độ tự do trên hải vực quốc tế" sẽ kết thúc trong một tương lai rất gần. Vấn đề được đặt ra ở đây là liệu Hoa Kỳ có dám đối đầu với Trung Quốc trong một đụng độ hải quân hay không nếu việc kiểm soát Biển Đông trở thành một vấn đề bất đồng ý kiến nghiêm trọng.

Chẳng còn bao lâu nữa trước khi liên minh hải quân Tây phương tại vùng Á Thái, bao gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc, phải tập trung vào việc đối phó tập thể với lực lượng hải quân đang trỗi dậy của Trung Quốc. Điều này không có nghĩa là bao vây Trung Quốc, nhưng có nghĩa là các lực lượng hải quân của Đồng Minh sẽ bảo đảm rằng Trung Quốc phải tôn trọng luật lệ hải dương quốc tế. Điều đó có nghĩa là một ngày nào đó Trung Quốc cần phải được dạy một bài học quân sự trên biển cả.

Rõ ràng là Bắc Kinh đang vượt quá phạm trù hành xử có thể chấp nhận. Nếu họ cứ tiếp tục hung hăng sử dụng vũ lực, thì tốt nhất là thái độ ngang bướng của họ cần phải được kiềm chế ngay bây giờ chứ không thể đợi chờ cho đến khi họ trở nên lớn mạnh hơn. Bắc Kinh chẳng dấu diếm tham vọng phát triển cái mà họ mệnh danh là "phòng ngự viễn hải" của mình, tức là xây dựng các lực lượng quân sự lớn mạnh có khả năng ngăn chặn hoạt động của Hoa Kỳ tại Eo Biển Đài Loan và có thể dàn quân tại khu vực mà họ gọi là "chuỗi đảo thứ nhất" bao gồm cả Biển Đông.

Sự cộng tác của Trung Quốc dĩ nhiên là quan trọng đối với các thử thách cấp bách nhất trong vùng, bao gồm việc hạn chế khuếch tán hạch nhân và đối phó với Bắc Hàn. Và quan tâm của Trung Quốc trong vấn đề bảo đảm an ninh cho việc nhập khẩu dầu thô là hợp lý, hơn 80% số lượng dầu thô ấy được vận chuyển qua đường Biển Đông.

Nhưng Trung Quốc không được phép khiêu khích trắng trợn và coi thường luật lệ hải dương quốc tế.

Tác giả: Paul Dibb
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: The Australian, 8 tháng 11, 2010

(Paul Dibb, một cựu thứ trưởng quốc phòng Úc, là giáo sư danh dự tại Đại Học Quốc Gia Úc chuyên ngành nghiên cứu chiến lược.)

Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn

[ Đọc Tiếp ]

7 tháng 11, 2010

VN Phản Đối Bản Đồ Của TQ

Ngày 21 tháng 10 vừa qua, dưới sự giám chế của Cục Trắc Hội Quốc Gia, Trung Tâm Tin Tức Địa Lý Cơ Sở Quốc Gia  của Trung Quốc đã khai trương trang mạng Thiên Địa Đồ (天地图, Map World) để cạnh tranh với Google Inc. và Sohu.com Inc. Dịch vụ bản đồ trực tuyến do nhà nước điều hành này đã thu hút sự chú ý của chính phủ Việt Nam khi nó lặp lại tuyên bố chủ quyền lưỡi bò của Trung Quốc tại Biển Đông bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cuối tuần qua, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã lên tiếng phản đối hành động này.

Bà Nguyễn Phương Nga tuyên bố: "Việc làm trên của Cục Đo đạc Bản đồ Quốc gia Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam đối với thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, vi phạm Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, trái với tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông ký giữa ASEAN và Trung Quốc (DOC)."

Bà Nga nói Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc nhanh chóng gỡ bỏ dữ liệu có nội dung vi phạm và "tuân thủ nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước về việc duy trì hòa bình, ổn định, không làm phức tạp hoặc mở rộng tranh chấp ở Biển Đông."

Phía Trung Quốc chưa có phản hồi gì trước tuyên bố của Bộ Ngoại Giao Việt Nam.

Thái độ của Bộ Ngoại Giao Việt Nam là một phản ứng tích cực, kịp thời và việc sử dụng chính thức cụm từ "Biển Đông" để mệnh danh cái mà Trung Quốc gọi là "Hoa Nam Hải" (và thường được dịch sang tiếng Anh một cách thiên vị là "South China Sea") là một điều đáng khen ngợi. Tôi rất bực mình khi các dịch giả Việt Nam hễ thấy cụm từ "South China Sea" là cứ dịch "Biển Hoa Nam" rồi chua thêm trong ngoặc như sau: (Biển Đông). Cách dịch này không những mang tính chất nô lệ về mặt ngôn ngữ mà còn là một biểu hiện thiếu tự tin và nô lệ trên phương diện khái niệm. Đại đa số người Việt mình ai cũng hiểu "Biển Đông" là cái gì. Đó là lịch sử, đó là ngôn từ và niềm tự hào của dân tộc Việt. Vấn đề chính thứ cần phải minh bạch. Ai gọi gì mặc ai, người Việt mình nói chuyện với nhau, như cha ông ta đã làm từ ngàn xưa, phải gọi nó là "Biển Đông" và nếu muốn rõ ràng hơn thì chua thêm là (người Trung Quốc gọi là "Hoa Nam Hải"), chứ không phải ngược lại. 

Tuy nhiên tuyên bố trên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam cũng có điểm đáng chê. Thứ nhất, họ dịch cụm  国家测绘局 Cục Trắc Hội Quốc Gia thành Cục Đo đạc Bản đồ Quốc gia. Trắc 测 có nghĩa là đo lường, hội 绘 có nghĩa là vẽ, hình dung. Trắc hội ở đây có nghĩa là đo lường địa hình rồi vẽ thành bản đồ. Bởi thế dịch đo đạc bản đồ là không đầy đủ và chính xác, hơn thế nữa, đọc kỹ lại có tí buồn cười. Dịch sát nguyên văn thành Cục Trắc Hội Quốc Gia là hay hơn cả, không cần vẽ rắn thêm chân, vẽ rồng cụt đuôi. Thứ hai, theo tuyên bố chính thức của trang mạng Thiên Địa Đồ thì Cục Trắc Hội Quốc Gia chỉ là cơ quan giám chế, tức là cơ quan lãnh đạo "cấp trên" còn cơ quan thực thi mọi hoạt động của nó trên thực tế là Trung Tâm Tin Tức Địa Lý Cơ Sở Quốc Gia 国家基础地理信息中心. Như vậy, qua bản tuyên bố ngắn ngủi này ta có thể thấy rõ kiến thức tiếng Hoa cũng như trình độ tư duy trong lãnh vực này của quan viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam vẫn chưa đạt tiêu chuẩn.

 6.11.2010
Nam Hải Trường Sơn 

Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

3 tháng 11, 2010

Trung Quốc Là Kẻ Thù (1)

BƯỚC NGOẶC LỊCH SỬ: VIỆT NAM XEM TRUNG QUỐC LÀ KẺ THÙ

Trận Như Nguyệt (1077): Lý Thường Kiệt diệt Tống
HÀ NỘI — Cách đây ba tuần, Viện Bảo Tàng Lịch Sử Quân Sự Việt Nam đã khai mạc một kỳ triển lãm [để giới thiệu những trận đánh nổi tiếng trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam]. Ở một bên đại sảnh, những di vật kỷ niệm 25 năm chiến tranh chống Hoa Kỳ và Pháp như thư đầu hàng, ngôn từ trích dẫn của Hồ Chí Minh, lựu đạn, và súng AK-47 được trưng bày dọc theo các bờ tường. Chuyện này chẳng có gì mới lạ.
    Nhưng ở phía bên kia, Viện Bảo Tàng Lịch Sử này đang thực sự làm lịch sử. Gươm giáo, tranh ảnh, và ngôn từ trích dẫn được trưng bày trên các vách tường bên đó mô tả công cuộc đấu tranh chống một kẻ thù khác của Việt Nam: đế quốc Trung Hoa. Những cuộc chiến lịch sử xảy ra vào năm 1077 và 1258 cũng như ở thế kỷ 14 và 18 được diễn giảng chi li tường tận.
    Đặt Trung Quốc ngang hàng với "các nước xâm lược phương Tây" là một đột phá tâm lý đối với quân đội Việt Nam và đó cũng là nguồn tin khiến Bắc Kinh âu lo. Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã cố gắng xây dựng một mối quan hệ đặc biệt với chính phủ cộng sản Việt Nam. Nhưng sự trỗi dậy của Trung Quốc — và thái độ càng ngày càng hung hăng đối với Việt Nam — đã kinh động giới lãnh đạo quốc gia 90 triệu dân này, khiến họ nhìn lại nước láng giềng của mình theo một chiều hướng khác. Bắc Kinh đang đương đầu với nguy cơ đánh mất địa vị đối tác anh em cộng sản ở đây và thay vào đó đang bị đặt vào địa vị cố hữu lâu đời của mình là đế chế phương Bắc đã từng thao túng và làm Việt Nam điêu đứng trong nhiều thế kỷ.
    Chuyển biến nhận thức này đã dẫn dắt Việt Nam tiến bước trên một hành trình phi thường nhằm xây dựng quan hệ hữu nghị với thế giới để ngăn ngừa Trung Quốc. Và kẻ nổi bật nhất trong nhóm bạn thân mới của Việt Nam là Hoa Kỳ, một quốc gia cũng đang háo hức không kém trong việc tìm kiếm đối tác có thể giúp mình đối phó với Bắc Kinh.
    "Có thêm một người bạn mới lúc nào cũng là một điều tốt," Thứ Trưởng Quốc Phòng Nguyễn Chí Vịnh phát biểu trong một cuộc phỏng vấn. "Nếu người bạn đó là cựu thù của chúng tôi thì lại càng tốt hơn."
    Mối quan hệ hữu nghị Việt-Mỹ đang nẩy nở đã được trưng bày hôm thứ 6 khi Ngoại Trưởng Hillary Rodham Clinton đến đây viếng thăm lần thứ hai trong vòng bốn tháng qua. Chưa đầy ba tuần trước, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert M. Gates cũng đã có mặt tại đây. Trong tháng 8 vừa qua, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đã tham gia cuộc đối thoại an ninh đầu tiên với đơn vị đồng cấp tại Hà Nội. Ba tàu hải quân Hoa Kỳ đã đến viếng thăm Việt Nam trong năm qua. Hơn 30 sĩ quan Việt Nam đang tu nghiệp tại các học viện quân sự Hoa Kỳ.
   "Hoa Kỳ đã tiến hành chiến tranh tại Việt Nam để kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc," một cựu công chức cao cấp của Việt Nam nhận định, mặc dù chưa được chính phủ cho phép đối thoại với ký giả. "Bây giờ Hoa Kỳ đang xúc tiến quan hệ hữu nghị với Việt Nam ... cũng để kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc."

Xem tiếp phần (2)

Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Trung Quốc Là Kẻ Thù (2)

Trận Ngọc Hồi-Đống Đa (1789): Tây Sơn diệt Thanh
Việt Nam và Hoa Kỳ đang nỗ lực hoàn tất một hiệp định để tạo điều kiện cho Việt Nam sử dụng kỹ thuật năng lượng hạch nhân của Hoa Kỳ. Các công chức Việt Nam nói rằng điều đó có thể giúp Hà Nội chấm dứt việc lệ thuộc vào Trung Quốc trong lãnh vực điện lực. Trong khi đó quan viên quốc phòng cũng khẳng định rằng họ thiết tha muốn được thu mua kỹ thuật quân sự của Hoa Kỳ, bao gồm thiết bị xô-na [thám hành và trắc cự bằng âm thanh] để theo dõi hoạt động của tàu ngầm Trung Quốc. Hà Nội đang tham gia đàm phán để mua đồ phụ tùng cho phi đội trực thăng UH-1 do Hoa Kỳ chế tạo, một biểu tượng của Chiến Tranh Việt Nam. Và bất chấp áp lực của Trung Quốc, ba công ty dầu khí của Hoa Kỳ đang tiến hành hoạt động thăm dò ngoài khơi hải vực Việt Nam.

Những Mục Tiêu Chung

Chuyến viếng thăm hai ngày của bà Clinton đánh dấu lần đầu tiên Hoa Kỳ tham gia Hội Nghị Thượng Đỉnh Đông Á — một luận đàn thường niên của các quốc gia chủ yếu trong vùng. Trên thực tế, Việt Nam đã thúc đẩy Hoa Kỳ tham gia nhóm này.
    "Việt Nam rất nhiệt tình trong việc xiết chặt quan hệ đối tác với chúng ta," bà Clinton phát biểu trong buổi đàm thoại với sử gia Michael Beschloss tuần qua. "Đây là một cuộc chiến tranh đã khiến hàng vạn người Hoa Kỳ và Việt Nam tử vong, tàn tật, và thọ thương, có tầm ảnh hưởng sâu đậm tại đất nước chúng ta cũng như tại Việt Nam. Ấy vậy nhưng trong hiện tại Việt Nam và Hoa Kỳ đang làm ăn với nhau, đang hợp tác làm ngoại giao, đang tạo dựng mục tiêu chung trong một số vấn đề khu vực và toàn cầu mà cả hai nước cùng quan tâm."
   Bảo Ninh, tác giả cuốn tiểu thuyết mang tựa đề Nỗi Buồn Chiến Tranh dựa trên bối cảnh xung đột và vẫn còn sức thu hút độc giả, khuyên rằng: "Chúng ta nên dành chuyện chiến tranh cho các nhà văn." Bảo Ninh, người lính binh nhì trong thời chiến tranh, lại nói thêm rằng hơn nữa Hoa Kỳ đang được ngưỡng mộ một cách cuồng dại ở đây. "Ngay cả thế hệ tôi cũng yêu chuộng người Hoa Kỳ vô cùng. Nếu bạn thăm dò ý kiến bộ đội, chắc chắn họ vẫn bỏ phiếu cho Hoa Kỳ."
    Một mục tiêu chung mà hai nước đã tạo dựng là bảo đảm không để Trung Quốc thống trị Biển Đông. Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ 1 triệu dặm vuông hải vực, bao gồm những vùng biển trống bao la nằm cách xa cực Nam của Trung Quốc đến cả ngàn dặm, và đã đưa chiếc tàu an ninh hải dương lớn nhất thế giới đến khu vực này để quấy nhiễu ngư dân Việt Nam và các đoàn thăm dò dầu khí. Trong tháng 7, sau khi hội đàm với Việt Nam, bà Clinton đề cập vấn đề này tại một hội nghị các nước Đông Nam Á ở Hà Nội, bác bỏ chủ quyền biển trống của Trung Quốc, và kêu gọi đàm phán đa phương. Mười một nước khác nhất trí đi theo hướng dẫn của Hoa Kỳ. Ngoại Trưởng Trung Quốc, Dương Khiết Trì, rời buổi họp trong bàng hoàng sửng sốt, và trở lại chỉ để nhắc nhở các nước khác rằng họ bé nhỏ và Trung Quốc to lớn.

Trở lại phần (1)   Xem tiếp phần (3)
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Trung Quốc Là Kẻ Thù (3)

Trận Bạch Đằng (1288): Trần Hưng Đạo dẹp Nguyên
Một mục tiêu chung khác sẽ được nêu bật vào ngày thứ 7 khi bà Clinton chủ trì một cuộc hội đàm về Kế Hoạch Hạ Du Sông Mê-kông do Hoa Kỳ khởi xướng, một phần nhằm thúc đẩy Trung Quốc hạn chế số lượng đập nước họ muốn xây dựng trên đoạn sông Mê-kông tại lãnh thổ Trung Quốc khi nó chảy qua đó để xuôi về phương Nam. Tuần trước, nước sông Mê-kông tụt xuống mức thấp nhất kể từ khi có ký lục của sử sách, và các nhà phân tích tại Việt Nam khẳng định rằng đập nước cũng như các công trình thủy lợi và thủy điện tại Trung Quốc là nguyên nhân chính gây ra sự suy giảm lượng nước.

Chiến Lược Phân Nhánh

Công thế mị lực của Việt Nam không phải chỉ đơn thuần dựa vào Hoa Kỳ. Hà Nội còn củng cố quan hệ với  Moscow, người đỡ đầu cũ của mình, và năm ngoái đã ký hợp đồng đặt mua 6 chiếc tàu ngầm lớp-Kilo. Một đối thủ khác của Trung Quốc, Ấn Độ, cũng đang đàm phán để giúp Việt Nam nâng cấp phi đội chiến đấu cơ Mig-21. Pháp, cựu chủ nhân thực dân của Việt Nam, cũng đang tính toán việc bán chiến hạm cho Việt Nam. Việt Nam cũng đã nới rộng vòng tay đón tiếp các cường quốc châu Á khác như Nam Hàn và Nhật Bản, hủy bỏ quy chế thị thực nhập cảnh đối với công dân của các nước này vào 5 năm trước.
    "Việt Nam đang nỗ lực tìm cách báo cho Trung Quốc hay rằng 'Chúng tôi có nhiều bạn bè lớn mạnh,'" theo nhận định của Nayan Chanda, tác giả cuốn Kẻ Thù Anh Em, một tài liệu nghiên cứu quan hệ Việt-Trung kinh điển. "Nhưng đó là một trò chơi tinh tế."
    Thực vậy, ảnh hưởng của Trung Quốc tại Việt Nam vẫn còn rất mãnh liệt. Cải tổ kinh tế của Việt Nam  — được mệnh danh là đổi mới — bắt nguồn từ Trung Quốc, và các cơ cấu công an của Việt Nam đã học hỏi nhiều điều từ các đơn vị đồng cấp tại Trung Quốc về việc duy trì chế độ thống trị độc đảng. Bởi vậy, Hà Nội rất thận trọng trong việc quấy rối Trung Quốc, hay là đừng quấy rối quá mức. Chẳng hạn, tại Viện Bảo Tàng Quân Sự một cuộc chiến chẳng được mảy may đề cập, đó là cuộc xung đột biên giới đẫm máu mà Việt Nam đã đối đầu với Trung Quốc vào năm 1979.
    Cán bộ kiểm duyệt của Việt Nam thường xuyên ngăn cấm việc đăng tải các tin tức chống Trung Quốc. Hôm thứ 5 vừa qua, Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã ra lệnh buộc Vietnamnet, một tờ báo mạng tiên phong tại Việt Nam, phải rút bỏ một bài báo tiên đoán rằng các nước Đông Nam Á sẽ có thái độ cứng rắn đối với Trung Quốc trong các vấn đề tranh chấp hải dương cũng như các lãnh vực khác. Tuy nhiên những chuyện khác vẫn được thông qua, thí dụ như các báo cáo về cuộc vận động kiến nghị do bà Nguyễn Thị Bình, cựu Phó Chủ Tịch Nước và cựu đại biểu của Việt Cộng tại Hội Nghị Hòa Đàm Ba Lê, dẫn đầu nhằm chống đối dự án khai thác quặng bô-xít tại Tây Nguyên với số vốn đầu tư đồ sộ của Trung Quốc.
    "Chúng tôi sống bên cạnh Trung Quốc đã bốn ngàn năm. Chúng tôi không thể chỉ đứng dậy và dọn đi chỗ khác," bà Phạm Chi Lan, một nhà kinh tế thâm niên đang tham gia cuộc vận động kiến nghị đã thu hút hơn ba ngàn người này, phát biểu. "Để tồn tại, đương nhiên chúng tôi cần phải có bạn bè."

Trở lại phần (2)

ooOoo
Tác giả: John Pomfret
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: Washington Post, 30 tháng 10, 2010

Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

1 tháng 11, 2010

Linh Sơn Chương 8.3

Cũng bị người ta khai thác rồi, tôi nói.
Đó là chuyện xảy ra trước khi khu bảo vệ được thành lập, ảnh giải thích.
Thế trong khu bảo vệ này còn có mảnh rừng nguyên thủy nào chưa hề có vết tích của công nhân không? 
        Đương nhiên là có chứ, nhưng phải đến Chính Hà. 
        Có thể đến đó không? 
        Đừng nói là anh mà ngay cả chúng tôi, với đầy đủ dụng cụ và trang bị, cũng không thể nào vào tới khu vực trung tâm của nó, toàn bộ đều là những thung lũng mênh mông có địa hình cực kỳ hiểm trở, chung quanh lại có núi tuyết cao năm sáu ngàn mét bao bọc. 
        “Có cách gì để quan sát khu rừng nguyên thủy chân chính này?
        Địa điểm gần nhất nằm ở tọa độ M11 và M12, ảnh muốn nói đến những tọa độ trên bản đồ trắc hội hàng không mà họ chuyên dùng ở trong trại, nhưng một mình anh không đến đó được đâu. 
        Ảnh nói hồi năm ngoái có hai sinh viên, mới ra trường được phái đến đây công tác, chỉ mang theo một gói bánh khô, cầm la bàn hớn hở đi vào trong đó, tưởng rằng chẳng có chuyện gì, nhưng đến tối vẫn không thấy trở về. Mãi đến bốn ngày sau một người mới thất thểu bò lên tới công lộ, may mắn được đoàn xe tải trên đường đi Thanh Hải phát hiện. Họ quay xuống thung lũng tìm cứu người kia, nhưng vì quá đói khát đã bất tỉnh nhân sự. Anh Ngô khuyên tôi tuyệt đối không nên đi sâu vào trong đó một mình, nếu muốn quan sát khu rừng nguyên thủy ấy thì phải đợi đến khi có nhân viên vào M11 và M12 thu thập tín hiệu hoạt động của gấu trúc.


Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Tác giả: 高行健 - Cao Hành Kiện
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Linh Sơn Chương 8.2

Dã thú đâu có gì đáng sợ, chỉ có con người mới đáng sợ chứ. Ổng kể rằng hồi còn trẻ trong một ngày đụng độ đến ba con hổ. Hổ cái dẫn hổ con đi qua mình ổng, còn hổ đực thì từ phía trước tiến dần lại, hổ và người chỉ đưa mắt nhìn nhau, ổng nhìn đi nơi khác, hổ đực cũng tránh ra. Hổ chẳng mấy khi tập kích người, nhưng con người lại cứ săn đuổi, tàn sát chúng ở khắp mọi nơi. Giống hổ của vùng Hoa Nam này gần như đã tuyệt chủng. Bây giờ nếu gặp được hổ là anh hên lắm đấy. Ổng cất tiếng trào tiếu.
        Thế rượu hổ cốt bày bán khắp nơi thì sao? Tôi hỏi.
        Toàn là đồ giả! Đến cả viện bảo tàng cũng không tìm được một mẫu xương hổ. Gần mười năm nay cả nước chẳng ai thu mua được một bộ da hổ nào. Có người tìm đến một ngôi làng nhỏ trong tỉnh Phúc Kiến mua một bộ, tưởng là xương hổ thật, ai dè sau khi đem đi giám định mới biết hoàn toàn là xương heo và xương chó. Ổng bật cười ha hả rồi thở hổn hển muốn đứt hơi nên phải dựa vào cán cuốc nghỉ mệt. 
        “Tôi đã trải qua mấy phen chết hụt trong đời,” ổng nói tiếp, “nhưng chưa bao giờ phải tranh sống dưới móng vuốt của dã thú cả. Lần đầu tiên, tôi bị bọn thổ phỉ bắt cóc, đòi một thỏi vàng làm tiền chuộc vì tưởng tôi là con nhà giàu có, đâu ngỡ rằng tôi chỉ là một gã sinh viên nghèo xơ xác, được phái đi làm công tác khảo cứu miền núi, đến cái đồng hồ đeo tay cũng chỉ là đồ mượn của bạn bè. Lần thứ hai, tôi bị phi cơ Nhật Bản oanh tạc, bom rơi trúng đỉnh nhà, ngói vỡ tan tành, bay tứ tung, nhưng bom không nổ. Về sau tôi lại bị người ta chụp mũ gán cho nhãn hiệu phần tử hữu khuynh rồi bắt đi nông trường lao động cải tạo, thời kỳ này gian nan lắm, thiếu ăn thiếu mặc, toàn thân phù thủng lên, sém chết. Bạn trẻ, tự nhiên chẳng có gì đáng sợ, chỉ có con người mới đáng sợ! Hãy làm quen với tự nhiên rồi anh sẽ thấy tự nhiên rất gần gũi và thân thiết. Dĩ nhiên con người là một động vật thông minh, một mặt, từ những tin đồn thất thiệt cho đến chuyện thụ tinh nhân tạo, cái gì mà chẳng làm được, mặt khác mỗi ngày lại tiêu diệt đến cả dăm ba loài động vật, đó mới chính là cuồng vọng bỉ ổi của con người.
        Trong trại, ổng là người duy nhất mà tôi có thể đàm đạo tâm sự, có lẽ cả hai chúng tôi đều là người của thế giới phồn hoa ấy, những kẻ khác quanh năm chỉ sống trong vùng núi non này đã trở nên trầm mặc như cây cối của rừng hoang. Mấy hôm sau ổng xuống núi, trở về nhà. Còn tôi vì chẳng có cách gì trò chuyện với họ nên cảm thấy có tí phiền não. Dĩ nhiên là tôi thừa hiểu trong mắt những người còn lại tôi chỉ là một du khách tò mò. Nhưng tôi bôn ba đến vùng rừng rú này để làm gì nhỉ? Để thể nghiệm một phen mùi vị của cuộc sống trong trại khảo cứu khoa học này? Và sự thể nghiệm ấy có ý nghĩa gì? Nếu chỉ đơn giản là để trốn tránh những khốn khó mà tôi phải đương đầu thì còn nhiều biện pháp dễ dàng hơn. Không lẽ tôi đang muốn đi tìm một cuộc sống mới? Để lìa xa thế giới cực kỳ phiền não của con người? Nhưng nếu muốn trốn đời thì cần gì phải kiếm người đàm đạo? Tự mình chẳng biết mình phải tầm cầu cái gì mới là điều phiền não chân chính. Nhiều suy tư quá, nhiều lô-gic quá, nhiều ý nghĩa quá! Chính bản thân cuộc sống làm gì có lô-gic mà bàn, hơn nữa tại sao phải dùng lô-gic để diễn dịch ý nghĩa? Vả lại lô-gic là cái chi chi? Tôi nghĩ rằng tôi cần phải thoát khỏi ràng buộc của tư biện bởi vì đó chính là căn nguyên của niềm thống khổ đang dày vò. 
        Tôi hỏi anh Ngô, người đã bắt con bét trên đùi giùm tôi hôm nọ, quanh đây có khu rừng nguyên thủy nào không? Ảnh nói rằng trước đây chung quanh trại này đâu đâu cũng là rừng nguyên thủy. Tôi bảo rằng đương nhiên là tôi biết chuyện đó, ý tôi muốn hỏi là một nơi mà bây giờ tôi có thể thực sự đến tham quan.
        Thế thì anh phải lên Bạch Thạch Đầu, chúng tôi đã mở đường mòn đến đó.” Ảnh trả lời.
        Tôi hỏi có phải là con đường nhỏ nằm ở phía dưới trại chạy thẳng vào trong thung lũng và trên thung lũng có một bờ nham thạch từ xa trông giống như một phiến đá trắng nhô lên từ giữa lòng biển lá xanh rờn của rừng thẳm.
        Ảnh gật đầu nói phải.
       Tôi đã lên trên đó rồi, cánh rừng cũng trang nghiêm lắm, chỉ tiếc rằng có nhiều gốc cây to lớn, đen sì chưa bị nước cuốn đi vẫn nằm ngổn ngang trong khe suối.
      

Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Tác giả: 高行健 - Cao Hành Kiện
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Linh Sơn Chương 8.1

Trong cánh rừng thích và rừng đoạn ở phía dưới trại, nhà thực vật học già, lên đây cùng lượt với tôi hôm ấy, phát hiện một cây thủy thanh đồ sộ, cao hơn bốn mươi mét — một loài thực vật đã hóa thạch nhưng vẫn còn sống, một di tích lẻ loi của thời kỳ Băng Xuyên hơn một triệu năm về trước. Ngẩng lên nhìn kỹ mới thấy rõ mầm lá li ti đang đâm chồi lấp loáng trên những cành cây trơ trụi ở đầu ngọn. Giữa thân cây có một bộng lớn có thể làm ổ cho gấu trúc. Ông kêu tôi trèo lên chui vào bên trong xem xét, bảo rằng nếu quả thật là ổ gấu trúc thì chỉ vào mùa đông chúng mới có mặt ở đó. Tôi chui vào bên trong, vách bộng phủ đầy rong rêu. Trong và ngoài cây thủy thanh này đều phủ đầy một lớp lông tơ mơn mởn, rễ cây ngoằn ngoèo thòng xuống như rồng rắn bò quanh một vùng cỏ lá rộng lớn.
        Đây mới là sinh thái nguyên thủy, bạn trẻ. Ổng cầm cây cuốc dùng để trèo núi gõ vào thân cây thủy thanh. Ổng có thói quen gọi tất cả mọi người trong trại là bạn trẻ. Ít ra ổng cũng đã sáu mươi tuổi rồi nhưng vẫn còn rất tráng kiện. Ổng lấy cây cuốc làm gậy chống, vẫn thừa sức lặn lội khắp núi rừng bao la. 
        Những cây gỗ quý đều bị người ta đốn hết rồi, nếu không nhờ cái bộng to tướng ấy thì cây thủy thanh này cũng đã đi đời từ lâu. Nói một cách nghiêm túc, nơi đây không còn là rừng nguyên thủy nữa, nhiều lắm cũng chỉ là rừng bán nguyên thủy mà thôi. Ông thở than bằng một giọng đầy cảm khái.
      Ổng đến đây để thu lượm những mẫu lãnh tiễn trúc — thực phẩm chủ yếu của gấu trúc. Ổng dẫn tôi vào giữa một lùm lãnh tiễn trúc cao quá đầu người nhưng toàn bộ đã khô héo không có cây nào còn sống sót. Ổng nói rằng từ lúc trúc trổ bông, kết trái, khô chết cho đến lúc hạt giống nẩy mầm, trưởng thành và trổ bông trở lại là một chu kỳ sáu mươi năm, theo thuyết luân hồi của nhà Phật thì vừa đúng một kiếp.
        Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp tự nhiên, ổng lớn tiếng tuyên bố, chớ có hành vi trái ngược với bản tính của tự nhiên, đừng nên làm những chuyện không nên làm.
        Thế chuyện cấp cứu gấu trúc có giá trị gì trên phương diện khoa học? Tôi hỏi.
       Đó chẳng qua chỉ là một hành động tượng trưng, một niềm an ủi. Con người cần phải tự lừa dối mình, một mặt thì ra sức cứu vớt một loài động vật đã mất hết khả năng sinh tồn, một mặt lại không ngừng gia tăng hoạt động phá hoại hoàn cảnh sinh tồn của chính bản thân nhân loại. Những khu rừng ở hai bên bờ sông Mân, trên con đường đã đưa anh đến đây, đều bị đốn sạch, ngay chính con sông Mân này bây giờ cũng đã biến thành một dòng nước bùn đen đúa, còn Trường Giang thì khỏi cần nói tới. Thế mà người ta lại dự định xây đập thủy điện tại Tam Hợp. Mơ mộng hão huyền dĩ nhiên là lãng mạn lắm, nhưng đây là khu vực địa thạch rạn nứt và lịch sử đã ghi lại nhiều kỷ lục về các vụ lở đất trầm trọng. Ngăn sông xây đập không những phá hoại toàn bộ sinh thái của lưu vực sông Trường Giang, mà nếu xảy ra động đất thì hằng trăm triệu cư dân của miền trung lưu và hạ lưu sẽ biến thành cá, thành rùa hết. Dĩ nhiên sẽ không có ai chịu nghe lời một lão già lẩm cẩm như tôi, nhưng nếu cứ hành hung tự nhiên như thế này, không sớm thì muộn thế nào cũng bị tự nhiên trả đũa.
        Tôi theo ổng luồn lách khắp khu rừng, chung quanh đâu đâu cũng nhan nhản những bụi cây quán chúng cao ngang lưng, lá trổ thành vòng, xoáy tròn như một cái phễu lớn. Những cây quỷ đăng kình xanh biếc, có bảy lá cũng xếp thành vòng tròn. Một bầu không khí ẩm thấp bao trùm khắp nơi.
       Trong những lùm cây rậm rạp này có rắn không? Tôi dằn lòng chẳng được, lên tiếng hỏi ổng.
       Chưa đến mùa đâu, chỉ vào đầu mùa hè, thời tiết ấp áp hơn, bọn chúng mới hung dữ.
        Còn dã thú thì sao?
       


Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Tác giả: 高行健 - Cao Hành Kiện
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn