Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



25 tháng 9, 2010

Bình Luận Thời Sự Hoa Kỳ (2)

Sách Lược Đối Ngoại Kích Tiến Của Obama: 
Mục Tiêu Là Phát Triển, Không Phải Viện Trợ
(Phần 2)

Tác giả: Sarah Wildman
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Nguồn: Politics Daily

“Chúng ta biết rằng những quốc gia có nhiều triển vọng để trở nên thịnh vượng hơn khi chính phủ có trách nhiệm với nhân dân của họ. Do vậy chúng ta đang dẫn đạo một nỗ lực hoàn cầu để chống lại tham nhũng, một vấn nạn đã trở thành cản trở lớn nhất cho phát triển ở nhiều nơi, và là một dạng vi phạm nhân quyền trầm trọng. Đó là lí do tại sao bây giờ chúng ta phải đòi hỏi những công ty dầu hỏa, khí đốt, và khai thác mỏ thu hút vốn bên trong Hoa Kỳ phải kê khai tất cả chi tiêu mà họ chi trả cho những chính phủ ngoại quốc. Và đó là lý do tại sao tôi mong muốn nhóm G-20 đưa vấn nạn tham nhũng vào trong nghị trình và phải xây dựng cơ chế để những viên chức tham nhũng không thể dễ dàng ăn cắp tài sản của nhân dân họ và bóp nghẹt sự phát triển của đất nước họ.

“Hoa Kỳ sẽ tập trung nỗ lực phát triển vào những quốc gia giống như Tanzania đang khuyến khích nền quản trị thiện hảo và dân chủ; pháp chế và nền quản trị công lý công bằng; những định chế minh bạch, với nhiều xã hội dân sự vững mạnh và tôn trọng nhân quyền. Bởi vì về lâu về dài, dân chủ và phát triển kinh tế luôn đồng hành với nhau.”

Thêm vào đó, ông nói tiếp, Hoa Kỳ sẽ mở rộng vòng tay với những quốc gia nào đang chuyển động về hướng dân chủ, hoặc tránh xa chiến tranh.

Nhưng điểm mấu chốt xuyên suốt những lời phát biểu đó là: sự phát triển đó không phải là tình cờ ngẫu nhiên, cũng không phải là toàn bộ tổng thể; nó là sự chọn lựa, có mục tiêu, và tập trung.

Ông Gregory Adams, giám đốc đặc trách Viện Trợ của tổ chức Oxfam Hoa Kỳ cho bài diễn văn này của Obama có phong cách Kenedy trong nhận định cho rằng việc làm giảm nạn nghèo đói trên toàn cầu có thể mang lại lợi ích trực tiếp cho người Mỹ. Ông phát biểu thêm: “Tôi nghĩ điểm đổi mới trọng yếu là nhấn mạnh đến sự hỗ trợ những chính phủ hữu hiệu và những công dân tích cực để họ nhận lãnh lấy tranh nhiệm với nỗ lực xóa sạch nạn nghèo đói.”

Phát biểu trước buổi truyền thông, ông George Ingram, một viên chức cao cấp trước đây tại USAID và hiện tại là đồng chủ tịch của Liên Minh Lãnh Đạo Hoàn Cầu Hoa Kỳ và Mạng Hiện Đại Hóa Ngoại Trợ ghi nhận rằng “biến USAID thành một cơ quan phát triển đẳng cấp thế giới sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức.” Những bước kế tiếp, theo lời giải thích của ông Ingram, là bổ dụng những chức vị ủy nhiệm chính trị và tái bố trí nhân viên cho cơ quan này. Hiện tại, chỉ có 3 trong 12 chức vị ủy nhiệm chính trị đã được bổ dụng. Đồng thời vấn đề quan trọng là phối hợp hơn 25 cơ quan đã ký kết giúp đỡ việc thực thi công tác hỗ trợ ngoại quốc, với chỉ thị từ Tòa Bạch Ốc.

Ông Ingram giải thích rằng Chính Sách Phát Triển Hoàn Cầu mới này phù hợp với kế hoạch rộng hơn của Obama là sử dụng tiền viện trợ quốc tế hữu hiệu hơn – xây dựng các hệ thống y tế, theo Kế Hoạch Y Tế Toàn Cầu, thay vì nhắm đến từng căn bệnh hoặc từng vấn nạn riêng lẽ.

“Bạn có thể thấy điều đó trong thời gian vận động tranh cử,” Ingram nói. “Trong những tháng đầu của chiến dịch vận động tranh cử [lúc đó là Ứng cử viên Obama] đã đưa ra bản thông cáo tám trang nói về vấn đề phát triển. Đó là điều không có ứng cử viên nào từng làm trước đó. Obama đã phát biểu ở đó về nhu cầu cần nâng cấp USAID và phát triển – ông đã nói về những sáng kiến và kết quả của lãnh vực y tế. Điều báo cho tôi hay là bản thông cáo Obama nói tới hôm nay không phải là điều mới phát sinh trong mấy tháng vừa qua. Đó là điều Obama đã mang theo mình khi nhậm chức tổng thống. Và nếu bạn quay nhìn lại quá trình hoạt động của Obama, Obama khởi đầu với vai trò nhà tổ chức cộng đồng ở Chicago, và [đã và đang] trở thành nhà tổ chức cộng đồng cấp toàn cầu. Obama có thiên khiếu giúp người khác tự phát triển được.”

Thật vậy, Obama lập lại lịch sử của chính mình trong bài diễn văn tại Liên Hiệp Quốc, nói về công việc của mình trên đường phố Chicago, và về người mẹ của mình thời còn ở Indonesia.

“Hãy cho về vườn cái huyền thoại cũ mèm cho rằng phát triển chỉ đơn thuần là việc từ thiện mà không phục vụ gì cho lợi ích của chúng ta. Và hãy từ bỏ mối hoài nghi cho rằng một số quốc gia nào đó phải bị nguyền rủa phải chịu nghèo đói bất tận,” Tổng Thống Obama kêu gọi.

Trở Lại Phần 1
Copyright © 2010 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Bình Luận Thời Sự Hoa Kỳ (1)

Sách Lược Đối Ngoại Kích Tiến Của Obama: 
Mục Tiêu Là Phát Triển, Không Phải Viện Trợ
(Phần 1)

Tác giả: Sarah Wildman
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Nguồn: Politics Daily



NEW YORK Hoa Kỳ đang thay đổi cách thức chúng ta làm việc.” 

Với câu nói này, Tổng Thống Obama đã đề xuất một sách lược cải tổ đầy tham vọng, thậm chí kích tiến, trong chính sách đối ngoại, đầu tư, và hành xử: Chính Sách Phát Triển Hoàn Cầu Của Hoa Kỳ, sau khi ông đã đến đây vào hôm thứ tư và đăng đài trung tâm vào cuối chiều Ngày 3 của Hội Nghị Thượng Đỉnh Về Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ có quy mô rộng lớn do Liên Hiệp Quốc tổ chức. Sách lược này đánh dấu lần đầu tiên phát triển được chính phủ nâng lên vị trí ưu tiên hàng đầu như thế, khuyến dụ việc xem trọng phát triển là một trụ cột hạch tâm của quyền lực Hoa Kỳ. 

Mặc dù thừa nhận rằng đã có nhiều tiến triển lớn lao trong quá trình thực hiện tám mục tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ cao cả do Liên Hiệp Quốc đề ra vào năm 2000 những mục tiêu nhằm ngăn chận bần khốn, tiêu trừ bệnh tật, giảm thiểu tỉ lệ tử vong của anh nhi và sản phụ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và đưa thêm nhiều trẻ em đến trường học  ông nói rằng cần phải duy trì nỗ lực để bảo đảm rằng những mục tiêu này đạt đích trong 5 năm tới.

“Cánh cửa giáo dục đã mở ra cho hàng chục triệu trẻ em, nam cũng như nữ. Những trường hợp mắc bệnh HIV/AIDS, bệnh sốt rét, bệnh lao phổi mới đã giảm sút; phương tiện tiếp cận nước uống sạch sẽ đã gia tăng. Khắp nơi trên thế giới, hàng trăm triệu người đã được giúp đỡ vượt qua cảnh đói nghèo cùng cực,” ông nói. Nhưng tiến triển hướng đến những mục tiêu khác vẫn còn thiếu cấp tốc. Thiếu cấp tốc đối với hàng trăm ngàn phụ nữ phải hy sinh tính mạng hàng năm chỉ vì lý do sinh sản. Thiếu cấp tốc đối với hàng trăm triệu trẻ em phải chết vì tai ương thiếu dinh dưỡng. Thiếu cấp tốc đối với gần một tỷ người phải chịu đựng khổ cực vì nạn đói kinh niên. Nếu cộng đồng quốc tế cứ tiếp tục làm những điều cũ theo phương cách cũ,” ông nói tiếp, “chúng ta sẽ trượt nhiều mục tiêu phát triển.”

Nghe rõ âm điệu chủ đề đã được gióng lên từ trụ sở Liên Hiệp Quốc ở khu East Side cho đến tổ chức Xướng Nghĩa Toàn Cầu [Bill] Clinton tại Midtown và các chương trình vệ tinh do Mashable của Quỹ Tài Trợ Liên Hiệp Quốc tổ chức tại 92Y trong tuần này, ngài tổng thống nhấn mạnh rằng, mặc dù kinh tế suy thoái, những quốc gia phát triển vẫn giữ vững trách nhiệm đối với các nước kém may mắn hơn. “Tôi ngờ rằng có một số người tại những quốc gia khá giả hơn có thể thắc mắc  với nền kinh tế của chúng ta đang khắc phục khó khăn, với nhiều người thất nghiệp như vậy, và với vô vàn gia đình khắc khổ qua ngày tại sao lại tổ chức một hội nghị thượng đỉnh về vần đề phát triển? Câu trả lời rất đơn giản. Trong nền kinh tế toàn cầu của chúng ta, ngay cả tiến bộ ở những nước nghèo nhất cũng có thể thúc đẩy thịnh vượng và an ninh cho nhiều người khác ở xa ngoài biên giới của họ, kể cả đồng bào của tôi tại Mỹ.” 

Gọi phát triển là một “yếu lệnh đạo đức” cũng như “chiến lược và kinh tế,” ngài tổng thống giải thích rằng Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế Hoa Kỳ (USAID) sẽ được cải tổ toàn diện. Và rằng, trong năm qua, một cuộc thẩm tra đa ngành, xuyên cơ quan đã được thực hiện. Giám đốc USAID, ông Raj Shah, từ đây có khi sẽ tham gia hội đàm với Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (một số người trong giới phát triển đã hy vọng rằng ông ta được ngồi ghế thường trực tại Hội Đồng An Ninh Quốc Gia. Nhưng điều đó sẽ không xảy ra.)

Không đơn giản chỉ cải tổ toàn diện USAID, kế hoạch của tổng thống sẽ thay đổi cả cách nhìn của chính phủ Hoa Kỳ về vấn đề phát triển quốc tế, viện trợ và giúp đỡ. “Viện trợ đơn thuần không phải là phát triển,” ông nói. “Phát triển là giúp đỡ các quốc gia khác thực sự vươn lên – chuyển biến từ nghèo đói sang thịnh vượng. Và chúng ta cần phải làm nhiều hơn là chỉ dựa vào viện trợ để khởi động sự thay đổi đó.”

Những mục tiêu phát triển cũng phải được đánh giá lại đối với những quốc gia đã và đang dựa vào sự giúp đỡ lương thực qua nhiều thế hệ, ông chỉ ra cụ thể. “Đó không phải là phát triển, đó là lệ thuộc, và chúng ta cần phá bỏ cái vòng lẫn quẫn đó đi. Thay vì chỉ xử lý loanh quanh nạn nghèo đói, chúng ta phải cung cấp cho các quốc gia và nhân dân họ một con đường vượt thoát đói nghèo.”

Tổng thống đã đề ra một định nghĩa mới về khái niệm phát triển, một định nghĩa kêu gọi “tạo ra điều kiện mà ở đó sự giúp đỡ không còn cần đến nữa” và tìm kiếm “những đối tác muốn tự tạo khả năng để đáp ứng nhu cầu của nhân dân họ” và phát triển bền vững.

“Nói cách khác, chúng ta muốn bày tỏ thẳng thắn rằng chúng ta sẽ hợp tác với những quốc gia nào sẵn sàng muốn vươn lên nắm lấy vai trò lãnh đạo. Bởi vì thời kỳ mà vần đề phát triển của quí vị được điều phối tại các thủ đô ngoại quốc phải đến hồi cáo chung.”

Mục đích cao nhất của viện trợ và phát triển là sự tăng trưởng kinh tế bền vững “dựa trên nền tảng khoáng đại,” tổng thống nhấn mạnh. “Bây giờ, mỗi một quốc gia sẽ tự theo đuổi con đường đưa đến thịnh vượng riêng của mình.” Nhưng những con đường đó không phải là xa lạ, ông nói tiếp.

Xem tiếp Phần 2

Copyright © 2010 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

24 tháng 9, 2010

Bình Luận Thời Sự Trung Quốc (3)

Chuyến Nam Du Của Thủ Tướng Ôn: 
Rạn Nứt Ý Thức Hệ Trong ĐCSTQ?

(Phần 3)

Tác giả: Willy Lam
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: Premier Wen's “Southern Tour”

Trong tình thế các lãnh tụ bảo thủ của đảng đã tỏ rõ quan điểm phản đối cải cách chính trị, việc Thủ Tướng Ôn, sau khi đã bạo dạn kêu gọi tự do hóa, có muốn và có thể tiếp tục đưa ra những chính sách cụ thể hay không vẫn còn là một vấn đề khả nghi. Một số học giả và tư tưởng gia tiền vệ đã đánh giá cao sự kiện Ôn lại lần nữa dương cao ngọn cờ cải cách chính trị. Châu Thụy Kim, một lý thuyết gia thuộc phái tự do và tiền phó tổng biên tập Nhân Dân Nhật Báo, ca ngợi Ôn đã “đề cao mục đích cải tổ chính trị một cách trực tiếp và toàn diện.”Trong khi nhiều người tỏ ra lạc quan một cách mù quáng về 'mô hình Trung Quốc,' Ôn đã sáng suốt nhận thức được nguy cơ của việc đóng băng cải tổ,” Châu ghi nhận. Theo Đỗ Đạo Chính, một đảng viên lão thành thuộc phái tự do, đã từng có quan hệ thân mật với Triệu Tử Dương, thì ngài thủ tướng có đủ năng lực đề xuất những biện pháp thiết thực để đạt đến mục đích của mình. Ôn kiên quyết tận tụy thực thi đường lối Đặng Tiểu Bình,” Đỗ nhận định. “Ông nỗ lực xúc tiến cải cách và khai phóng một cách ngay thẳng và không nhân nhượng” (Tuần Báo Á Châu, 30 tháng 8; Sina.com, 28 tháng 8).  

Tuy nhiên những trí thức hạng nặng khác lại hướng về quan điểm cho rằng Ôn chỉ đãi bôi ngoài miệng chứ không thực sự muốn xúc tiến những mục đích cao thượng này. Tác giả nổi tiếng Dư Kiệt, vừa cho xuất bản cuốn Ôn Gia Bảo: Diễn Viên Số 1 Của Trung Quốc, tin rằng Ôn chỉ đang nỗ lực đánh bóng thành tích của mình cho sử sách mà thôi. “Ôn Gia Bảo không phải là Triệu Tử Dương,” Dư phát biểu sau khi đọc xong bài diễn văn tại Thâm Quyến của Ôn. Sấm sét vang rền nhưng chẳng có mưa rơi. Xem Ôn như là vì sao có thể giải cứu Trung Quốc là một ý tưởng không thiết thực” (Apple Daily, 1 tháng 9; BBC News, 16 tháng 8). Hơn thế nữa, điều quan trọng đáng lưu ý là cũng giống như người tiền nhiệm của mình, tiền Thủ Tướng Chu Dung Cơ, nhiệm vụ của Ôn chỉ hoàn toàn nằm trong lãnh vực kinh tế. Ông chẳng có quyền hạn gì trong những vấn đề liên quan đến ý thức hệ, văn hóa, hoặc tuyên truyền.

Trong những tuyên bố công khai hồi năm ngoái, các viên chức cao cấp cũng như bình luận gia của giới truyền thông đã tránh né vấn đề cải cách chính trị đang gây tranh luận này. Trường hợp ngoại lệ là loạt bài phân biện “hai thể loại cải cách chính trị” và “hai thể loại dân chủ,” tức là thể loại theo kiểu tư bản chủ nghĩa ở Tây phương đáng hoài nghi đối chọi với tiêu chuẩn dân chủ và chính trị xã hội chủ nghĩa. Chẳng hạn, trong một bài bình luận mang tựa đề “Đừng Nhầm Lẫn Hai Loại Dân Chủ,” tờ Quang Minh Nhật Báo đã quở trách giới cán bộ có khuynh hướng tự do đã “không phân biệt được dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư bản chủ nghĩa” và đã “tùy tiện áp đặt những khái niệm Tây phương vào thực tế phát triển chính trị của Trung Quốc.” Trong một biếm luận đâm chọc hình như cố ý nhắm vào Ôn, nhà phê bình của tờ Quang Minh Nhật Báo đã thách thức những kẻ đề xuất tự do hóa chính trị tại Thâm Quyến trước hết cần phải làm sáng tỏ vấn đề ai sẽ điều hành công chuyện” sau khi công cuộc cải cách đã kết thúc (Quang Minh Nhật Báo, 5 tháng 9; Newcenturynews.com, 5 tháng 9). Nói cách khác, phe bảo thủ lý luận rằng cải cách chính trị cả kiểu Đặng lẫn kiểu Ôn có thể dẫn đến kết quả ĐCSTQ phải mất luôn pháo đài quyền lực.

Thay vì cải cách chính trị theo chiều hướng của các lãnh tụ thuộc phái tự do như Đặng Tiểu Bình và Hồ Diệu Bang, giới cán bộ chủ đạo, bao gồm Hồ Cẩm Đào, đã tập trung vào việc hợp lý hóa hành chính và gần đây “cách tân hệ thống quản lý xã hội.” Trong một bài báo vào đầu tháng 9, Tân Hoa Xã đã trích dẫn những ý tưởng của Hồ về chính sách quản lý xã hội, bao gồm “bảo vệ và cải thiện sinh kế của nhân dân” và xúc tiến công lý và bình đẳng xã hội.” Hơn nữa, động lực chủ yếu của chính sách quản lý xã hội không phải là thay đổi chính trị trên quy mô rộng lớn mà chỉ là các phương tiện thúc đẩy hài hòa kinh tế và xã hội bằng cách xoa dịu mâu thuẩn giữa các giai cấp và đoàn thể quyền lợi tại Trung Quốc (Tân Hoa Xã, 4 tháng 9; Luật Pháp Nhật Báo, 2 tháng 7). Hoạt động chuẩn bị cho biến đổi nhân sự có quy mô lớn tại Đại Hội Toàn Quốc Thứ 18 sắp đến của ĐCSTQ cũng như việc quý vị đại gia trong các phe nhóm khác nhau đang bận bịu thúc đẩy triển vọng thăng chức của đám đàn em mình cũng ảnh hưởng đến khả năng giới lãnh đạo ĐCSTQ tái xét vấn đề cải cách chính trị. Dẫu có giả định rằng Ôn thực sự quan tâm đến việc hồi sinh công cuộc cải cách chính trị, căn cứ vào hoàn cảnh dường như đơn thương độc mã của ông trong nhóm lãnh đạo chóp bu của ĐCSTQ, xác suất của viễn ảnh vị thủ tướng 68 tuổi này có thể thực thi nhiều cải cách chính trị rất mong manh.   

oOo

Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Bình Luận Thời Sự Trung Quốc (2)

Chuyến Nam Du Của Thủ Tướng Ôn: 
Rạn Nứt Ý Thức Hệ Trong ĐCSTQ?

(Phần 2)

Tác giả: Willy Lam
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: Premier Wen's “Southern Tour”

Tuy những ý kiến này cấu thành một chi lưu tách rời nguồn bảo thủ của ĐCSTQ, nhưng Ôn đã kiềm chế việc chỉ trích các đồng liêu của mình. Loạt súng tại Thâm Quyến đã tạo tiếng vang vì đó là những viên đạn cảnh cáovà chỉ tríchnhắm vào giới cán bộ không chịu thực thi sắc lệnh của các nhà cải tổ lừng lẫy như Đặng Tiểu Bình. Ôn cho rằng: “Dậm chân tại chỗ và thối bước không những sẽ hủy diệt thành quả đã gặt hái được trong 30 năm cải cách và khai phóngvà những cơ hội phát triển vô giámà còn bóp nghẹt sinh khí của chủ nghĩa xã hội với đặc sắc Trung Quốc và đi ngược nguyện vọng của nhân dân.” Hơn thế nữa, nhiều bộ phận trong bài diễn văn của Ôn—đặc biệt là lời cảnh báo về những thế lực thù địch đang đẩy đưa đất nước vào con đường diệt vonglà bản sao lời phát biểu của cố trưởng lão Đặng Tiểu Bình trong chuyến “Nam Tuần nổi tiếng của cụ vào năm 1992. Khi viếng thăm các ĐKKT Châu Hải và Thâm Quyến vị tổng kiến trúc sư của cải cách đã phát biểu nghiêm khắc cảnh cáo phái bảo thủ của ĐCSTQ (Tân Hoa Xã, 19 tháng 2, 2009; Nhân Dân Nhật Báo, 19 tháng 2, 2009). 

Vậy thì Ôn đang nhắm vào ai? Chí ít là nhắm vào những kẻ trong giới cán bộ trung và cao cấp cố ý bôi nhọ các sắc lệnh ủng hộ cải cách của ngài thủ tướng. Sau khi Ôn đưa ra nhận định tán thành giá trị phổ cập, một số trí thức và chính ủy bí mật theo chủ nghĩa Mao hoạt động tại các đơn vị có tầm ảnh hưởng như Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc (VKHXH) đã lên tiếng đả kích gay gắt việc ngài thủ tướng đề xướng những tư tưởng Tây phương “nguy hiểm.” Ví dụ, hãy xem trường hợp của Hầu Huệ Cần, một học giả Mác-xít nổi tiếng của VKHXH đã mở cuộc tấn công Ôn dường như chẳng cần che dấu trong một bài viết đăng trên Tạp Chí Của Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc. Hầu cho rằng những người tán dương “giá trị phổ cập” đang “thách thức ý thức hệ xã hội chủ nghĩa chủ đạo” và  “cam chịu khuất phục trước luận thuyết cứng rắn của Tây phương.” Cùng lúc ấy, Viện Trưởng VKHXH Trần Khuê Nguyên cũng nhắc nhở rằng “chúng ta không được phép mù quáng sùng bái [Tây phương] và chúng ta không được phép tâng bốc những giá trị Tây phương chẳng hạn như cái được mệnh danh là giá trị phổ cập (Chinaelections.org, 28 tháng 6, 2008; Tạp Chí Của Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc, tháng 3, 2009). Trong một bài báo được lưu hành trên mạng Internet, chính ủy Trương Cần Đức, một cán bộ hồi hưu tại Văn Phòng Nghiên Cứu Chính Sách của Trung Ương ĐCSTQ còn đi xa đến chỗ nêu đích danh Ôn ra mà cáo buộc là ông đã phạm sáu lỗi lầm nghiêm trọng,” bao gồm phiến động chủ nghĩa tư bản với đặc sắc Trung Quốc, khuyến khích tự do hóa kiểu giai cấp tư sản hay là Tây hương hóa đại quy mô, và thậm chí còn “thổi bùng ngọn lửa cuồng ngạo của tập đoàn Triệu Tử Dương” (Minh Báo [Hồng Kông], 9 tháng 6; Maoflag.Net [Bắc Kinh], 23 tháng 4).

Có người suy đoán rằng bài diễn văn của Ôn tượng trưng cho sự rạn nứt ý thức hệ giữa ngài thủ tướng và Chủ Tịch Hồ, trong cương vị tổng bí thư, là người đảm trách việc lèo lái định hướng chính trị tổng thể của đảng và quốc gia (Apple Daily [Hồng Kông], 31 tháng 8; Asiasentinel.com, 30 tháng 8; nguyệt san Frontline  [Hồng Kông] tháng 7, 2010). Trong mấy năm vừa qua, cùng với Lý Trường Xuân và Lưu Vân Sơn, hai ủy viên Bộ Chính Trị trực tiếp điều khiển guồng máy tuyên truyền và ý thức hệ của đảng, Hồ đã cố gắng phong phú hóa cái mà ông mệnh danh là “hệ thống lý thuyết xã hội chủ nghĩa bằng cách phục hồi những giá trị chính thống như “Trung Quốc hóa và phổ biến hóa chủ nghĩa Mác (Xem Giới Lãnh Đạo Trung Quốc Phục Hồi Tư Tưởng Mác-xít Chính Thống,” China Brief [của Jamestown.org], 19 tháng 4). Thí dụ, trong một bài diễn văn vào cuối năm 2008, nhân dịp kỷ niệm ngày khởi đầu kỷ nguyên cải cách vừa tròn 30 năm, Hồ đã nói rằng ĐCSTQ “không bao giờ quay cóp hệ thống chính trị và mô hình Tây phươngvà nó phải tránh xa “con đường lệch lạc” của giá trị tư bản chủ nghĩa (Tân Hoa Xã, 18 tháng 12, 2008;  Nhân Dân Nhật Báo, 19 tháng 12, 2008). Và trong bài diễn văn tại Thâm Quyến, Hồ đã kêu gọi cán bộ địa phương tiếp tục nỗ lực xây dựng hệ thống giá trị hạch tâm xã hội chủ nghĩa, giữ vững niềm tin vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa với đặc sắc Trung Quốc, và hoành dương chủ nghĩa ái quốc, chủ nghĩa tập thể, lý tưởng xã hội chủ nghĩa (Tân Hoa Xã, 6 tháng 9; Nhân Dân Nhật Báo, 6 tháng 9). 

Sự kiện một số bài diễn văn trong mấy năm qua của Ôn không được giới truyền thông nhà nước đăng tải đầy đủ là thực tế xác minh niềm tin cho rằng Ôn không cùng quan điểm với các đồng chí bảo thủ của ông trong Bộ Chính Trị. Chẳng hạn, khi báo cáo hoạt động của Ôn tại ĐKKT hồi tháng trước, đài Truyền Hình Thâm Quyến đã khu trừ nhận định của ông về việc tự do hóa chính trị. Khi bình luận về đỉnh cao của tình trạng náo loạn lao động tại Quảng Đông cũng như các tỉnh khác vào đầu năm nay, Ôn đã phát biểu với đài Truyền Hình Phượng Hoàng, có trụ sở tại Hồng Kông, rằng các sự cố này phản ánh nhiều mâu thuẩn thâm căn cố đếtrong xã hội Trung Quốc. Không một cơ cấu truyền thông nào săn đưa nhận xét có ảnh hưởng sâu xa này của Ôn. Căn cứ vào địa vị và danh giá của Ôn, việc hạn chế đăng tải các bài diễn văn của ông chỉ có thể do các lãnh tụ chóp bu của đảng quyết định (Tuần Báo Á Châu [Hồng Kông], 5 tháng 9; HKreporter.com, 30 tháng 8).


Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Bình Luận Thời Sự Trung Quốc (1)

Chuyến Nam Du Của Thủ Tướng Ôn: 
Rạn Nứt Ý Thức Hệ Trong ĐCSTQ?

(Phần 1)

Tác giả: Willy Lam
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: Premier Wen's “Southern Tour”

Hai năm trước kỳ hạn phải thối xuất Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Trung Quốc, Thủ Tướng Ôn Gia Bảo đã gióng lên lời hiệu triệu táo bạo chưa từng có của mình về việc tự do hóa chính trị. Trong chuyến viếng thăm thành phố tân hưng Thâm Quyến vào cuối tháng 8, ngài thủ tướng đã khiến thiên hạ trố mắt ngạc nhiên khi ông đề cao vai trò trụ cột của cải cách thể chế chính trị trong kế hoạch cải cách và hiện đại hóa của quốc gia. Hôm trước ngày kỷ niệm 30 năm thành lập Đặc Khu Kinh Tế (ĐKKT) Thâm Quyến, Ôn đã phát biểu rằng: Chúng ta không những phải xúc tiến cải cách thể chế kinh tế mà còn phải xúc tiến cải cách thể chế chính trị(Tân Hoa Xã, 21 tháng 8).

Lời phát biểu mạnh dạn ít thấy của Ôn đã dấy lên tranh luận, đặc biệt là vì Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào lại cố ý tránh né vấn đề cải cách thể chế chính trị mẫn cảm này tại buổi lễ chính thức đánh dấu sinh nhật thứ 30 của ĐKKT Thâm Quyến vào ngày 6 tháng 9. Tương phản rõ rệt giữa hai bài diễn văn của Ôn và Hồvà cụ thể là việc Ôn đã tỏ thái độ ủng hộ tự do hóa chính trị một cách chân thành—đã khiến nhiều người phân vân về các sách lược chủ yếu của giới chính trị chóp bu Trung Quốc. Có phải vị thủ tướng có khynh hướng tiến bộ này đang tiến hành đấu tranh với phe phản cải cách trong Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ)? Giữa Thủ Tướng và Chủ Tịch có sự chia rẽ về ý thức hệ ư? Không kém phần quan trọng là liệu Ôn có thực sự bắt tay vào việc phục hồi công cuộc cải cách hay không, và nếu có, sẽ thành công hay thất bại?

Trong bài diễn văn tháng 8 của mình, Ôn đã nói rằng nếu không có sự bảo chứng của cải cách thể chế chính trị, thành quả gặt hái được trong quá trình cải cách thế chế kinh tế sẽ tiêu tan và nỗ lực hiện đại hóa hóa quốc gia sẽ thất bại. Ông cảnh cáo rằng dậm chân tại chỗ hoặc thối bước trong công cuộc cải cách cuối cùng chỉ dẫn đến con đường diệt vong (Tân Hoa Xã, 21 tháng 8; Nhân Dân Nhật Báo, 22 tháng 8). Chỉ hơn hai tuần sau, trong buổi nói chuyện với cán bộ thành phố Thâm Quyến và quan khách đến từ Hồng Kông và Ma Cao, Chủ Tịch Hồ khen ngợi ĐKKT Thâm Quyến đã dũng cảm canh tân và không để [tư tưởng] bị hủ hóa. Tuy Hồ trịnh trọng hứa rằng ĐCSTQ sẽ tiếp tục hậu thuẫn những thám hiểm bạo dạn của Thâm Quyến, nhưng ông Tổng Bí Thư lại thôi thúc cán bộ địa phương phải kiên trì con đường phát triển xã hội chủ nghĩa với đặc sắc Trung Quốc cũng như hệ thống lý thuyết xã hội chủ nghĩa với đặc sắc Trung Quốc.Hồ lại nói thêm rằng Thâm Quyến phải tiếp tục giải phóng tư tưởng, kiên trì cải cách và khai phóng, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ dẫn đầu việc phát triển khoa học và xúc tiến hài hòa xã hội” (Tân Hoa Xã, 6 tháng 9;  China News Agency, 6 tháng 9). Nói cách khác, Thâm Quyến phải tập trung vào cải cách kinh tế chứ không phải cải cách chính trị, và những nỗ lực này không thể thoát ly con đường xã hội chủ nghĩa với đặc sắc Trung Quốc.  

Muốn hiểu rõ ý nghĩa bài diễn văn của Ôn, một phương thức hữu hiệu là so sánh loạt công bố có khuynh hướng tiến bộ của ngài thủ tướng trong những năm gần đây với ngôn luận ông phát biểu tại Thâm Quyến. Trong một cuộc họp báo tại kỳ Đại Hội Đảng Toàn Quốc vào đầu năm 2007, Thủ Tướng Ôn là cán bộ cao cấp đầu tiên công khai đề xướng việc tiếp nạp pushi jiazhi 普世价值, có nghĩa là “giá trị phổ thế” hay giá trị phổ cập.” Ôn nhận định rằng: “Dân chủ, pháp chế, tự do, nhân quyền, bình đẳng ... không phải chỉ riêng chủ nghĩa tư bản mới có. Đây là những giá trị mà toàn thể cộng đồng nhân loại đều truy cầu.” Vào tháng tư năm nay, Ôn đã cho đăng trên Nhân Dân Nhật Báo một bài ca tụng công đức cố Tổng Bí Thư Hồ Diệu Bang, một thần tượng tự do của ĐCSTQ. Ngài thủ tướng, đã từng làm việc dưới trướng Hồ [Diệu Bang] từ 1985 đến 1987, khen ngợi “tác phong ưu việt cũng như phẩm đức cao thượng và quang minh lỗi lạc” của người chủ cũ. Bài viết của Ôn cũng đã khiến nhiều người suy đoán rằng có lẽ ông sẽ cố gắng phục hồi thanh danh của một lãnh tụ khác, cố Tổng Bí Thư Triệu Tử Dương, một người đã bị sa thải vì ủng hộ triệt đễ cải cách chính trị  kiểu Tây phương (Tân Hoa Xã, 15 tháng 3, 2007; Nhân Dân Nhật Báo, 15 tháng 4, 2009; Nữu Ước Thời Báo, 15, tháng 4). 

Xem tiếp Phần 2

Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

23 tháng 9, 2010

Thanh Xuân

Xin giới thiệu cùng quý độc giả bài thơ "Youth" của thi sĩ Mỹ gốc Do Thái Samuel Ullman và bản dịch Việt ngữ của dịch giả Hồ Kim Sơn, dưới dạng Anh Việt đối chiếu. Tuy Samuel Ullman tạ thế đã 86 năm rồi nhưng cho đến bây giờ bài thơ này vẫn còn có nhiều người hâm mộ, đặc biệt là ở Nhật Bản và Trung Quốc. Nguyên nhân chính là vì nó được Thống Tướng Douglas MacArthur nhiệt liệt thôi sùng. "Youth" được treo trên tường của văn phòng Thống Tướng tại Tokyo khi ông đến đây nhậm chức Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội Đồng Minh. Ngoài ra ông đã nhiều lần trích dẫn nội dung bài thơ này trong các bài diễn văn của mình, dẫn phát cao trào phấn đấu bất suy trong thương giới Nhật Bản, và nhờ đó "Youth" đã được phổ biến rộng rãi tại Nhật Bản hơn là tại Mỹ. "Youth" du nhập vào Trung Quốc vào thập niên 1980 trong lúc tinh thần khai phóng đang được triển khai mạnh mẽ tại nước nầy. Hy vọng độc giả Việt Nam (tuổi trẻ hoặc già) có thể học hỏi đôi điều từ "Youth" để giữ mãi "Thanh Xuân" cuộc đời. Nam Hải Trường Sơn.



Y o u t h

Tác giả: Samuel Ullman (1840-1924)

Youth is not a time of life; it is a state of mind; it is not a matter of rosy cheeks, red lips and supple knees; it is a matter of the will, a quality of the imagination, a vigor of the emotions; it is the freshness of the deep springs of life.

Youth means a temperamental predominance of courage over timidity, of the appetite for adventure over the love of ease. This offen exists in a man of sixty more than a body of twenty. Nobody grows old merely by a number of years. We grow old by deserting our ideals.

Years may wrinkle the skin, but to give up enthusiasm wrinkles the soul. Worry, fear, selfdistrust bows the heart and turns the spirit back to dust. 

Whether sixty or sixteen, there is in every human being’s heart the lure of wonder, the unfailing child-like appetite of what’s next, and the joy of the game of living. In the center of your heart and my heart, there is a wireless station; so long as it receives messages of beauty, hope, cheer, courage and power from men and from the Infinite, so long are you young. 


When the aerials are down, and your spirit is covered with snows of cynicism and the ice of pessimism, then you are grown old, even at twenty, but as long as your aerials are up, to catch the waves of optimism, there is hope you may die young at eighty.



T h a n h  X u â n

Dịch giả: Hồ Kim Sơn

Thanh xuân không phải là năm tháng cuộc đời mà là trạng thái tâm linh; thanh xuân không phải là chuyện má đỏ, môi hồng, và giò thon mà là ý chí kiên định, trí tưởng hoằng vĩ, và cảm xúc dâng tràn; thanh xuân là suối nguồn thâm uyên tươi mát của sinh mệnh.

Thanh xuân có nghĩa là khí chất siêu việt của lòng quả cảm chiến thắng nhu nhược, của ước vọng mạo hiểm chiến thắng tình yêu an dật. Điều này thường thấy trong một ông già sáu chục hơn là ở cơ thể của lứa tuổi đôi mươi. Không ai già đi vì tháng năm chất chồng. Chúng ta già đi vì buông lơi lý tưởng. 

Năm tháng có thể làm nhăn nhúm làn da, nhưng từ bỏ nhiệt huyết làm tâm hồn cằn cỗi. Lo âu, sợ hãi, thiếu tự tin khiến con tim quằn quại và đưa đẩy linh hồn về với cát bụi.

Dẫu sáu mươi hay mười sáu, trong tâm thâm ai cũng có niềm cám dỗ hiếu kỳ, nỗi khát khao bền bỉ hồn nhiên muốn vươn lên tầng nấc cao hơn, và lạc thú của trò chơi cuộc sống. Trong tâm hồn của bạn và của tôi có một trạm vô tuyến điện đài; chừng nào nó vẫn còn tiếp nhận tín hiệu của cái đẹp, hy vọng, niềm vui, quả cảm và sức mạnh từ con người và Thượng Đế, chừng đó bạn vẫn còn thanh xuân. 

Khi cần ăng-ten bị gỡ xuống, và tâm hồn bạn bị băng tuyết của hoài nghi và yếm thế phủ đầy, lúc ấy bạn sẽ bị lão hóa, dù chỉ mới ở tuổi hai mươi; nhưng chừng nào cần ăng-ten được dựng lên, để tiếp nhận những tín hiệu lạc quan, thì vẫn còn hy vọng là bạn có thể chết trong thanh xuân ở tuổi tám mươi.

Copyright © 2010 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

18 tháng 9, 2010

Một Bản Kiểm Kê Quan Hệ Việt-Mỹ (2)

Tác giả: Carlyle A. Thayer
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Nguồn: Asia Pacific Bulletin

Quan hệ quân sự hàng ngang phát triển chậm chạp từ sau năm 1995 bởi vì Việt Nam lo ngại quan hệ quốc phòng có thể vượt qua quan hệ kinh tế. Vào năm 2000, Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu trao đổi những chuyến viếng thăm cấp bộ trưởng quốc phòng, trên cơ sở hỗ hoán, mỗi ba năm một lần. Năm 2008, hai quốc gia khai mạc cuộc Đối thoại Chính sách, An ninh và Quốc phòng đầu tiên để trao đổi quan điểm về an ninh khu vực và những vấn đề chiến lược, và vào tháng tám 2010, họ đã tổ chức cuộc Đối thoại Quốc phòng đầu tiên. Cuộc Đối thoại Quốc phòng này tập trung vào những vấn đề song phương chẳng hạn như tổng kết vấn đề Binh sĩ Mỹ mất tích, bom mìn chưa nổ còn sót lại từ thời chiến tranh, vấn đề Chất độc Da cam, cùng những lãnh vực hợp tác khác trong tương lai.

Quan hệ quân sự tiến triển đáng kể trong năm 2009, dường như nhằm để đáp trả lại thái độ hung hăng của Trung Quốc trên vùng biển Nam Trung Hoa [Biển Đông Việt Nam]. Một số giới chức quân sự Việt Nam đã ra thăm một hàng không mẫu hạm đang hoạt động trong vùng biển Nam Trung Hoa. Việt Nam đã đồng ý sửa chữa những tàu Điều phối Hải vận của Quân đội Hoa Kỳ. Nhân dịp kỷ niệm chu niên lần thứ mười lăm bình thường hóa quan hệ, ông phó đại sứ Việt Nam đã đến thăm hàng không mẫu hạm USS George W. H. Bush tại Norfolk, tiểu bang Virginia, trong khi đó bên kia nửa vòng trái đất những giới chức quân sự và chính quyền địa phương Việt Nam cũng đáp máy bay ra viếng hàng không mẫu hạm USS George Washington đang hoạt động ngoài khơi bờ biển miền trung Việt Nam. Cùng một thời gian, Hoa Kỳ và Việt Nam đã thực hiện những hoạt động phối hợp hải quân đầu tiên.

Trong lúc mối bang giao giữa hai quốc gia rõ ràng đang được thúc đẩy bằng động lực mới, con đường phía trước vẫn còn nhiều ước thúc và khó khăn tiềm tàng. Mối quan ngại trước tiên như lời bà Ngoại trưởng Clinton mô tả là “những khác biệt sâu sắc” về nhân quyền và tự do chính trị. Vấn đề nhân quyền vẫn còn là mấu chốt bất đồng trong mối quan hệ song phương. Giới chức Hoa Kỳ tuyên bố thẳng thắn rằng không thể bán vũ khí cho Việt Nam chừng nào tình hình nhân quyền ở đó chưa được cải thiện.

Ước thúc thứ hai phát sinh từ giới bảo thủ ở Việt Nam, thành phần cho đến tận bây giờ vẫn còn tỏ thái độ hoài nghi Hoa Kỳ. Những người này không phải chỉ cho rằng tự do tôn giáo, nhân quyền, và dân chủ là công cụ để ngấm ngầm phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, họ còn lập luận rằng việc trao đổi giáo dục cũng là một bộ phận của “âm mưu tiến hóa hòa bình.” Giới bảo thủ này phản đối tiến trình hiện hành trong quan hệ quốc phòng viện lí do là nó có thể gây ra mâu thuẫn trong mối quan hệ Việt-Trung.

Ước thúc thứ ba là kỳ vọng khác biệt trong lãnh vực cải cách kinh tế. Việt Nam tỏ ra không hài lòng đối với các cơ chế mà họ gọi là chướng ngại mậu dịch có động cơ chính trị chẳng hạn như thuế chống khuynh tiêu [thuế chống bán phá giá] và thuế chống bao cấp đánh vào hàng hóa Việt Nam, cũng như việc Hoa Kỳ gây áp lực thúc đẩy Việt Nam cổ phần hóa những xí nghiệp do nhà nước làm chủ. Hoa kỳ đã đề nghị giúp đỡ kỹ thuật trong lãnh vực mậu dịch và đầu tư và mong muốn khuyến khích quy chế quản lý thiện mỹ. Nhưng trên đường vẫn còn nhiều rào cản. Tham nhũng tràn lan và gây tác hại cho tất cả mọi thành phần. Tiến trình quyết định chính sách của chính phủ Việt Nam thiếu tính minh bạch, chẳng hạn như việc áp đặt chính sách kiểm soát giá cả gần đây. Những ước thúc này phải được giải quyết để mối quan hệ song phương có thể tiến triển êm thắm lên một mức cao hơn trong việc hợp tác có cơ sở khoáng đại. Bốn vấn đề cần phải được giải quyết: giảm thiểu những hạn chế về việc truy cập Internet, ký kết một hiệp ước đầu tư song phương, chấp thuận tăng số nhân viên làm việc cho tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội, và nâng cấp hợp tác giáo dục để những trường đại học Hoa Kỳ được phép hoạt động ở Việt Nam.

Carlyle A. Thayer là giáo sư chính trị tại Học Viện Quốc Phòng Úc

Trở lại Phần 1

Copyright © 2010 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Một Bản Kiểm Kê Quan Hệ Việt-Mỹ (1)

Tác giả: Carlyle A. Thayer
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Nguồn: Asia Pacific Bulletin


Nhân dịp kỷ niệm mười lăm năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố tại Hà Nội rằng Hoa Kỳ xem trọng Việt Nam “không phải chỉ vì khả năng ưu việt của nó, mà còn vì Việt Nam là một phần của chiến lược nhằm tăng cường việc tiếp cận của Hoa Kỳ trong vùng Á Thái, và đặc biệt là khu vực Đông Nam Á.” Theo lời của bà Ngoại trưởng, tất cả các cơ cấu chủ yếu đã được sắp xếp sẵn sàng để Hoa Kỳ đưa mối quan hệ với Việt Nam “lên một đẳng cấp cao hơn trong việc tiếp cận, hợp tác, hữu nghị, và đối tác.”

Mười lăm năm trước, quan hệ song phương giữa hai quốc gia đã bị đè nén bởi những vấn đề chưa được giải quyết do hậu quả của Chiến tranh Việt Nam gây ra: giải đáp đầy đủ về vấn đề Tù binh chiến tranh/Binh sĩ Mỹ mất tích (POW/MIA), vấn đề người Việt tị nạn, và yêu sách Việt Nam đòi hỏi Hoa Kỳ phải xử lý "vết thương chiến tranh" và chấm dứt hậu thuẫn những người Việt lưu vong chống cộng tìm cách lật đổ chính quyền Hà Nội. Những vấn đề di lưu này vẫn còn dai dẵng cho đến ngày nay nhưng chúng không còn là tâm điểm trong mối quan hệ song phương giữa hai quốc gia. Hoa Kỳ công nhận Việt Nam đã nỗ lực hết mình trong việc giải đáp toàn bộ vấn đề binh sĩ Mỹ mất tích. Tuy nhiên, vấn đề POW/MIA vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của chính phủ Hoa Kỳ trong mối quan hệ với Việt Nam. Để đáp lại sự hỗ trợ của Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề binh sĩ Mỹ mất tích, Hoa Kỳ đã lấy hợp tác y tế làm nền tảng cho kế hoạch trợ giúp Việt Nam và đã chi thẳng ba phần tư số tiền tài trợ cho chương trình phòng chống HIV/AIDS và nạn dịch cúm.

Việt Nam vẫn luôn thôi thúc hỗ huệ trong việc giải quyết những vấn đề lưu di, và trong những năm gần đây đã yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ giải quyết những điểm nóng trong vấn đề Chất độc Da cam. Quốc hội Hoa Kỳ đã chuẩn chi ngân sách giúp đỡ việc tiêu trừ chất độc dioxin và cung cấp những phương tiện y tế tại Đà Nẳng, nơi trước đây có kho chứa Chất độc Da cam. Tại Hà Nội, bà Ngoại trưởng Hillary Clinton đã hứa hẹn “tăng cường hợp tác và cùng nhau thúc đẩy tiến bộ to lớn hơn” để đối phó với di hại của Chất độc Da cam.

Kinh tế chiếm vị thế trọng tâm trong năm 2000 với việc ký kết Hiệp định Mậu dịch Song phương, tiếp theo là Hiệp định Mậu dịch và Đầu tư vào năm 2007. Mậu dịch hai chiều đã tăng vọt từ 450 triệu USD vào năm 1995 lên 12.9 tỷ USD trong năm 2009. Những giới chức trong chính quyền Obama ủng hộ Việt Nam trong nỗ lực tham gia toàn diện vào Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương để mở rộng mậu dịch tự do. Các công ty Hoa Kỳ đã đầu tư 9.8 tỷ USD vào Việt Nam, đưa Hoa Kỳ lên hàng thứ sáu trong bảng xếp hạng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Quan hệ kinh tế còn bao gồm cả Hiệp định Vận tải Hàng không Song phương (ký kết năm 2003, tu chỉnh năm 2008) và Hiệp định Hàng hải Song phương (ký kết năm 2007). Hiện đã có hơn hai trăm biên bản ghi nhớ được ký kết giữa các trường đại học của hai quốc gia.

Quan hệ chính trị được đều đặn cải thiện kể từ năm 2000, khi Tổng thống Bill Clinton trở thành vị tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên đến viếng Hà Nội. Năm 2006 và 2007, tổng thống Hoa Kỳ và chủ tịch nước Việt Nam đã trao đổi những chuyến viếng thăm qua lại. Một bước ngoặc trọng yếu đã xảy ra vào tháng 6 năm 2008 khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng viếng thăm Washington. Trong một bản thông cáo chung, Hoa Kỳ tuyên bố tôn trọng chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và phản đối mọi hình thức dùng vũ lực để lật đổ chính quyền Hà Nội, như vậy là giải quyết những quan ngại của Việt Nam đã đề cập bên trên.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng quay lại Washington vào tháng tư năm 2010 để tham dự Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Hạt nhân do Tổng thống Barack Obama chủ trì. Cũng trong tháng tư này, hai quốc gia đã ký kết một biên bản ghi nhớ về hợp tác năng lượng nguyên tử bao gồm quyền sử dụng những nguồn nhiên liệu nguyên tử đáng tin cậy. Thỏa thuận này được cho là sẽ mở cửa cho những công ty Bechtel và General Electric có thể bán lò phản ứng hạt nhân cho Việt Nam.

Xem tiếp Phần 2

Copyright © 2010 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

16 tháng 9, 2010

Ôn Gia Bảo Đòi Cải Cách Chính Trị (2)

Tại Sao Ngôn Luận Của Ôn Gia Bảo Tại Thâm Quyến
Vang Vọng Khắp Nơi
(Phần 2)

Tác giả: Hồ Thư Lập - 胡舒立 
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: 温家宝深圳讲话为何受关注 


Về mặt nhận thức, những mối ưu lo của chúng ta cũng là một trong các nguyên nhân gây ra tình trạng dậm chân tại chỗ của công cuộc cải cách thể chế chính trị. Mối ưu lo lớn lao nhất là tâm lý e rằng nếu việc cải chính có chút gì không được thực thi cẩn thận thì sẽ dẫn đến trạng thái biến động xã hội. Mối ưu lo này là điều có thể lý giải và đáng được trọng thị, nhưng nếu ưu lo quá độ thì sẽ trì hoãn việc cải chính và trầm trọng hóa các nhân tố gây ra bất ổn xã hội. 
        Trải qua hơn 30 năm cải cách và khai phóng, chúng ta cần phải nhận thức rõ rằng khuông giá của thể chế kinh tế thị trường đã được xác lập, cơ cấu kinh tế và xã hội của Trung Quốc đã chuyển hóa tận gốc rễ, mối liên kết kinh tế giữa các giai tầng và các khu vực cũng rất vững vàng, quan hệ sản quyền của công dân và xí nghiệp cũng như quan hệ pháp luật đã đạt mức minh bạch chưa từng thấy, ý thức cá nhân độc lập, ý thức quyền lợi, và nhu cầu tham dự của công dân đã bắt đầu phát triển. Các tổ chức phi chính phủ cũng như các mạng lưới xã hội khác càng ngày càng hoạt động tích cực. Thế hệ công dân mới đang mong chờ cơ hội kiến thiết một xã hội lý tính thông qua quá trình khải mông. Bởi thế nếu việc cải chính được tiến hành từ từ và có trật tự thì không nhất thiết cần phải lo lắng về vấn đề “bè phái phân tranh tứ tung, đất nước chẳng có ngày yên ổn. Kinh nghiệm chuyển hình của các quốc gia và khu vực phụ cận cho ta biết rõ sóng bé bão nhẹ là chuyện khó tránh trong quá trình cải cách thể chế chính trị, nhưng nếu chúng ta vững bước tiến về hướng xã hội dân chủ chân chính thì các cơ chế vận hành kinh tế và xã hội hiện đại do chúng ta tạo dựng tuyệt đối không dễ bị phá vỡ. Hơn nữa, không những cải chính cần phải được xúc tiến đồng thời với cải cách xã hội và văn hóa, mà cần phải hỗ tương phụ trợ các cải cách kinh tế phức tạp hơn.
        Khi Đặc Khu Kinh Tế Thâm Quyến được thành lập cách đây 30 năm, lúc ban đầu nó đã gây ra một cuộc tranh luận kịch liệt xoay quanh vấn đề chủ chốt là Trung Quốc có nên cải cách hay không. Nếu vào thời điểm đó việc tranh luận chỉ tập trung vào phạm trù ý thức hệ thì bây giờ nó đã được đa dạng hóa dựa trên sự cạnh tranh của nhiều quyền lợi đối kháng rất phức tạp. Nếu muốn xúc tiến toàn diện công cuộc cải cách, chúng ta cần phải thiết lập các cơ chế  đối thoại và hiệp thương để những đoàn thể lợi ích có điều kiện tương tác và hội đàm nhằm ngăn chận tệ nạn độc đoán của thiểu số cũng như tình trạng bạo chính của đa số.” Đương nhiên, nói cho cùng thì cải cách cũng không thể hoàn toàn phục vụ nhu cầu của các đoàn thể lợi ích. Hiện tại, xung đột lợi ích xã hội đã gia tăng cao độ, những sự kiện mang tính quần chúng cũng phát sinh liên miên, lòng dân muốn thay đổi và khí thế của họ có thể khai thác. Quý vị chính khách phú hữu đảm lượng và trí tuệ muốn tìm kiếm những lực lượng xã hội có thể nương nhờ không phải là chuyện khó khăn, và từ đó có thể nhổ neo khởi hành công cuộc cải cách thể chế chính trị, rồi thuận gió dương buồm đưa con thuyền cải cách toàn diện ra khơi. 
      Vì tính mẫn cảm đặc hữu của nó, chủ trương cải chính trong hai năm nay thường được thay thế bằng những khái niệm hạn hẹp như cải cách chính phủcải cách thể chế hành chính mà thực chất chỉ là một phương thức tránh né nhiệm vụ chủ thể của công cuộc cải cách. Kết quả tất yếu là việc xúc tiến khó đạt được hiệu suất cao. Lần này ngôn luận của Ôn Gia Bảo đề xuất cụ thể rằng nhiệm vụ cải cách thể chế chính trị là: Phải bảo vệ quyền lợi dân chủ cũng như quyền lợi pháp luật của nhân dân; phải động viên và tổ chức rộng rãi để nhân dân có điều kiện tham gia quản lý công việc của nhà nước cũng như các sự vụ kinh tế, xã hội, và văn hóa của quốc gia theo luật định; phải giải quyết, bằng quy trình chế độ, vấn đề tập trung quyền lực quá mức nhưng thiếu cơ cấu ước thúc, tạo điều kiện để nhân dân có thể phê bình và giám đốc chính phủ, kiên quyết trừng trị tham ô, hủ bại; phải kiến thiết một xã hội có chính nghĩa và công bình, đặc biệt là phải bảo vệ tính chất công chính của hệ thống tư pháp, trọng thị việc bảo hộ và giúp đỡ các thành phần nhược thế, để nhân dân có một cuộc sống an toàn và tin tưởng vào sự phát triển của quốc gia. Chủ trương bốn phải nầy nêu ra những mấu chốt quan trọng, bao hàm nhiều ý tưởng sâu sắc, có thể xem là khởi điểm đột phá của công cuộc cải cách, nhưng điều quan trọng là chúng ta phải tức tốc hành động.

Hồ Thư Lập: Đương nhiệm tổng biên tập của công ty Truyền Thông Tài Tân, tổng biên tập của tuần báo Tân Thế Kỷ, chấp hành tổng biên tập của tạp chí Trung Quốc Cải Cách, giáo sư, viện trưởng Học Viện Truyền Bá Và Thiết Kế của Đại Học Trung Sơn.


Trở lại Phần 1
         
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Ôn Gia Bảo Đòi Cải Cách Chính Trị (1)

Tại Sao Ngôn Luận Của Ôn Gia Bảo Tại Thâm Quyến
Vang Vọng Khắp Nơi
(Phần 1)

Tác giả: Hồ Thư Lập - 胡舒立 
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn


26 tháng 8 năm nay là ngày kỷ niệm 30 năm thành lập Đặc Khu Kinh Tế Thâm Quyến. Nhân dịp nầy tư triều cải cách lại ào ào trỗi lên, trong đó lời phát biểu của Thủ Tướng Ôn Gia Bảo tại Thâm Quyến là ngôn luận thu hút nhiều chú ý hơn cả. Lý do là vì Thủ Tướng Ôn đã trịnh trọng tái khẳng định tính chất trọng yếu của công cuộc cải cách thể chế chính trị, đề xuất rằng Trung Quốc không những phải xúc tiến cải cách thể chế kinh tế mà còn phải xúc tiến cải cách thể chế chính trị. Nếu không được cải cách thể chế chính trị bảo vệ, thành quả đã gặt hái được trong quá trình cải cách thể chế kinh tế sẽ tiêu tan và nỗ lực hiện đại hóa quốc gia sẽ thất bại.
        Mặc dù không được giới thông tấn chính thức đặt vào vị trí nổi bật, nhưng câu nói này đã vang vọng mãnh liệt khắp Trung Quốc cũng như hải ngoại. Điều này cũng đủ để chứng tỏ rằng công chúng vẫn đang khát khao mong chờ việc thực thi cải cách chính trị, một nhiệm vụ đã được vạch ra tường tận trong bản báo cáo mang tựa đề “Xây Dựng Nền Chính Trị Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa tại Đại Hội Đảng Lần Thứ 17 ba năm về trước. 
        Tri dị hành nan (biết dễ làm khó). Thời khắc quan kiện mà Trung Quốc buộc phải thực thi cải cách thể chế chính trị đã đến. Trong những năm gần đây, tuy cải cách thể chế kinh tế không ngừng phát triển theo chiều hướng kỹ thuật hóa nhưng trong nhiều lãnh vực mà chính phủ đã trịnh trọng cam kết, như thuế vụ và điều chỉnh quy chế định giá nhân tố, vẫn không có đột phá gì đáng kể. Nguyên nhân dĩ nhiên là phức tạp, nhưng chướng ngại chủ yếu vẫn là tình trạng dậm chân tại chỗ của công cuộc cải cách chính trị. Vì việc cải chính trì trệ nên văn hóa và cải cách thể chế xã hội cũng khó có đột phá lớn lao. Chướng ngại càng ngày càng dồn dập trên con đường cải chính đã tạo ra phân kỳ trong quần chúng về triển vọng và giá trị của chính bản thân cải cách. Khi cải cách đã vượt qua mốc 30 năm và tổng sản lượng kinh tế Trung Quốc đã đứng vào địa vị thứ nhì trên thế giới, giới lãnh đạo không thể trốn tránh việc tái khẳng định rằng phải kiên trì xúc tiến cải cách và khai phóng, đất nước mới có tiền đồ sáng sủa. Hiện trạng phản ánh quá rõ ràng vấn nạn suy giảm của hiệu ứng biên tế trong quá trình cải cách. Cải cách thể chế chính trị không thể trì hoãn và chúng ta không thể chờ đợi lâu hơn nữa.
        Mối quan hệ giữa cải cách thể chế chính trị và cải cách thể chế kinh tế có tính chất tương ỷ và tương phối.” Đặng Tiểu Bình, nhà tổng thiết kế cải cách và khai phóng, đã sớm nhận thức rõ ràng điều nầy: Tất cả mọi cải cách của chúng ta có thành công hay không rốt cuộc rồi cũng do cải cách thể chế chính trị quyết định. 
        Nhìn lại giai đoạn đầu của công cuộc cải cách và khai phóng chúng ta có thể thấy rằng cải cách thể chế kinh tế và cải cách thể chế chính trị đã từng một thời rốt ráo song hành. Phế trừ chế độ tại nhiệm suốt đời trong các chức vụ lãnh đạo, xúc tiến việc tách rời chức năng của Đảng và chính phủ, tăng cường vai trò của Đại Hội Đại Biểu Nhân Dân Toàn Quốc, khuyến khích đối thoại giữa chính phủ và công chúng trong việc giải quyết những vấn đề trọng đại ... đều là những thử nghiệm sơ kỳ của công cuộc cải cách. Nhưng sự thật không thể chối cãi là trong hơn 20 năm qua sức mạnh của cải cách thể chế chính trị đã sút giảm và trở nên quá khiếm khuyết. Chúng ta cần thận trọng cảnh giác trước một luận điệu mới được đề xướng gần đây: Thành công lớn lao của nền kinh tế Trung Quốc đã chứng minh ngược lại rằng chế độ chính trị Trung Quốc cũng thành công. Theo lập luận này thì chế độ chính trị Trung Quốc trong 60 năm qua chẳng có gì biến đổi và xét ra thì nó thích hợp cho cả kinh tế kế hoạch lẫn kinh tế thị trường. Dựa trên “ưu thế chính trị của loại “mô thức Trung Quốcnày, vì quá khứ đã không đòi hỏi cải cách thì không lý gì cải cách lại cần thiết cho tương lai. Luận điệu này không chịu nhìn nhận hiện thực sờ sờ trước mắt là thể chế chính trị không còn thích hợp cho công cuộc phát triển kinh tế và hơn nữa nó lại mâu thuẫn với quyết sách cải chính đã được công bố của Trung Cộng, cũng như trắng trợn xem thường khát vọng của nhân dân trong vấn đề này.
  
Xem tiếp Phần 2       

Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn