Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



31 tháng 8, 2010

Tiếng Chuông Báo Tử (Phần 3)

Sự sụp đổ của các chế độ cộng sản vào cuối thế kỷ vừa qua thường được xem là kết quả của tình trạng phá sản kinh tế, biến đổi về bản chất của văn hóa chính trị, sự hủ hóa thậm tệ của chế độ, sự thất bại của mọi hệ thống bưng bít thông tin, và sự thật về những "xấu xa" của chủ nghĩa tư bản và chế độ dân chủ tự do được phơi bày và so sánh. Nhưng bên cạnh những nguyên nhân hiển nhiên này, tình trạng quần chúng mất hết lòng tin vào đảng và nhà nước cộng sản, cọng thêm tâm lý hết sợ hãi trước những công cụ bạo lực dùng để trấn áp nhân dân và bảo vệ chế độ, đóng vai trò xúc tác quan trọng nhất.

Biểu tình tại Cổng Brandenburg, 1989
       Trong bài diễn văn kỷ niệm 750 năm thành lập thành phố Bá Linh vào ngày 12 tháng sáu năm 1987, tại Cổng Brandenburg, Ronald Reagan, Tổng Thống đương thời của Mỹ, đã thách thức TBT Mikhail Gorbachev mở cổng, phá tường: "Tổng Bí Thư Gorbachev, nếu ông muốn tìm kiếm hòa bình, nếu ông muốn tìm kiếm thịnh vượng cho Liên Xô và Đông Âu, nếu ông muốn giải phóng, mời ông hãy đến tại cổng này. Ông Gorbachev, hãy mở toang cánh cổng này. Ông Gorbachev, hãy phá hủy bức tường này!" Có lẽ những biến động chính trị căng thẳng tại Liên Xô đã cột chân Gorbachev khiến ông ta không thể tức khắc hưởng ứng lời kêu gọi của Reagan. Nhưng hành trình đi tìm tự do và giá trị con người của dân chúng Đông Đức không thể trì hoãn. Dưới sự ủng hộ của giáo hội Tin Lành, đến giữa mùa thu 1988, làn sóng chống đối đã lan rộng  khắp nước, yêu cầu xây dựng "một xã hội có khuôn mặt nhân tính" và sang đầu năm 1989 thì biến thành lập trường đòi hỏi "giải phóng chế độ."

        Một mặt, những buổi biểu tình vào ngày thứ 2 mỗi tuần (Montagsdemonstrationen) dưới dạng thức "cầu nguyện" thường xuyên được tổ chức để phản đối nhà nước cảnh sát, đòi hỏi thực thi dân chủ, và cầu nguyện hòa bình. Một mặt, hàng mấy chục ngàn người ào ào bỏ nước đi tìm tự do ở Tây Đức hoặc các nước tự do khác qua ngõ Tiệp Khắc và Hungary trong cao trào tỵ nạn được mệnh danh là Republikflucht tức là Ly Khai Cộng Hòa (Dân Chủ Đức). Đến giữa mùa thu 1989 thì quy mô và sức mạnh của những cuộc biểu tình này đã vượt quá sức tưởng tượng và khả năng chế ngự cửa giới lãnh đạo Đông Đức. Chẳng hạn, ngày 9 tháng 10, 1989, tại Nikolaikirche (hồi đó dân số khoảng 500.000) có hơn 70.000 người xuống đường. Ngày 16 tháng 10, 1989 tại Leipzig lại có hơn 120.000 hô hào khẩu hiệu Wir sind das Volf! (Chúng tôi là nhân dân!) nhắc nhở giới cầm quyền rằng một nước dân chủ cộng hòa phải do người dân làm chủ chứ không thể do một đảng phái phi dân chủ tự nhận là đại diện nhân dân. Hai ngày sau Bộ Chính Trị ép buộc lãnh tụ Erich Honecker (một người cương quyết không chấp thuận thỏa hiệp với người biểu tình) từ chức. Nhưng sự truất phế Honecker cũng không xoa dịu phần nào ý chí của người dân. Ngày 23 tháng 10, 1989, tổng số người biểu tình tại Leipzig tăng lên đến hơn 320.000. Lực lượng đấu tranh vũ bão khắp toàn quốc của người dân tuy phi vũ trang nhưng có thể hoàn toàn vô hiệu hóa bộ máy trấn áp của nhà nước, và giới lãnh đạo buộc phải ra lệnh triệt thoái mọi lực lượng an ninh. Ngày 4 tháng 11, 1989 hơn nửa triệu người xuống đường tại Đông Bá Linh và năm ngày sau đó giới lãnh đạo tuyên bố mở cổng giao thông biên giới, trao trả quyền tự do đi lại cho dân chúng, đánh dấu sự sụp đổ của Trường Thành Bá Linh và chế độ cộng sản Đông Đức.

Boris Yeltsin đứng trên xe tăng chống đối nhóm Đảo Chánh Tháng Tám
        Vào năm 1986, trong cương vị chủ trì Đại Hội Đảng lần thứ 27, TBT Gorbachev đã tuyên bố rằng Đảng Cộng Sản Liên Xô phải "cải tổ hoặc chết." Nhưng thay vì ủng hộ chính sách cởi mở và cải cách của Gorbachev (mà người dân vẫn cho là còn quá khiếm khuyết), nhóm lãnh đạo bảo thủ, vì muốn duy trì đường lối toàn trị cứng rắn cũ, đã tổ chức cuộc Đảo Chánh Tháng Tám và giam lỏng Gorbachev vào tháng 8, năm 1991. Nhưng hành động của phe đảo chánh đã mang lại hiệu quả trái ngược, tạo cơ hội để quần chúng đoàn kết ra sức chống đối, tăng tốc cái chết của chế độ. Trước những họng súng đại bác của đoàn xe tăng rầm rộ tiến vào Moscow để đe dọa và trấn áp, chỉ trong vòng một ngày đã có hơn 100.000 thường dân ngang nhiên xuống đường vây quanh quốc hội để ủng hộ Boris Yeltsin, lãnh tụ phái chủ trương cải cách dân chủ triệt đễ. Cuộc Đảo Chánh Tháng Tám thất bại ê chề, chết yểu chỉ trong vòng 60 tiếng đồng hồ, đánh dấu sự sụp đổ toàn diện của Đảng Cộng Sản và Liên Bang Xô Viết.

Hàng rào khiên nhựa của CSCĐ tại Bắc Giang
      Nếu Trường Thành Bá Linh không ngăn chận được bước chân đi tìm tự do và nhân quyền của người dân Đông Đức, nếu đoàn xe tăng T-54 của Hồng Quân Liên Xô không thể đẩy lùi làn sóng quần chúng quyết tâm hạ bệ Đảng Cộng Sản Liên Xô, thì hàng rào khiên nhựa của Cảnh Sát Cơ Động Việt Nam chỉ là đồ chơi của trẻ nít. Bài học về nguyên nhân phá sản của chủ nghĩa cộng sản chưa ráo mực, nhưng quý vị lãnh đạo ĐCSVN dường như vẫn cố ý phớt lờ, thậm chí còn muốn cúp cua luôn môn sử. Nếu họ cứ say sưa với quyền lực và danh lợi phi nghĩa, không kịp thời đưa ra những cải tổ dân chủ và nhân quyền thực sự thì tiếng khóc của bà mẹ già bên mộ người con uổng tử vì bạo hành cảnh sát sẽ trở thành hồi chuông cáo chung chế độ.

Nam Hải Trường Sơn
Mùa Hè 2010

Di ảnh anh Nguyễn Văn Khương
Trở lại Phần 2
[ Đọc Tiếp ]

26 tháng 8, 2010

Linh Sơn Chương 4.2


Rồi một hôm có đoàn kỵ mã từ Mã Nhĩ Khang kéo đến vây đánh, đó chẳng qua cũng chỉ là một đám thổ phỉ khác khao khát dòm ngó miếng đất ngồi chơi xơi nước béo bở này đã lâu. Hai bên chiến đấu kịch liệt hơn hai ngày, bên nào cũng có tử thương, nhưng vẫn chưa phân thắng bại. Cuối cùng chúng đề nghị giảng hòa, trích huyết ăn thề. Cánh cổng lớn được mở ra để đón tiếp đối phương. Trên lầu, dưới lầu, hai đám thổ phỉ tụ lại nhậu nhẹt, vui chơi hả hê. Thực ra đây là mưu kế của Lão Đại, hắn muốn chuốc rượu cho đối phương say mèm để thanh toán gọn. Hắn ra lệnh cho đám thê thiếp ăn mặc hở hang khêu gợi, vờn qua vờn lại trước mặt bọn thổ phỉ như một đàn bướm. Không phải chỉ là đối phương mà cả hai đám thổ phỉ ấy có tên nào kháng cự nổi sức cám dỗ này. Đứa nào đứa nấy say như điếu đổ. Chỉ có hai tên đầu sỏ vẫn còn ngồi ngay ngắn bên bàn, và theo ước định trước, Lão Đại đưa tay lên búng đốp một tiếng. Tống Quốc Thái bước lại rót thêm rượu rồi bất thần chụp lấy cây súng đặt trên bàn của tên đầu sỏ kia. Nói thì chậm nhưng lúc đó chuyện xảy ra nhanh như chớp, hai phát súng đoàng đoàng vang lên, hai tên thủ lãnh, kể cả Lão Đại, ngả nhào xuống đất. Tống Quốc Thái quay lại hỏi: “Còn đứa nào không phục?” Đám thổ phỉ đưa mắt nhìn nhau sửng sốt, chẳng có tên nào dám hó hé. Thế là từ đó Tống Quốc Thái lên ngai vàng, vào sống trong tiểu viện của Lão Đại, và đám thê thiếp của y dĩ nhiên là thuộc về quyền sở hữu của hắn.
        Câu chuyện hấp dẫn và đầy kịch tính! Rõ ràng ảnh chẳng huênh hoang chút nào khi nói rằng có lúc nghe ảnh thuyết trình nhiều nữ sinh viên đã cảm động, rơi nước mắt. Ảnh kể tiếp chuyện bọn thổ phỉ bị tiêu diệt vào năm 1950. Năm ấy vào một đêm tối, Giải Phóng Quân đưa hai đại đội đến bao vây doanh trại và khu tiểu viện này, sáng ra họ kêu gọi bọn thổ phỉ buông súng cải tà quy chánh, và cảnh cáo rằng ngoài cổng lớn có nhiều họng súng máy phong tỏa, khuyên chúng đừng tên nào nghĩ đến chuyện tẩu thoát. Ảnh nói hăng hái y như thể là đang tham gia chiến đấu vậy.
        “Rồi sau đó ra sao?”
        “Ban đầu, đương nhiên chúng ngoan cố kháng cự nên bộ đội dùng súng cối oanh kích khu tiểu viện. Bọn thổ phỉ còn sống sót vứt hết súng ống ra đầu hàng và trong số ấy không thấy bóng dáng Tống Quốc Thái đâu. Bộ đội lục soát khu tiểu viện nhưng cũng chỉ thấy đám phụ nữ ôm nhau khóc thút thít. Người ta nói khu tiểu viện có đường hầm thông lên trên núi, nhưng chẳng ai tìm ra manh mối, còn Tống Quốc Thái thì biệt tăm, biệt tích. Bây giờ hơn bốn chục năm rồi, có người nói hắn vẫn còn sống, có người nói hắn đã chết, nhưng không có bằng chứng chính xác, đó chẳng qua chỉ là những lời đồn đãi.” Ảnh ngồi xuống chiếc ghế bành bằng mây, gõ nhẹ đầu mấy ngón tay vào vành ghế, phân tích:
        “Có ba giả thuyết bàn về tông tích của hắn. Một là hắn ta chạy thoát được trốn sang xứ khác, thay tên đổi họ, trở thành một nông dân, chăm lo cày cấy làm lại cuộc đời. Hai là hắn đã bị bắn chết trong cuộc đụng độ ấy nhưng bọn thổ phỉ không nói ra. Thổ phỉ cũng có quy củ riêng của chúng, tuy trong nội bộ chúng chém giết nhau đến trời nghiêng đất ngả, nhưng chúng chẳng bao giờ chịu thố lộ một điểm nội tình với người ngoài. Hành vi của bọn thổ phỉ mang tính chất lưỡng diện, tuy một mặt thì rất tàn nhẫn, nhưng mặt khác chúng cũng có đạo đức và nghĩa khí giang hồ. Mấy cô gái ấy tuy bị bắt cóc mang về nhưng một khi đã vào sống trong hang ổ ấy thì cũng tự coi mình là đồng bọn, một mặt tuy bị hắn ngược đãi nhưng mặt khác lại cam tâm giữ bí mật cho hắn.” Ảnh lắc đầu, không phải là không thể lý giải, nhưng có lẽ là cảm khái rằng thế thái nhân tình quả thật phức tạp, tôi thầm nghĩ.
        “Đương nhiên cũng không thể loại trừ giả thuyết thứ ba cho rằng hắn chạy trốn vào rừng, không tìm được lối ra rồi chết đói trong đó.”
        “Cũng có chuyện người ta đi lạc vào rừng, không tìm được lối ra rồi chết luôn trong rừng sao?”
        “Sao lại không? Đừng nói là nông dân từ nơi khác đến đây đào củ thuốc, ngay cả những người thợ săn địa phương cũng bị chết khốn trong rừng.”
        “Ủa?” Tôi càng cảm thấy hứng thú.
        “Mới hồi năm ngoái nè, có một người thợ săn vào rừng hơn mười mấy ngày nhưng không thấy về. Người nhà đến nhờ chính quyền xã tìm kiếm, bên xã lại sang nhờ chúng tôi giúp đỡ. Chúng tôi phối hợp với công an kiểm lâm, phái người mang chó đi lùng. Chúng tôi cho chó ngửi quần áo anh ta rồi theo chân chúng đi tìm, cuối cùng tìm thấy anh ta bị kẹp chết trong khe đá.”
        “Làm sao lại bị mắc kẹt giữa khe đá?”
        “Nhiều lý do lắm, có thể là anh ta hoảng hốt mất bình tĩnh, đi săn lậu mà, trong khu bảo vệ này nhà nước nghiêm cấm việc săn bắn. Lại có chuyện anh bắn chết em nữa đó.”
        “Vì sao vậy?”
        “Người anh tưởng lầm đứa em là một con gấu. Hai anh em dẫn nhau vào rừng chăng bẫy bắt hươu để lấy xạ hương, thứ đó bán được tiền lắm. Đặt bẫy bây giờ cũng được hiện đại hóa, qua bên công trường xây dựng khu lâm sản lấy trộm giây cáp, một sợi giây thép cũng có thể làm thành một cái bẫy. Một ngày người ta có thể vào núi làm cả hàng trăm cái bẫy. Khu rừng này rộng ngút ngàn, chúng tôi không thể nào kiểm soát cho xuể. Cũng là do lòng tham lam cả, biết làm sao được. Sau một hồi mải mê gài bẫy, hai anh em không biết sao lại thất lạc nhau. Nếu nói như lời của người dân miền núi thì có vẻ mê tín quá vì họ cho rằng hai anh em ấy trúng hắc sơn thuật rồi bị giam hãm trên đầu núi, cứ đi lòng vòng không thoát ra được, cuối cùng bất ngờ gặp lại nhau. Trên đầu núi sương mù dày đặc, người anh thấy bóng người em ngỡ là một con gấu lớn nên giương súng bắn chết em. Sau khi biết mình giết lầm em, người anh quày quả về nhà giữa đêm khuya, đem hai cây súng của mình và của người em đặt bên cạnh tấm phên tre trước cửa chuồng heo để mẹ già sáng sớm dậy cho heo ăn có thể trông thấy. Rồi ảnh chẳng vào nhà mà vội vã quay trở vào rừng, tìm đến chỗ người em chết, lấy dao cắt cổ tự vẫn.”
        Tôi từ trên căn gác trống vắng ấy đi xuống, bâng khuâng đứng nhìn tấm sân rộng có thể chứa cả một đoàn kỵ mã ấy một lát rồi lang thang trở lại công lộ. Con đường vẫn vắng hoe, không một bóng người, không một chiếc xe. Tôi ngước mắt nhìn sang ngọn núi xanh thẳm ẩn hiện sau màn sương mù mông lung ở phía đối diện và bắt gặp một con đường lao gỗ màu trắng xám soải xuống theo sườn dốc, cây cối trên đường hoàn toàn đã bị phá hoại. Hồi đó, trước khi có công lộ này, hai bên sườn núi ắt hẳn là một vùng rùng rú rậm rạp. Tôi muốn đi vào khu rừng nguyên thủy nằm sau đỉnh núi, không hiểu tại sao nơi ấy có một mãnh lực vô biên thu hút lòng tôi.
        Những hạt mưa phùn vẫn không ngừng rơi và càng lúc càng thêm dày biến thành một bức màn mỏng trùm lên sườn núi; còn thung lũng và khe suối ở phía dưới thì lại càng mông lung và mịt mù hơn. Chuỗi sét đánh sau rặng núi trầm buồn và yếu ớt, âm thanh lúc ẩn lúc hiện. Bỗng nhiên tôi phát giác ra tiếng nước chảy của dòng sông nằm phía dưới công lộ còn sống động, huyên náo hơn. Dòng sông có lưu lượng sung mãn, gào thét mãnh liệt, cuồn cuộn không ngừng nghỉ, từ trên ngọn núi tuyết ào ào đổ xuống chảy vào Mân Giang, mang lại cảm giác trấn áp của một mãnh lực hung hiểm kinh người mà các con sông chảy trên đất bằng tuyệt đối không thể có. 

Xem tiếp Chương 5.1    Trở lại Chương 4.1

Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Tác giả: 高行健 - Cao Hành Kiện
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn

[ Đọc Tiếp ]

Linh Sơn Chương 4.1


Từ căn nhà trọ tập thể của khu bảo vệ tự nhiên tôi đến thăm ông xã trưởng người Khương. Chiếc ổ khóa lớn trước cổng nhà ổng vẫn còn y nguyên ở đấy. Tôi đến đây đã ba lần, nhưng lần nào ổng cũng vắng nhà. Tôi e rằng cánh cửa có thể đưa tôi đi vào thế giới huyền bí ấy bây giờ đã vĩnh viễn khép kín.
        Tôi đi lang thang dưới làn mưa phùn mông lung. Đã lâu lắm rồi tôi không có dịp thơ thẩn trong mưa bụi mịt mù như thế này. Trạm y tế của xã Ngọa Long vắng hoe. Ngoại trừ tiếng nước chảy róc rách đâu đó, như gần như xa, của một dòng suối hiền, rừng xanh cũng êm đềm và tĩnh mịch. Không biết đã có bao năm tháng đi qua chẳng có cảm giác vô tư lự này nên tôi cứ để tâm tưởng mình trầm lắng vào thiên nhiên, chẳng muốn nghĩ ngợi gì. Trên công lộ không có một bóng người, chẳng có xe cộ qua lại. Chung quanh đây chỉ có một màu xanh tươi thắm; trời đang độ nửa chừng xuân.
        Bên kia đường là một doanh trại hoang phế, chắc là doanh trại của tên thổ phỉ Tống Quốc Thái mà hồi hôm anh cán bộ của khu bảo vệ tự nhiên đã kể cho tôi nghe. Bốn mươi năm trước, ở đây chỉ có một sơn đạo duy nhất xuyên qua. Trên con đường ấy chỉ có những đoàn xe ngựa rong ruổi, ngược lên phía Bắc băng qua ngọn núi Ba Lãng cao gần năm ngàn mét để đi vào khu vực người Tạng trên cao nguyên Thanh Tạng, xuôi về phương Nam vượt qua thung lũng sông Dân để tiến vào bồn địa Tứ Xuyên. Những tay buôn bán á phiện từ dưới miền Nam lên, hay các đầu nậu chạy muối lậu ở trên miền Bắc xuống, đi ngang qua đây đều phải ngoan ngoãn trả tiền lộ phí; còn những ai muốn cãi lý, cự nự, làm ầm lên thì coi như là có đi không có về, đều được cho về chầu Diêm Vương hết.
        Doanh trại được hoàn toàn xây bằng gỗ. Hai cánh cổng nặng trĩu bằng gỗ đã được mở toang ra, phía sau cổng là một tấm sân hoang phế, rất rộng, có thể chứa được một đoàn kỵ mã ba bốn chục con, bên trong ba phía được bao quanh bằng mấy căn gác hai tầng. Hồi tưởng lại thuở ấy, một khi cánh cổng lớn này đã được bít chặt, với hàng trăm tên thổ phỉ đứng sau lan can cầm súng chĩa xuống, thì số phận của những người đến đây trọ đêm chẳng khác chi ba ba nằm trong chậu. Nếu có xảy ra chuyện đấu súng thì những người bị bao vây dưới sân cũng không có chỗ nào để trốn tránh hỏa lực từ trên những căn gác ấy nhả xuống.
        Hai đầu sân có hai cầu thang dẫn lên gác hai. Tôi cất bước đi lên trên ấy và sàn gỗ bắt đầu kêu cót két. Tôi vừa đi vừa cố ý giẫm mạnh chân xuống sàn ván để tự báo cáo sự hiện diện của mình, nhưng bốn bề lặng yên, không một bóng người. Tôi xô cửa bước vào từng gian phòng trống leo leo, đâu đâu cũng phủ đầy một lớp bụi dày cộm và phảng phất một mùi mốc meo khó chịu. Tôi ngó thấy một chiếc khăn tay màu xám tro treo lơ lửng trên sợi giây thép và một chiếc giày nằm bơ vơ bên xó cửa. Như vậy nơi đây đã từng có người trú ngụ và nhất định đó chỉ là chuyện mấy năm về trước mà thôi. Từ khi khu bảo vệ tự nhiên được thành lập thì hợp tác xã doanh thương, trạm thu mua thổ sản, trạm lương thực, trạm thú y, cùng với toàn bộ cơ cấu và nhân viên xã đóng trụ sở tại doanh trại này đều được dời sang bên con đường nhỏ dài khoảng một trăm mét do ban quản lý khu bảo vệ xây dựng. Dĩ nhiên bây giờ chẳng còn lại tông tích gì của trăm tên đàn em và trăm khẩu súng đã từng phục vụ dưới trướng trùm thổ phỉ Tống Quốc Thái. Nhưng hồi đó chúng nằm đây, gối đầu trên những chiếc chiếu lá, phì phà á phiện, mơn trớn mấy cô gái bị chúng bắt cóc đem về phục vụ. Những cô gái bất hạnh ấy ban ngày thì phải cặm cụi lo nấu nướng cho chúng, ban đêm thì bị chúng luân lưu cưỡng hiếp. Có khi vì phân chia của cướp không đều, có phi vì tranh giành một thiếu nữ trẻ đẹp, bọn chúng chửi bới, ẩu đả long trời lở đất. Trên sàn gỗ này hồi ấy ắt là náo nhiệt lắm.
        "Chỉ có tên đầu sỏ Tống Quốc Thái mới trị nổi bọn chúng. Gã này nổi tiếng tàn nhẫn, độc ác và rất xảo quyệt." Anh cán bộ làm công tác tuyên huấn của khu bảo vệ tự nhiên kể chuyện háp dẫn và có sức thuyết phục lắm. Ảnh khoe rằng ảnh thường thuyết trình với đám sinh viên đến đây thực tập về nhiều đề tài lắm, từ công tác bảo vệ gấu trúc cho đến chủ nghĩa yêu nước, các nữ sinh viên nhiều khi cảm động có người lệ tuôn trào, khóc nỉ non.
        Ảnh kể rằng trong số những cô gái bị bọn thổ phỉ bắt về có một nữ chiến sĩ Hồng Quân. Trong cuộc Trường Chinh năm 1936, khi hành quân qua vùng thảo địa Mao Nhĩ Cái một tiểu đoàn Hồng Quân bị bọn thổ phỉ phục kích. Mười mấy nữ chiến sĩ của biệt đội giặt rửa quân trang bị bọn chúng bắt về ô nhục. Chỉ có người nữ chiến sĩ trẻ nhất, mới mười bảy, mười tám tuổi, còn sống sót, sau nhiều độ truân chuyên, được một người đàn ông người Khương mua về làm vợ. Hiện giờ người nữ chiến sĩ ấy sinh sống bên thung lũng phụ cận và vẫn còn nhớ rõ đơn vị đã từng phục vụ, từ tiểu đội, trung đội, đại đội cho đến tiểu đoàn, cùng với tên họ của vị sĩ quan chỉ huy trực tiếp của mình; và vị sĩ quan ấy bây giờ chắc đã trở thành một cán bộ cao cấp. Ảnh tỏ vẻ cảm khái nói rằng dĩ nhiên ảnh chẳng thể kể hết những chuyện này cho đám sinh viên nghe. Nhưng ảnh quay lại kể tiếp chuyện tên trùm thổ phỉ Tống Quốc Thái cho tôi nghe.
        Gã Tống Quốc Thái này vốn chỉ là một kẻ hầu cận của một tay buôn bán á phiện, ảnh nói tiếp. Khi tay này bị thủ lãnh của bọn thổ phỉ chiếm cứ nơi đây là Trần Lão Đại giết chết thì Tống Quốc Thái xin theo phục vụ chủ mới. Nhờ tài nịnh bợ, không bao lâu hắn trở thành kẻ tâm phúc của Lão Đại và được phép ra vào khu tiểu viện của Lão Đại ở phía sau doanh trại. Khu tiểu viện đó về sau bị Giải Phóng Quân pháo kích hủy diệt, bây giờ thì cây cối mọc rậm rạp nên đã biến thành một khu rừng nhỏ. Nhưng hồi ấy khu tiểu viện này là một tiểu Trùng Khánh, nơi Lão Đại và đám thê thiếp của hắn say sưa trác táng trong hương tình và men rượu. Tống Quốc Thái là gã đàn ông duy nhất được phép vào đó để phục vụ hắn.



Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Tác giả: 高行健 - Cao Hành Kiện
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Đợi Chờ



Em đến với anh giữa đêm đông dông bão 
Thành phố điêu tàn trông mưa gió đổ nhào 
Bóng tối lan dần rồi che khuất tất cả 
Chỉ còn lại hắt hiu ngọn nến ước ao 

Tưởng cũng phụt tắt sau chuỗi sét thiên lôi 
Bỗng dưng lại hừng hừng bốc cháy ... "anh ơi" 
Âm thanh giao cảm từ đáy sâu vực thẳm 
Theo cơn lốc đưa đẩy rạo rực nổi trôi

Tiếng thì thầm của luồng hơi thở bấp bênh
Như mảnh thuyền con giữa biển cả bồng bềnh
Nhịp trái tim của hai đứa đánh dồn dập
Ôi ngọn hải triều cứ mãnh liệt lênh đênh

Dâng lên, dâng lên thật cao 
Nhưng chẳng muốn tuôn trào
Rồi đột nhiên hạ xuống rất thấp
Để mở cửa cho tình yêu tràn ngập

Anh vẫn nhớ hiện thực của một giấc mơ
Còn em chưa hề lãng quyên thoáng sững sờ
Giây phút ban dầu và cảm xúc trọn vẹn
Của hai linh hồn, hai thân xác bơ vơ

Hòa hợp, tái sinh trong cuồng nhiệt hoang sơ
Rồi suốt đời đôi ta cứ mãi đợi chờ
Một dêm đông dông bão, tối đen, trống vắng
Để được quay về với vũ trụ xác xơ

02-2001
Mến tặng H.M.





Tác giả: Nam Hải Trường Sơn
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

21 tháng 8, 2010

Hai Màu Lửa Hạ

Xưa nắng úa nhớ mưa thầm rỉ rả
Giữa trưa vàng anh khẽ hát ru em 
Nhịp võng đưa êm ả tấu sau rèm 
Ve réo gọi, thái dương buồn vụt sáng 

Khi phượng vỹ thẫn thờ trên bến vắng 
Mỗi hoàng hôn anh ghé đón em về 
Tay đan tay hồn đắm đuối đê mê
Hoa nở thắm, suối rì rào hớn hở

Khi cát đá khát khao chờ sóng vỗ
Những đêm dài em đến tiễn anh đi
Môi tìm môi trong vũ điệu cuồng si
Bờ nóng bỏng, hải triều dâng hối hả

Nay hương hỏa cháy hừng theo lửa hạ
Gọi tên nhau thảng thốt khúc bi ca
Hai trái tim chung một điểm thăng hoa 
Vũ trụ rụi tàn tình du mộng điệp

08-2010
Nam Hải Trường Sơn


[ Đọc Tiếp ]

19 tháng 8, 2010

Tình Yêu Thứ Ba

Năm ngón tay thon
Nửa hòn phấn trắng 
Ánh mắt vo tròn 
Tình em thầm lặng 

Anh ngó ngang tàng 
Em trên bục giảng 
Chân bước hoang mang 
Áo tà hốt hoảng 

Anh đốt thiên đàng 
Lòng em bừng sáng 
Tim hết nhịp nhàng 
Trời ngưng gió thoảng

Một thoáng tấc gang
Tình tràn thiên lý
Mình dệt mộng vàng
Đời ghen đố kỵ

Nhất quỷ, nhì ma
Thứ ba ... da diết
Ai giỡn thế mà
Ai ngờ tình thiệt



Tác giả: Nam Hải Trường Sơn
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Thê Lương


Sao em chẳng đợi anh về? 
Nhẫn tâm ruồng rẫy câu thề Hương Giang 
Dẫu bao ngang trái, muộn màng 
Vẫn chờ anh đến ... như hoàng hôn xưa! 
Tay cầm cành lá che mưa 
Vai gầy ướt đẫm, áo thưa lạnh lùng
Thấy anh, chẳng giận, chỉ mừng  
Vành môi tê tái đốt hừng môi anh

Trời xanh ơi! Hỡi Trời xanh!
Ước nguyền chưa trọn, sao đành đoạn duyên
Xót xa số phận thuyền quyên
Thương em sóng gió hoàng tuyền đơn côi 
Đóa hồng nhung đã rụng rồi
Nghẹn ngào phượng thắm cũng phôi pha màu
Tim anh rướm máu đớn đau
Thê lương gióng hỏi kiếp sau còn chờ?

08-2010


Tác giả: Nam Hải Trường Sơn
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

5 tháng 8, 2010

Nguồn Gốc Của Thơ Nhìn Từ Góc Độ Từ Nguyên (4)

Xét lại căn nguyên thì bốn chữ thi dĩ ngôn chí xuất hiện lần đầu tiên vào năm Nhượng Công thứ 27 (tức năm 545 trước Công Nguyên). Theo ký lục của bộ Tả Truyện thì khi được Trịnh Bá thiết yến khoản đãi vào mùa xuân năm Nhượng Công thứ 27, đại thần nước Tấn là Triệu Mãnh yêu cầu mọi người dùng thơ phú để biểu đạt chí của mình. Tử Thái Thúc mượn câu Giải cấu tương ngộ, thích ngã nguyện hề (Cuộc gặp gỡ không hẹn ước này thật hợp với ý nguyện của tôi) trong bài Dã hữu mạn thảo để biểu thị nước Trịnh nhiệt liệt hoan nghênh Triệu Mãnh và muốn duy trì mối giao hảo với nước Tấn. Trong yến hội này Văn Tử đã thốt lên câu thi dĩ ngôn chí để hình dung loại thơ phú mang tính chất chính trị và ngoại giao này của quần thần.[11]
      Hơn sáu trăm năm sau, khi Hứa Thận hoàn thành Thuyết Văn Giải Tự thì thichí hầu như không thể tách rời: Thi, chí dã.[12] Thi là chí . Khái niệm thi ngôn chí phản ánh lý giải mới về cấu trúc từ nguyên của chữ thi . Chữ thổ ở trên được xem như là một cách viết khác của chữ và chữ thốn ở dưới được hiểu theo nghĩa bóng là đồng nghĩa với chữ tâm . Như vậy, chữ tự trong chữ thi trên thực tế được xem là đồng nghĩa với chữ chí Trong Thuyết Văn Giải Tự, Hứa Thận có chua thêm một cách viết tắt của chữ thi chỉ gồm bộ ngôn ở bên trái và chữ ở bên phải.[13] Chữ trong cách viết tắt này có thể là ký hiệu biểu thị ý nghĩa của chữ chí, nhưng dẫu hiểu theo cách nào đi nữa thì khái niệm thi ở giai đoạn này vẫn mang sắc thái ngôn từ của giới sĩ phu quý tộc.       
      Từ đời Hán cho đến đầu nhà Tùy, theo truyền thống của nhà Chu, chế độ tuyển chọn sĩ phu ra làm quan cũng do giới quý tộc và quan liêu trong triều đề cử dựa trên cơ sở huyết mạch và thế tập. Cơ hội thăng cấp của nông dân bởi vậy hầu như không tồn tại. Trong khoảng 1.300 năm từ khi Tùy Dạng Đế chính thức thành lập chế độ khoa cử (năm 605) cho đến cuối đời nhà Thanh, tuy trên lý thuyết phàm là nam nhân ai cũng có thể tham gia khảo thí mưu đoạt công danh, nhưng trong thực tế vì thời gian học quá lâu và tốn kém, kèm thêm tệ nạn mua quan bán tước, chuyện thường dân thành công trên thí trường hoặc hoạn lộ cũng có nhưng đó chỉ là những trường hợp ngoại lệ chứ không phải phổ cập. Thơ ca trong thời kỳ này tuy đã được nới rộng nhưng cũng vẫn nằm trong phạm trù biểu hiện cảm xúc, hoài bão, và chí nguyện của giới quan liêu và trí thức. 
      Ảnh hưởng của cuộc Cách Mạng Công Nghệ, sự bành trướng cũng như diệt vong của chủ nghĩa thực dân nói riêng, văn hóa phương Tây nói chung, và gần đây cuộc Cách Mạng Công Nghệ Thông Tin cũng như các tiến triển có tính chất toàn cầu khác đã mang lại nhiều biến đổi quan trọng cho nền thi ca Đông Á trong gần hai thế kỷ qua. Tác giả hy vọng sẽ có dịp thảo luận về đề tài này cùng bạn đọc trong tương lai. 

_______________________________
[11]Xuân Thu Tả Truyện (Nhượng Công Tam Thập Nhất Niên).
[12]Hứa Thận, sách đã dẫn, quyển 3 thượng, tr. 51.
[13]Như trên.

Trở lại phần (3)
Tác giả: Nam Hải Trường Sơn
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Nguồn Gốc Của Thơ Nhìn Từ Góc Độ Từ Nguyên (3)


Tại Sao Thơ Và Xác Chết Cùng Có Âm Thi?

Một điều thường ít được lưu ý trong lãnh vực nghiên cứu từ nguyên Hán tự là hiện tượng liên đới ngữ nghĩa của những chữ đồng âm hoặc thông âm (nhưng thường được xem là chẳng dính líu gì với nhau về mặt nội dung). Thí dụ, hai chữ đồng âm hôn trong hôn nhân hoàng hôn hoặc hai chữ thông âm binh như binh trong binh lực bịnh trong bịnh tật đều là những chữ có nguồn gốc ý nghĩa rất gần gũi nhưng theo dòng thời gian, lịch sử từ nguyên của chúng đã bị lãng quên, về sau lại trở thành những khái niệm hầu như được cho hoàn toàn xa lạ. Tương tự, sự đồng âm của hai chữ thi (thơ) và thi (xác chết) không phải là chuyện ngẫu nhiên, nhưng ngày nay nếu vấn đề được đặt ra thì trong 1.000 người Hoa may mắn lắm mới có được một vài người thông hiểu sự tương quan về mặt ý nghĩa của chúng. 
      Khi sáng tạo ra chữ thi người Hán thời thượng cổ đã gắn cho nó âm thi của chữ thi để biểu hiện nội dung tín ngưỡng của thơ và chính âm thi thố lộ cho ta biết nguồn gốc thứ hai của thơ. Ngoài ý nghĩa ca dao ra, thơ thời thượng cổ còn là một loại tụng từ (lời tụng) hay thệ từ (lời thề), tức là ngôn từ tụng niệm trước mặt xác chết. Thời thượng cổ khi tế tổ phải có người giả trang xác chết của tổ tiên. Chẳng hạn, khi phụ thân bái tế tổ phụ (ông nội) thì chỉ có con trai trưởng (cháu đích tôn) mới đủ tư cách giả trang làm cương thi của ông nội, ngồi yên trên linh vị không động đậy, để tiếp nhận nghi thức bái tế, trong khi đó những người có thân phận khác không thể giả trang cương thi.” Đây là một hình thức tá thi hoàn hồn (mượn xác mời hồn về) để người bái tế quỳ trước mặt cương thi khấn vái, xướng tụng công đức của người chết hoặc phát thệ, tuyên ngôn chí hướng mình, hoặc nguyện cầu người chết ban bố phúc lành, hạnh vận cho con cháu. Trong trường hợp cúng tế thần thánh thì người cúng tế chọn một đồng tử đặt ngồi yên trên ngai để thần thánh nhập thân (về sau được thay thế bằng tranh vẽ hoặc điêu tượng). Loại  ngôn từ được sáng tác trong các dịp tế lễ này thường là những đoạn thơ ngắn do người bái tế chuẩn bị trước, rồi học thuộc lòng và tụng lại trong lúc tế và đây chính là nguyên nhân thâm viễn giải thích tại sao thi thi là hai chữ đồng âm.[9] Như vậy trên phương diện cấu trúc tự dạng, chữ thi thời cổ là biểu hiện tượng trưng của nền văn hóa sản xuất nông nghiệp (vật chất), và trên phương diện lựa chọn ngữ âm, chữ thi đánh dấu nguồn gốc tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và thần linh (tinh thần) của người Hán thời thượng cổ. Theo đà phát triển của xã hội những ý nghĩa vật chất và tinh thần nguyên thủy của thơ cũng dần dần được nới rộng, tu bổ, hoặc biến đổi toàn diện.

Thi Dĩ Ngôn Chí 
      Đối với bất cứ một dân tộc nào, sự ra đời của văn tự  cũng là một bước tiến văn minh trọng đại. Nhưng vào những thời kỳ đầu  văn tự là một xa xỉ phẩm đối với đại đa số quần chúng. Chỉ có những người có quyền thế hoặc tài phú mới có cơ hội đi học chữ. Văn tự trong những thời  kỳ này là đặc quyền và công cụ của giai cấp thống trị. (Một số học giả đương đại cho rằng những hiện tượng này vẫn tồn tại trong nhiều xã hội trên thế giới hiện thời.) Bởi vậy thơ thành văn trong giai đoạn này đại bộ phận là sản phẩm của giới quý tộc trí thức. Điều này đã được minh họa trong nhiều tài liệu lịch sử. 
      Theo Mao Thi Tự (tức là bài tựa trong cuốn Thi Kinh do Mao Hanh hiệu đính) thì thơ dùng để biểu đạt hoài bão, nguyện vọng của con người: Khi hoài bão hay nguyện vọng đó còn ở trong lòng thì gọi là chí , khi dùng ngôn ngữ phát biểu nó ra thì gọi là thi.[10]  Vào thời Xuân Thu thơ phú là một tiết mục văn nghệ không thể thiếu tại những yến hội ngoại giao. Sứ thần các nước thường dùng thơ phú để biểu đạt tâm ý của mình, nhưng khác với cảm xúc cá nhân của bách tính lê dân, tâm ý ở đây mang sắc thái quốc sách và tính toán chính trị của vua chúa và khanh tướng.

_______________________________
[9]Tiêu  Khải Hoằng, Tùng Nhân Tự Thuyết Khởi, (Bắc Kinh: Đông Phương Xuất Bản Xã, 1999), tr. 258.
[10]Châu Tự Thanh, Kinh Điển Thường Đàm, (Hương Cảng: Tam Liên Thư Cuộc, 2001), tr. 25. 

Trở lại phần (2)    Xem tiếp phần (4)


Tác giả: Nam Hải Trường Sơn
Copyright ©  2010 Nam  Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn