Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



27 tháng 7, 2010

Tiếng Chuông Báo Tử (Phần 1)

Đảng lãnh đạo, dân lãnh đủ. Đó là kết quả tất yếu của một chế độ được duy trì bằng vũ khí chứ không phải bằng đạo lý, bằng bạo lực độc tài chứ không phải bằng pháp quyền dân chủ. Công an hành hung người vô tội như võ sĩ đấm bao cát. Cảnh sát đánh chết dân đen như thiến gà, mổ vịt. Chuyện thường thôi có chi đáng nói. Bà con miền Bắc chịu đựng đã hơn 60 năm trời, còn đồng bào miền Nam thì cũng có cả 35 năm kinh nghiệm. Đảng độc là bề trái của độc đảng. Cũ rích rồi, thành quán lệ rồi, hình như ai cũng tưởng thế. Nhưng phản ứng của người dân tỉnh Bắc Giang trước cái chết của một thanh niên do công an bạo hành gây ra, hôm thứ sáu vừa qua, đánh dấu một bước ngoặc có tính chất lịch sử trong tiến trình đấu tranh vì giá trị con người của dân tộc Việt. 
      Sự cố bắt đầu vào khoảng 5 giờ chiều ngày 23 tháng 7, 2010, khi anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, cư ngụ tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, chở bạn gái đi mua đồ ăn bằng xe máy bị cảnh sát giao thông huyện Tân Yên (cùng tỉnh Bắc Giang) bắt và đưa về đồn với lý do là anh không dừng lại sau khi họ tuýt còi khi thấy bạn gái anh không đội mũ bảo hiểm. Đến 6 giờ rưỡi chiều cùng ngày, anh đột tử sau khi được đưa vào bệnh viện. Hôm sau cảnh sát báo tin cho gia đình anh hay nhưng không giải thích lý do khiến anh thiệt mạng. Khi thân nhân anh đến nhận xác thì bác sĩ pháp y địa phương đọc báo cáo rằng anh Khương chết vì "sốc ma túy" nhưng  không hiểu vì sao anh bị cắt mất tinh hoàn. Không thể tin rằng con mình nghiện (đừng nói chi chuyện "sốc") ma túy, vì anh là một người con ngoan và chịu khó làm ăn, gia đình anh khám xét tử thi và thấy có dấu hiệu anh bị bóp cổ, bị đập gáy, bị đánh vỡ bóng đái, và bị cắt mất tinh hoàn. 
      Sau khi mang thi thể anh về, gia đình anh cùng nhân dân xã lên UBND huyện nhà (Việt Yên) khiếu nại và xin điều tra nhưng cán bộ huyện không chịu can thiệp, thoái thác rằng đó là chuyện của huyện Tân Yên. Phẫn uất trước cái chết oan của con, bất mãn với thái độ bao che, vô trách nhiệm của cán bộ huyện, ngày hôm sau gia đình anh quyết định đưa xe tang và xác anh (đã được ướp đá lạnh khô) lên thành phố Bắc Giang để mong tìm công lý tại UBND tỉnh.
      Trên hành trình hơn mười cây số từ Việt Yên lên thành phố Bắc Giang, CAND tỉnh đã đặt nhiều chốt để trấn áp và ngăn chận, nhưng hoàn toàn thất bại. Đoàn xe tang đi đến đâu cũng được thêm nhiều người tham gia tháp tùng, với những băng biểu ngữ trắng đen như "Nợ Máu Phải Trả Bằng Máu" và "Cái Chết Không Rõ Lý Do" và "Công An Giết Người, Công Lý Ở Đâu?" Khi  đoàn người lên đến thành phố, (ngoài một số ít chỉ vì hiếu kỳ) phần lớn cư dân thấy cảnh bất công cũng ùn xuống đường theo xe tang tiến về phía trụ sở UBND tỉnh và tổng số người tham gia biểu tình được ước tính là trên mười ngàn. Toàn bộ cảnh sát của Sở Công An tỉnh được điều động và đoàn người bị trấn áp mạnh mẽ. Nhiều tuyến đường bị phong tỏa và hệ thống giao thông của thành phố hầu như hoàn toàn tê liệt.
      Xung đột bộc phát khi một xe cứu hỏa được ra lệnh phun nước thẳng vào xe tang chở quan tài của anh Khương. Nhiều chiếc mũ bảo hiểm và gạch đá được ném vào xe cứu hỏa và đoàn người phá hàng rào ngăn chận của cảnh sát cơ động để tiến lại gần trụ sở UBND tỉnh. Cảnh sát phải rút vào bên trong trụ sở và dùng lựu đạn cay để giải tán đám đông nhưng hầu như vô hiệu quả. Những người biểu tình tiếp tục phá vỡ hàng rào quanh trụ sở đòi gặp lãnh đạo để yêu cầu giải thích nhưng được phúc đáp rằng không có ai vì hôm nay là Chúa nhật cán bộ không làm việc. Trong khi đó có người mục kích "thái tử" Nông Quốc Tuấn (con trai của TBT Nông Đức Mạnh) hiện giữ chức phó bí thư tỉnh ủy Bắc Giang vẫn thản nhiên nhậu nhẹt với bạn bè tại nhà hàng Tài Lộc và đang nhàn nhã thưởng thức món thịt bò tót do hai đầu bếp từ Hà Nội lên chế biến theo yêu cầu của đồng chí phó bí thư!

Xem tiếp Phần 2

[ Đọc Tiếp ]

Tiếng Chuông Báo Tử (Phần 2)

Cuộc biểu tình ngày 25 tháng 7 vừa qua tại tỉnh Bắc Giang (tạm gọi là Bạo Động Bắc Giang) là một trỗi dậy không được hoạch định hay tổ chức trước, hoàn toàn tự nguyện, tự phát, tức thời, nhưng tràn trề nhiệt huyết và căm phẫn. Đây không phải là một hình thức đấu tranh chính trị do những "thế lực thù địch" hay những "phần tử phản động" xúi giục. Đây là một phản ứng tự nhiên của quần chúng khi nhân quyền bị chà đạp đến mức không thể nhẫn nhục được nữa. Bức xúc của người dân tích lũy qua nhiều năm tháng đã căng đến tột độ, chỉ chờ nổ. Cái chết tức tưởi và uẩn khúc của anh Khương chính là cọng rơm làm gãy lưng lạc đà. 
      Nguyên nhân chủ yếu của nỗi bức xúc ấy là tệ nạn hà hiếp thường dân một cách tàn bạo, có hệ thống, và phổ cập của CAND. Không kể vô số những trường hợp thọ thương, những ca tử vong do công an bạo hành gây ra được giới truyền thông "chính thống" đưa tin hầu như là chuyện xảy ra hàng tháng. Theo góp nhặt sơ khởi của đài BBC dựa trên tin tức của một số báo mạng trong nước, chưa kể trường hợp anh Khương, trong 7 tháng đầu năm 2010 tối thiểu đã có 7 ca nghi phạm bị giết trong tay CAND (5 ca tại trụ sở và 2 ca tại hiện trường). Nên nhớ rằng đây chỉ là những ca hình sự được giới lãnh đạo hoặc công an văn hóa chấp thuận cho đăng. Nhiều ca mang tính chất "mẫn cảm," chẳng hạn như dính líu đến danh dự ĐCSVN hay quý vị lãnh tụ, hoặc có liên quan đến vấn đề đàn áp tôn giáo, chính trị, hoặc nhân quyền nói chung, đều bị giấu nhẹm.
      Người dân khắp ba miền đất nước không còn tin tưởng và tôn trọng công an. CAND là công an nạt dân, dọa dân, tống tiền dân, hành hạ dân, túm cổ dân bỏ tù không cần lý do. CAND là bộ máy trấn áp của ĐCSVN để duy trì địa vị toàn trị và đã rời xa lý do tồn tại và chức năng chủ chốt của mình là bảo vệ dân, phục vụ dân. Nhưng điều đáng nói là cuộc Bạo Động Bắc Giang được xem là lời tuyên bố công khai rằng nhân dân không còn sợ CAND. Đây là một biến cố không có tiền lệ trong lịch sử hậu-1975 của Việt Nam. Dũng khí của họ đến từ lực lượng của đám đông. Đoàn kết là sức mạnh. Dũng khí của họ đến từ nhiệt huyết đấu tranh vì công lý, vì giá trị con người. Tà không thể thắng chính. Dũng khí của họ đến từ nhận thức thông tuệ về thời cuộc trong nước cũng như tình hình thế giới. Việt Nam đang cố gắng hội nhập cộng đồng thế giới để phát triển kinh tế và tăng cường quốc phòng. Đầu tư, viện trợ, và hợp tác của các nước dân chủ tự do đòi hỏi Việt Nam cải thiện tình trạng nhân quyền. Chẳng hạn, mới đây, ngay tại Hà Nội, Ngoại Trưởng Mỹ, Hillary Clinton, nghiêm trọng thúc giục Việt Nam cải thiện tình trạng nhân quyền và thẳng thừng tuyên bố rằng trước khi điều kiện đó được thực hiện Mỹ vẫn tiếp tục duy trì lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam. Các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế cũng đang theo dõi tình hình Việt Nam rất sát. Trấn áp dân chúng bằng bạo lực một cách công khai là chuyện ước muốn nhưng bất khả thi.
      Dũng khí của họ đến từ kỹ thuật truyền thông số mã và sức mạnh của Internet. Khoảng năm năm về trước, những hành vi xấu xa của chế độ có thể được bưng bít, giấu nhẹm, phủ nhận, hoặc phản tuyên truyền bằng cách cải biến hoặc chế tạo chứng cớ. Ngày nay nhờ máy chụp hình, máy quay phim số mã, và đặc biệt là điện thoại di động có kèm các chức năng phụ như chụp hình, quay phim, và trình duyệt, hiện đang được sử dụng phổ biến tại Việt Nam, nhất cử nhất động của CAND ở những nơi công cộng (và bất cứ nơi nào mà người dân có thể chụp mà không bị tịch thâu) đều có thể được ký lục một cách dễ dàng, đích thực, sống động, và truyền bá khắp thế giới trong vòng 15 phút qua YouTube hoặc các mạng lưới xã hội khác. Ngày xưa tin đồn một truyền mười, mười truyền trăm gọi là nhanh và rộng, nhưng thường vướng nguy cơ "tam sao thất bổn." Ngày nay nhờ Internet, tin tức dưới bất cứ dạng thức nào (văn bản, lời nói, âm thanh, hình ảnh, hoặc phim ảnh) cũng đều có thể một truyền ngàn, ngàn truyền vạn, vạn truyền triệu, một cách dễ dàng, chính xác, và nhanh không kém tốc độ sinh sản của vi khuẩn.
      Dũng khí của họ đến từ giá trị nhân bản phổ cập trên toàn cầu. Không một công dân có lương tri ở bất cứ một nước nào có thể chấp nhận tình trạng cảnh sát bạo hành vì đây là một phương phức lạm dụng quyền lực đê hèn nhất. Nạn nhân thường bị tước đoạt hết khả năng tự vệ hay kháng cự vì bị còng tay khóa chân, thậm chí còn bị bịt mắt và trém miệng, trong khi đó cảnh sát tự do tra tấn, áp dụng mọi thủ đoạn nhục hình, chơi đủ trò vô nhân như mèo giỡn chuột hoặc "bề hội đồng." Đấu tranh chống cảnh sát bạo hành là phòng tuyến bảo vệ nhân quyền hàng đầu của nhân loại. Cuộc Bạo Động Bắc Giang không phải là một trận tác chiến "đơn thương độc mã" vì nó được sự hậu thuẩn và ủng hộ của hàng tỉ người yêu chuộng tự do và tôn trọng nhân quyền khắp thế giới. Và ngày nay, nhờ Internet, sự hậu thuẩn và ủng hộ này không còn trừu tượng, bàng quang hoặc vô hiệu quả nữa. 



Trở lại Phần 1
Xem tiếp Phần 3
[ Đọc Tiếp ]

26 tháng 7, 2010

Đồng Sàng Dị Mộng (Phần 1)


[I] 
Kể từ sau đêm tiểu đăng khoa
Đã mấy lần em ngỏ lời âu yếm thiết tha?
Đã mấy lần mình say đắm trăng hoa?
Dòng ký ức nhạt nhòa
Em không còn nhớ rõ
Chỉ e rằng chẳng có được bao nhiêu
(Đếm trọn đầu ngón tay chắc là đã quá nhiều)
Ôi mơn trớn mỹ miều
Ôi lời ru dịu ngọt
Tự bao giờ đã trở thành tiếng hót
    và nhịp vỗ của một loài chim tuyệt chủng

[II]
Những đêm dài cụng gối chung chăn
Lạnh lùng ...
Bất đắc dĩ ...
Ngẫu nhĩ cũng có tí bất ngờ thú vị
Giữa canh khuya, trong giấc mộng mị
Anh hí hửng, nồng nàn thủ thỉ
Anh nói yêu em suốt cả đời
Vì em là thiếu phụ đẹp nhất thế giới
Tứ đại mỹ nhân* không sánh nổi
Ôi ... đẹp người, đẹp nết, đẹp lứa đôi
Và dĩ nhiên yêu chỉ một mình em thôi, anh hứa
Vì trái tim anh đâu đủ chứa kẻ thứ hai
Nếu ... Nếu một mai ...
Chỉ ‘nếu’ thôi, em ơi, đừng giận vội
Nếu một mai ... anh phản bội
Thân tội lỗi Trời Đất chẳng dung tha

[III]
Anh ngái ngủ, ú ớ hoan ca
Tuồng ve vãn trong mộng thoại ngọc ngà
Tuy suồng sã, lả lơi
Và phảng phất hơi quỷ dị, giả dối
Nhưng chao ôi!
Sao tuyệt vời, quyến rũ quá đi thôi!
(Mật ngọt chết ruồi
Gái nào chẳng ưa trai vỗ về, o bế)
Lệ tuôn rơi, lòng bồi hồi xúc động
Em gục đầu ăn năn hối lỗi
Vì kẻ phản bội không phải là anh
Mà chính là người vợ
    đã bao năm anh cứ ngỡ trung thành
Nắm tay anh, em sánh bước song hành
Chung một đường đi
Nhưng yêu thương đã rẽ lối, phân kỳ
Hôn nhân chẳng còn nghĩa lý chi
Khi ái ân hắt hiu sắp vĩnh biệt chia ly
Lòng em từ buổi xuân thì
Hiến dâng trọn vẹn cho người ... còn đâu!
Tình ta úa héo đã lâu
Dẫu cho đến phút bạc dầu
Duyên chăn nợ gối ... chỉ một mối sầu cô liêu!

Xem tiếp Phần (2) 
__________________
*Bốn người đàn bà đẹp và nổi tiếng nhất lịch sử Trung Hoa: Tây Thi, Vương Chiêu Quân, Điêu Thuyền, và Dương Quý Phi.


Tác giả: Nam hải Trường Sơn
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Đồng Sàng Dị Mộng (Phần 2)


[IV] 
Em vẫn nhớ, vẫn yêu ... người ấy
Dẫu mùa thu đã mười mấy lần thay lá
Dẫu tin chàng vẫn bóng chim tăm cá
Dòng thời gian nghiệt ngã
Trái tim son mỏi mòn tan rã
Giữa quạnh hiu em âm thầm chắp vá
Để gói ghém chắt chiu
Mối tình đầu thiêng liêng, kỳ diệu
Ôi thiên đường niên thiếu
Mây sớm mưa chiều
Mộng dệt thành thơ
Hồn trăm hoa đua nở

[V]      
Đêm đông dài, gió buồn gieo nhung nhớ
Anh trăn trở, kéo chăn, cất tiếng mớ
Không hí hửng, lẳng lơ, sàm sỡ
Chỉ run run hoảng sợ
Giọng bàng hoàng thảng thốt nỉ non
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Sao em đành nỡ phụ lòng tào khê
Trăm năm giữ trọn lời thề
Yêu nhau vạn sự chẳng nề
Có bao chỗ lệch hãy kê cho bằng
Nhớ thu xưa em kiên quyết bảo rằng
Tình giống tên em tợ phiến băng tâm dao trì
Lòng đã trao nhau xin đừng nói chia ly
Anh chẳng mơ chi
Khúc tình sử Phạm Lãi với Tây Thi
Băng Tâm ơi, đừng nỡ bỏ ra đi
Hãy sống bên nhau cho trọn vẹn
Như lời hò hẹn thuở tình si
Băng Tâm ơi! Hỡi Băng Tâm!

[VI]
Gạt nước mắt em thổn thức khóc thầm
Ôi bé cái lầm!
Trời ơi! Em chỉ là cô bé cái lầm!
Bị chơi khăm một vố thật thâm
Bởi vì em chẳng phải là Băng Tâm
Chẳng phải là cô nhân tình trong mộng
Của người chồng đã cùng em hẹn biển thề sông
      (và bao năm qua không ai chẳng ngỡ thật thà)
Thúy Nga ơi! Hỡi Thúy Nga!
Tên em thoáng đã phôi pha
Mộng ngôn lãng mạn chỉ là phù vân
Em muốn chém, muốn đâm anh cho hả giận 
(Vì căm thù là mặt trái của ái ân)
Nhưng nếu phân tách chi li tường tận
Nói cho cùng, em cũng là kẻ dối gian, biển lận
Nếu biết được lòng em chẳng thật chân
Chắc rằng anh cũng phừng phừng phẫn hận
Thôi chớ trách gì nhau, đừng đổ lỗi cho nhau
Từ nay hay mãi mãi về sau
Dẫu đớn đau, nhủ lòng hai chữ nhẫn cùng nhân
Có trách, chỉ trách duyên trách phận
Trách ông Trời khéo dựng cảnh éo le phũ phàng
Khiến đôi ta phải đồng sàng ... dị mộng
Nguyệt Lão ơi, thôi xin đừng hý lộng
Hãy tháo sợi tơ hồng
Cho chim được sổ lồng
Cho cá được quay về bể rộng

Cuối một mùa xuân
Mến tặng hai bạn Hải và Đào
__________________
Phỏng theo câu ca dao:
        Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
        Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ
Phỏng theo câu ca dao:
        Yêu nhau vạn sự  chẳng nề
        Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng


Tác giả: Nam Hải Trường Sơn
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

21 tháng 7, 2010

Hội Ngộ Trường Xưa

Thân ái kính tặng thầy Nguyễn Huy Vỹ, một vị giáo sư Anh văn kỳ cựu, một người thầy khai tâm cao quý đã dạy cho tôi biết relax và phân biệt lúc nào nên dùng passion lúc nào nên dùng compassion hoặc love—đương nhiên không phải chỉ đơn thuần ý nghĩa nội hàm của chúng mà bao gồm cả dòng suy tư triết lý ở đằng sau. Đặc biệt, hình ảnh thầy và những kỷ niệm học tập Anh văn êm đềm dưới mái trường xưa đã khơi nguồn thi hứng cho tôi hoàn thành bài thơ này. Tôi xin thành kính tri ân thầy. Đồng kính tặng quý vị giáo chức và cựu học sinh trường Nguyễn Hoàng nhân dịp Gặp Mặt Lần 2 vào ngày 20 tháng 6 năm 2010.


Từ bốn phương trời lồng lộng
Những bóng chim hồng, chim nhạn
Nghe tiếng hót gọi đàn
Rạo rực hoài trông cố thổ
Rong ruổi cánh, tìm về đây hội ngộ
Ba mươi mấy năm trời
Bồi hồi mong đợi
Hai thế kỷ
Một chuỗi buồn vời vợi
Chim xa rừng thương cây rồi nhớ cội
Kẻ mất trường tội lắm, hỡi người ơi!

Lòng dạt dào biển khơi sóng vỗ
Tình thâm nghĩa trọng
Nhịp trường ca thiên cổ
Tim ấm nồng
Say đắm hồn sông núi mênh mông
Ôi mảnh đất cưu mang quê mẹ
Giữa tiếng ve ru, gió vờn khe khẽ
Bóng dáng ai đi áo tà vương nhẹ
Ven lối về lớp cũ, cổng trường xưa
Ôi yêu thương biết mấy ... đặng cho vừa!

Nắng hạ đong đưa
Thoảng hương hoa phượng thở
Nhớ tuổi học trò áo trắng mộng mơ bay
Có những ngày “không may”
Nũng nịu giải bày ...“lý do”
Để được thầy cho ... hoãn nộp bài
Lấm le lấm lét thở dài
Khi thấy tay cô rà sổ
“Tau trúng số, không phải là mi mô mà sợ!”
Ôi kỷ niệm buồn vui thuở còn thơ
Nung ý chí
Quyết tâm chăm chỉ 
“Học nhi thời tập chi”
Tuổi xuân thì
Ghi mộng ước tương lai
Ai sĩ phu, ai là bậc anh thư ưu tú
Phải thế không hỡi bạn bè lớp cũ?

Nhớ thầy, cô
Những vì sao sáng ngời vũ trụ
Dẫn dắt ta đi
Bằng lương tri và trí tuệ
Một thiên chức cao đẹp nhất trần thế
Xin kính cẩn khắc ghi ân huệ
Nhất nhật vi sư, chung thân vi phụ mẫu
Ôi mái trường xưa yêu dấu!
Nôi khải mông, khai ngộ đầu đời!
Nguyễn Hoàng ơi!
Nguyễn Hoàng của ta ơi!
Từ nơi đây ta tung cánh chim trời
Vùng vẫy bốn phương
Dẫu dặm ngàn vẫn một lòng thương tha thiết

Rồi chiều nay ta chia tay tạm biệt
Gói hành trang vẫn nặng điều tâm huyết
Hoành dương truyền thống hiếu học diễm tuyệt
Để tên trường mãi hiên ngang cùng tuế nguyệt
Nguyễn Hoàng ơi!
Nguyễn Hoàng ta bất diệt!

06-2010
___________________________________________________________________
Theo câu “Học nhi thời tập chi bất diệc duyệt hồ? ...” của Khổng Tử. (Luận Ngữ, Học Nhi.)

Tác giả: Nam Hải Trường Sơn
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

20 tháng 7, 2010

Nguồn Gốc Của Thơ Nhìn Từ Góc Độ Từ Nguyên (2)

Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Của Chữ Thơ

Truy tầm ý nghĩa nội hàm và lịch sử phát triển của chính chữ thơ cũng có thể minh chứng rằng thơ của con người không thể nằm ngoài phạm trù ngôn ngữ. Chữ thơ không phải là tiếng thuần Việt mà là hài âm của chữ thi—một tiếng Hán Việt. Gốc tiếng Hán của chữ thi 詩. Từ góc độ lục thư, là một chữ hình thanh, do hai bộ phận chính là bộ ngônở bên trái (hình) và chữ tự biểu âm ở bên phải (thanh) cấu thành. Như vậy trên bình diện từ nguyên, rõ ràng nền tảng cơ bản của thơ là ngôn ngữ (言), hay nói cách khác, ngôn ngữ là yếu tố cần thiết của thơ. Nhưng ngôn ngữ chỉ là điều kiện cần chứ không đủ để tạo nên thơ bởi vì thơ khác với ngôn ngữ thông thường. Thơ là ngôn ngữ đã được chọn lọc, tài bồi, tôi luyện, âm vận hóa, mỹ hóa, tinh xảo hóa (寺): Thơ là ngôn ngữ nghệ thuật. Như vậy, hiển nhiên lý giải của Khổng Tử và Aristotle về thơ hoàn toàn phù hợp với quan niệm nguyên thủy của cổ nhân.
      Dựa vào cấu trúc ngoại hình của chữ thi một số trí thức trong giới văn học Việt Nam thường đưa ra những nhận định thác ngộ cần phải được cải chính. Chẳng hạn, một vị giáo sư tiến sĩ (đã từng dạy môn Việt Hán bậc trung học đệ nhị cấp trước 1975!) lý luận rằng: “Văn tự hội ý của Trung Hoa thời cổ đã quan niệm rằng, [sic] Thi = Ngôn + Tự (Thơ = Lời + Chùa).[1] Lời phát biểu này tối thiểu có hai điểm sai trái. Thứ nhất, tiếng Trung Hoa (thời cổ hay hiện đại) không phải chỉ đơn giản là một loại văn tự hội ý. Cấu trúc tiếng Trung Hoa chí ít có sáu đặc trưng được gọi chung là lục thư: (1) tượng hình, (2) chỉ sự, (3) hội ý, (4) hình thanh, (5) chuyển chú, và (6) giả tá. Nếu chỉ nói riêng rằng chữ thi là một chữ hội ý thì cũng không đúng vì, như đã giải thích ở trên, nó là một chữ hình thanh. Thứ hai, chữ tự trong chữ thi chỉ bắt đầu manh nha ý nghĩa chùa sớm nhất là từ cuối thời Đông Hán, sau khi Phật giáo du nhập vào Trung Hoa, trước đó trong một khoảng thời gian dài ý nghĩa chùa của nó không tồn tại. Chữ thi cũng xuất hiện trước thời Đông Hán rất lâu, tính sơ, tối thiểu phải trước đó hơn 500 năm vì vào thời Xuân Thu Thi «詩» chính là nhan đề nguyên thủy của bộ Thi Kinh. Bởi vậy nói rằng Thơ = Lời + Chùa chỉ là tri kỳ nhất bất tri kỳ nhị. Dựa trên kiến thức nửa vời về chữ tự mà đoán ý nghĩa của chữ thi thì kết quả tất nhiên cũng chỉ là bán dũng thủy.

Tiến Trình Phát Triển Của Chữ Tự
Thời điểm xuất hiện muộn nhất của chữ tựlà Tây Chu, tức là khoảng 1.050 năm trước Công Nguyên. Dưới cả hai dạng Kim Văn (loại chữ khắc trên đồ đồng, còn  được gọi là Chung Đỉnh Văn) và tiểu triện, chữ tựđều do hai bộ phận chủ yếu cấu thành: phía trên là hình vẽ một cây non chồi lên từ mặt đất về sau biến dạng được viết thành chữ thổ 土 hoặc chữ , và phía dưới là hình vẽ của một cánh tay về sau biến dạng được viết thành chữ thốn . Lúc ban sơ chữ tự dưới dạng danh từ có nghĩa là đồng áng, ruộng rẫy, nơi con người dùng bàn tay canh tác đất đai để trồng trọt, sản xuất nông phẩm duy trì cuộc sống. Dưới dạng động từ tự có nghĩa là tận tâm tận lực vun trồng, bồi dưỡng. 

Khái niệm nguyên thủy về chữ tự
Chữ tự dưới dạng Kim Văn
      Như vậy, trước khi có văn tự cho đến thời Tây Chu, thơ là lời ca tiếng hát của người lao động tay chân. Nói cách khác thơ trong thời kỳ này là những câu hò, điệu hát, bài vè ngắn nhưng có tiết tấu, có vần, có điệu do bách tính lê dân sáng tác trong quá trình canh tác để khích lệ, cổ động nhau, để thư giãn, làm lắng dịu mệt nhọc của thân xác, để chia sẻ bi ai hoan lạc, kinh nghiệm sống, tín ngưỡng, tập quán, để tỏ tình trai gái, nghĩa vợ chồng, lòng bác ái v.v... gọi chung là ca dao. Khi tiếng nói thường dùng hàng ngày không đủ sức để biểu lộ cảm xúc thì nhu cầu trau chuốt, thêm vận, thêm tiết tấu, thêm điệp khúc, nhịp điệu ... tự nhiên sẽ được sáng tạo để cường hóa (nghệ thuật hóa) ngôn từ. Ngoài ra, người xưa còn dùng những phương tiện phi ngôn từ như vỗ tay, nhịp chân, khiêu vũ, đánh trống, thổi kèn ... để đệm nhạc hỗ trợ ca dao. Bởi vậy, tuy bất thành văn nhưng ca dao vẫn có thể lưu truyền mãi với thời gian qua ký ức tập thể của con người nhờ nhạc tính cũng như giá trị tư tưởng của nó.
      Đến khi có văn tự thì thơ bắt đầu tách rời ca dao và trở thành phương thức biểu đạt tâm tình của giới sĩ phu trí thức. Thơ trở thành văn chương bác học,” song hành và phụ trợ cho ca dao truyền miệng của bách tính lê dân. Nhiều bộ phận của ca dao dần dần được ký lục thành văn bản và “văn chương dân gian” vẫn tiếp tục phát triển dưới dạng truyền thống hoặc được triển hiện qua những bài thơ-ca-dao vô danh. 
     Theo nhu cầu phát triển của ngôn ngữ, về sau chữ tự được dùng thêm dưới dạng động từ mang ý nghĩa săn sóc, trông nom, hay chi trì, lo liệu, tức là tiền thân của hai động từ thị trì . Đến đầu đời Hán chữ tự có nghĩa là nơi làm việc và cư ngụ của quan lớn trong triều. Thừa kế chế độ phân quyền của nhà Tần, những quan viên cao cấp tại trung ương nhà Hán cũng bao gồm tam côngcửu khanh. Tam công là (1) thừa tướng (chủ quản chính vụ), (2) thái úy (chủ quản quân vụ), và (3) ngự sử (chủ quản việc giám sát). Cửu khanhbao gồm các chức như thái thường (quản lý việc tế tự, lễ nhạc), thái phó (quản lý xa mã), đại lý (quản lý việc pháp hình), đại hồng lư (quản lý việc lễ tân, chiêu đãi) .... Theo lời sử gia Khổng Dĩnh Đạt của đời Đường thì: Tự Hán dĩ lai, tam công sở cư vị chi phủ, cửu khanh sở cư vi chi tự.[2] Có nghĩa là: Từ đời Hán cho đến nay [đời Đường], chỗ cư ngụ của tam công gọi là phủ, chỗ cư ngụ của cửu khanh gọi là tự. Chẳng hạn như thừa tướng phủ, thái úy phủ, thái thường tự, đại hồng lư tự. 
      Như vậy, tự từ nơi sinh hoạt chung của bách tính lê dân (đồng áng, ruộng rẫy) qua một khoảng thời gian khá dài đã trở thành nơi sinh hoạt của quan lớn trong triều (quan phủ). Sang thời Đông Hán thì ý nghĩa quan phủ của tự lại được nới rộng để chỉ chung nơi làm việc của những người chấp pháp. Theo định nghĩa của Hứa Thận trong Thuyết Văn Giải Tự (cuốn tự điển đầu tiên của Trung Hoa) thì: Tự đình dã, hữu pháp độ giả dã. Tùng thốn.[3] Có nghĩa là: Tự là đình, nơi có (thi hành) luật pháp. Gốc từ bộ thốn. Hình thái của chữ tự cũng được chuyển hóa để phản ánh ý nghĩa mới này. Bởi vậy hai bộ phận cấu trúc nguyên thủy của nó (cây đâm chồi và cánh tay) đã biến thành thổ (trên thực tế được xem là một cách viết khác của chữ ) và thốn . Chữ thốn 寸 có hai nghĩa chính. Một, theo nghĩa đen, dưới dạng danh từ có nghĩa là tấc hoặc gang, dưới dạng động từ có nghĩa là đo lường. Hai, theo nghĩa bóng có nghĩa là suy nghĩ trong lòng, tâm tư (người Trung Hoa thời cổ cho rằng trái tim dài và rộng khoảng một tấc nên dùng chữ thốn theo nghĩa bóng để chỉ trạng thái tâm lý của mình chẳng hạn như phương thốn dĩ loạn tức là tâm trí đã rối loạn, và hai chữ tấc lòng trong tiếng Việt bắt nguồn từ cụm thốn tâm của tiếng Hán). Chữ thốn ở phần dưới tự được dùng để biểu thị ý nghĩa xét đoán, đo lường phép tắc của người chấp pháp (kẻ ra làm quan).
______________________________________
[6]Trần Kiêm Đoàn, tài liệu đã dẫn.
[7]Thời Học Tường (chủ biên), Ngữ Lâm Thú Thoại (3), (Thành Đô: Tứ Xuyên Từ Thư Xuất Bản Xã, 2004), tr. 348.
[8]Hứa Thận, Thuyết Văn Giải Tự, (Từ Huyền [đời Tống] hiệu đính, Bắc Kinh: Trung Hoa Thư Cuộc, 1963), quyển 3 hạ, tr. 67. 

Trở lại phần (1)   Xem tiếp phần (3) 

Tác giả: Nam Hải Trường Sơn
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

14 tháng 7, 2010

Trinh Nguyên


Ngó dòng chữ ghi đầu trang sách nhỏ
Ngậm ngùi thương gió cuốn bụi thời gian
Nét mực xanh, giấy thắm đã điêu tàn
Quanh ký ức bồng bềnh năm tháng cũ

Nhớ mãi mái trường xưa, người tố nữ 
Bài Anh văn cả bốn lớp thi chung
Nàng thủ khoa nên hứng thú vô cùng
Hoa vương miện phút giây thành hiện thực

Thua (chỉ một phần tư) vẫn ấm ức
(Ai đường đường là bực đại tu mi
Lại cam tâm lép vế tiểu oa nhi?)
Nên phóng bút hiên ngang đòi hỏi đố

Lời Shakespeare trong vở kịch xưa cổ
Chàng Hamlet: To be or not to be?
Đặt vấn đề sống chết với hoài nghi
Rồi Tồn tại hay không? Mất hoặc có?

Thành dấu ấn khởi đầu duyên hạnh ngộ
Tuổi học trò từ đó lắm mộng mơ
Cát hong vàng, biển động ... cũng nên thơ
Ôm đàn hát ru trăng sao huyền ảo

Thiệp chúc Tết chua thêm dòng áo não
Giọt sương xuân thấm lạnh lòng núi non.
Lời tỏ bày trong mấy chữ cỏn con
Mong gói trọn phiến tình son bàng bạc

Nàng trả lễ bằng ngôn từ đài các 
Bảo rằng tôi nên gột rửa tư duy
Như thể yêu là bệnh dịch hiểm nguy
Và con nít chớ điên rồ, xuẩn ngốc

Tôi khấn nguyện tiểu oa nhi nhiễm độc 
Để tặng nàng phương thuốc giải tương tư 
Cứu giai nhân như một đấng y sư
Nhưng lưu bút cứ ghi mình trong sáng

Bờ Non Nước nàng cười như tiên giáng
Động Ngũ Hành tôi dệt mộng Thiên Thai
Núi Sơn Trà hai đứa nhập Bồng Lai
Tình yêu đến tím khung trời Đà Nẵng

Nguồn thương nhớ long lanh chùm hoa nắng
Chuỗi ngày vui như ảo ảnh hoàng lương
Cuối dòng ... sông chẻ nhánh rẽ đôi đường
Ngày tiễn biệt bình minh còn hắc ám

Nàng đứng ngóng, vẫy tay buồn thê thảm
Ánh đèn pin tôi viết chữ phân ly
Lòng nghẹn ngào, mắt ứa lệ hoen mi
Tình trong trắng như pha lê tan vỡ

Duyên dang dở để ngàn thu nhung nhớ
Mộng trinh nguyên xuôi vạn kiếp tồn lưu
Hạnh phúc tuổi thơ thiên trường địa cữu
Xin giữ gìn năm tháng đã có nhau!


07-2010
Mến tặng Thu Sương

Tác giả: Nam Hải Trường Sơn
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn

[ Đọc Tiếp ]

4 tháng 7, 2010

Ân Sủng Trời Ban


Người hỏi sao em nỡ dại khờ
Yêu chàng thi sĩ kiếp bơ vơ
Không tiền, không của, không ... gì cả
Chỉ lắm ngôn từ với mộng mơ
Có lẽ, người ơi, một chữ duyên
Trăm năm tu hạnh, sánh cùng thuyền
Ngàn thu tích phúc, chung chăn gối
Ân sủng Trời ban ... chút đặc quyền

Riêng em sở hữu vầng trăng sáng
Trong ánh mắt người ... giữa tối tăm
Những lúc dòng đời chợt rét căm
Môi nồng sưởi ấm tim băng giá

Hơi thở hồi sinh ... tình biển cả
Nụ cười xao xuyến ... bản trường ca
Tựa vai em trút gánh sơn hà
Đau đớn thăng hoa, hồn tĩnh lặng

Người hỡi, tình em chẳng dại khờ
Bốn mùa âu yếm lượn nhởn nhơ
Hạnh phúc chan hòa trong điệu nhạc
Trên giàn giao hưởng của vần thơ

Tác giả: Nam Hải Trường Sơn
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn 
[ Đọc Tiếp ]

3 tháng 7, 2010

Hương Cà Phê

Sáng ngủ dậy
Dụi mắt
Thấy
Mình vẫn trần truồng
Như nhộng
Hương cà phê thẩm thấu
Quyện men xuân bay lồng lộng
Nhạc kích tình cuồng tấu
Thối thúc
Nhưng dục vọng đã ngã gục
Kiệt sức
Giẫy chết
Da thịt nhão nhẹt
Chưa hết nhức
Linh hồn trống rỗng
Vẫn chập chờn thổn thức
Chim anh vũ vỗ cánh
Cất tiếng ca
Sà vào
Chọc tức
Sau đỉnh cao
Bờ dốc vẫy tay chào
Thách thức
Ngạo nghễ

Mặc kệ
Chân cứ lết lê 

Hạnh phúc nặng nề
Đau điếng
Nín thở
Mở cửa buồng tắm
Vội vàng mang mắt kiếng
Soi gương
Ngắm
Bãi chiến trường
Tang thương
Khiếp thậm
Thắng lợi phẩm
Đẫm màu máu hồng tươi
Đôi môi cười
Điên dại
Của kẻ kinh hoàng chiến bại
Bỗng bẽ bàng tắt ngấm
Nhịp trống khải hoàn
Ầm vang sấm động
Cờ xí tung bay
Cánh rừng thông
Trải rộng
Đập đầu tự hỏi
Khói lửa bi thương 

Hay là trường ca hùng tráng?
Hương cà phê hay là mùi xú uế?
Cơ thể
Choáng váng
Vội vàng chấp tay
Thầm nhủ
Thân này là dã thú
Vẫn còn điên
Chưa tỉnh mộng

07-2010


Tác giả: Nam Hải Trường Sơn
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn 
[ Đọc Tiếp ]

2 tháng 7, 2010

10 Thành Phố Đắt Đỏ Nhất Thế Giới Năm 2010

Nguồn: Vanessa Wong
Bloomberg Businessweek, 28.6.2010
Chuyển ngữ: Mõ Làng Văn


Nếu bạn nghĩ rằng phải trả $43 đô (USD) cho một bữa ăn trưa là quá mắt thì bạn đừng nên sống ở Oslo. Theo "ECA Quốc Tế", một công ty theo dõi nguồn nhân lực toàn cầu, thì đó là chi phí trung bình của một bữa ăn trưa tại thủ đô của Na Uy. Nhưng Oslo chỉ là thành phố xếp hạng thứ hai trong danh sách 399 địa điểm đắt đỏ nhất thế giới của ECA. Và trong khi giá trung bình của một bữa ăn trưa tại Tokyo chỉ có $17,86 đô, so ra khiêm tốn hơn nhiều, các phí tổn khác, như một vé xi-nê giá $22 đô và một kí gạo giá $8,47 đô, đã đưa nó lên đỉnh vinh dự đáng hoài nghi là thành phố đắt đỏ nhất thế giới.
[ Đọc Tiếp ]

Huyền Thoại T.T.Kh. (1)

Thụy Khuê

Huyền thoại TTKh và Hai sắc hoa ty gôn


Trong những bài thơ tác giả ẩn danh hoặc ký tên nhưng không biết rõ người ấy là ai, Hai sắc hoa ty gôn và TTKh là một huyền thoại lãng mạn đã gây mối trắc ẩn cho nhiều thế hệ yêu thơ. 

Câu chuyện bắt đầu cách đây 70 năm, ngày 27/9/1937 trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, số 174 xuất bản tại Hà Nội, có đăng truyện ngắn Hoa ty gôn của Thanh Châu, nội dung kể lại mối tình tan vỡ của đôi trai gái ngày trước đã hò hẹn dưới giàn hoa ty gôn. Ít lâu sau, có người đàn bà trẻ, dáng dấp bé nhỏ, nét mắt u buồn, mang đến tòa soạn Tiểu Thuyết Thứ Bẩy một phong bì dán kín, gửi cho ông chủ bút, trong có bài thơ Hai sắc hoa ty gôn, ký tên TTKh. Bài thơ Hai sắc hoa ty gôn được đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy số 179, ra ngày 30/10/1937, và sau đó còn ba bài nữa cũng ký tên TTKh được gửi bằng đường bưu điện đến tòa soạn :  

- Bài thơ thứ nhất, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy số 182 (20/11/1937),
- Đan áo cho chồng, đăng trên Phụ Nữ Thời Đàm,
- Bài thơ cuối cùng, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, số 217 (23/7/1938).

Bài thơ thứ nhất xuất hiện sau Hai sắc hoa ty gôn gần một tháng, và Bài thơ cuối cùng đăng tám tháng sau.

Ngay khi Hai sắc hoa ty gôn ra đời, giới văn nghệ sĩ đã xôn xao, thi sĩ J. Leiba, người cùng tâm sự với TTKh và là tác giả hai câu thơ nổi tiếng "Người đẹp vẫn thường hay chết yểu. Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai", chép lại nguyên văn bài Hai sắc hoa ty gôn trên Ngọ Báo với lời mở đầu:

Anh chép bài thơ tự trái tim
Của người thiếu phụ lỡ làng duyên
Lời thơ tuyệt vọng ca đau khổ
Yên ủi anh và để tặng em.

Nguyễn Bính sau khi đọc Bài thơ thứ nhất đã viết bài Dòng dư lệ để tặng TTKh, in lại trong tập Lỡ bước sang ngang và Thâm Tâm có ba bài Màu máu ti gôn, Dang dở Gửi TTKh, và nhiều thế hệ sau còn có những bài thơ khác sụt sùi thương cảm cho số phận TTKh. Vậy TTKh là ai ?

Giọt lệ tương tư mới
Hai sắc hoa ty gôn mở đường cho một lối lãng mạn khác với lãng mạn Đông Hồ, Tương Phố. Có thể nói Hai sắc hoa ty gôngiọt lệ tương tư mới, nơi TTKh, không phải là giọt lệ khóc chồng của Tương Phố, khóc vợ của Đông Hồ, mà là giọt lệ khóc cho tình yêu; hơn thế nữa, khóc người tình ngoài hôn nhân, một đối tượng tự do, phóng khoáng, vượt khỏi khuôn khổ lễ giáo thời bấy giờ. Và lần đầu tiên hai chữ người ấy được chính thức đưa vào thi ca, sau này nó sẽ trở thành "cổ điển", trở thành ngôn ngữ gối đầu giường của giới trẻ trong nhiều thế hệ : 

Xem tiếp phần (2)


Tác giả: Thụy Khê
Copyright © Thụy Khuê 2008
[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn