Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



18 tháng 6, 2010

Linh Sơn Chương 3

Thế là cuối cùng bạn đã đến thị trấn Ô Y và hiện tại đang lửng thửng bước theo vết mòn hằn sâu trên những phiến đá xanh do bánh xe cút kít để lại qua năm tháng, trên con đường chật hẹp và dài dằng dẳng này. Bỗng dưng tuổi ấu thơ vồn vã trở về trong tâm tư bạn vì dường như hồi nhỏ bạn cũng đã từng sống trong một thị trấn hẻo lánh miền sơn cước cổ xưa như thế này. Nhưng bạn không còn thấy những chiếc xe cút kít do người đẩy ấy nữa, bây giờ thay cho tiếng cọt kẹt phát ra từ trục gỗ táo có thoa dầu đậu nành của chúng là tiếng reng reng của chuông xe đạp. Ở đây lái xe đạp cần phải có bản lãnh tạp kỹ của người làm xiếc. Tuy sau yên chất đầy mấy bao bố nặng chình chịch nhưng quý vị tài xế xe đạp vẫn có thể luồn lách nhẹ nhàng giữa đám người gồng gánh, phu kéo xe ba gác, cũng như giữa các quầy sạp bày bán hàng hóa dưới thềm nhà. Đương nhiên không thể thiếu được tiếng chửi rủa của khách bộ hành bị xe đạp choán lối, cắt đường và âm thanh la hét của họ hòa lẫn vào tiếng rao hàng, trả giá và tiếng cười đùa tạo nên một khung cảnh sống động, nhiệt náo.
      Bạn ngửi thấy mùi vị hỗn tạp của dưa muối, lòng heo, da chưa thuộc, củi thông, rơm rạ, và vôi sống. Những quán sạp hai bên đường bày bán đủ loại sản phẩm của miền Nam: hàng tương, phường dầu, tiệm gạo, nhà thuốc Tây, nhà thuốc Bắc, sạp vải, tiệm giày, quán trà, bàn thịt, nhà may, tiệm tạp hóa bày bán nào là ấm đun nước, dây thừng, đồ gốm, nhang đèn và giấy vàng bạc; tiệm này áp sát tiệm kia nhìn không ngớt mắt, từ trước thời nhà Thanh cho đến bây giờ chẳng có gì thay đổi lớn lao. 
      Bảng hiệu phế tàn của cơ sở Chính Hưng kỳ cựu cũng đã được tân trang trở lại, một tiệm chuyên làm bánh oa thiếp rất nổi tiếng nhờ tiết điệu gõ chảo đáy bằng của chủ nhân. Lá tửu kỳ bên khung cửa sổ trên lầu nhà hàng Nhất Phẩm Hương tung bay phất phới. Có khí phái nhất đương nhiên phải kể đến tòa lầu bê tông ba tầng của Công Ty Bách Hóa quốc doanh vừa mới được sửa sang, chỉ một khung cửa kính cũng rộng bằng cả bề mặt của một quán sạp kiểu cũ, chỉ tiếc rằng bụi bặm bám trên mặt kính đã lâu chẳng được lau chùi. Nhưng hấp dẫn hơn hết phải nói là tiệm ảnh, được trang hoàng bằng những bức chân dung của các thiếu nữ làm duyên làm dáng, ăn mặc theo kiểu minh tinh điện ảnh. Đó là hình ảnh của những người đẹp có tên tuổi tại địa phương này, chứ chẳng phải là áp phích của các minh tinh điện ảnh sống tận ngoài phương trời xa xôi. Mảnh đất này quả thật đã đản sinh thật nhiều mỹ nhân, ai ai cũng xinh như hoa, đẹp như ngọc, tay nâng niu chiếc cằm thon, lông mày mi mắt được tô điểm diễm lệ, mọi thứ đều được người thợ chụp hình tận tình ra công dàn dựng, chỉ có điều màu sắc đỏ thì đỏ quá, xanh thì xanh thậm. Dĩ nhiên ở đây cũng có dịch vụ sang ảnh màu và phóng đại, tờ cáo thị ghi rằng ảnh sẽ được hoàn tất cho khách hàng trong vòng 20 ngày, rõ ràng chủ tiệm cần thời gian để đem phim ảnh lên huyện rửa hoặc sang. Nếu không phải do cơ duyên của vận mệnh, không chừng bạn đã sinh ra và lớn lên tại thị trấn này, rồi cưới được một cô vợ trẻ đẹp như thế ấy, và biết đâu người cũng đã sinh hạ cho bạn một hai mụn con nữa. Nghĩ đến đây bạn chợt cười thầm, nhưng vội vàng cất bước rời tiệm ảnh vì sợ người ta vô duyên vô cớ nghĩ bậy bạ, hiểu lầm là bạn đã ưng ý một cô nào đó trong những bức chân dung ấy. Trong lúc tâm tư vẫn còn vương vấn nhiều giả tưởng như thế, bạn lơ đãng đưa mắt ngước nhìn những căn gác trên các cửa tiệm và những tấm rèm cửa sổ, bồn hoa, và chậu cảnh ở đấy khiến bạn băn khoăn muốn tìm hiểu cuộc sống của người dân xứ này. Trên cánh cổng của ngôi lầu cao trước mặt có treo một ổ khóa sắt, tuy trụ cột đã ngã nghiêng nhưng hình ảnh khác chạm trên mái và lan can đã  mục nát của ngôi lầu bộc lộ quá khứ huy hoàng của nó; vận mệnh của chủ nhân và con cháu họ ngôi lầu này là một điều khiến người ta tò mò muốn suy tư tìm hiểu. Cửa hiệu bên cạnh bán đủ các loại áo và quần dzin kiểu Hồng Kông, bên trong lủng lẳng treo mấy đôi tất tơ có dán nhãn hiệu in hình thiếu nữ ngoại quốc để lộ đôi chân thon dài. Trước cửa tiệm còn treo thêm một bảng hiệu lấp loáng mấy chữ vàng: Công Ty Khai Phát Kỹ Thuật Tân Tân nhưng chẳng biết là người ta khai phát loại kỹ thuật nào. Tiến về phía trước, bạn thấy một cửa hàng chất đầy vôi sống trước hiên và đây là nơi tận cùng của con đường. Xa hơn nữa là xưởng chế biến bột mì, người ta phơi đầy mì sợi trên những đường dây thép giăng ngang trên mấy cột gỗ trước tấm sân rộng. Bạn quay trở lại, rẽ vào hẻm nhỏ bên cạnh lò nước nóng của quán trà, vòng qua hai ngõ quẹo nữa là bạn hoàn toàn lạc vào ký ức tuổi thơ. 
      Phía sau cánh cổng khép hờ ấy là một tấm sân ẩm thấp. Một tấm sân hoang vu, không tịch, vắng bóng người, chỉ có một đống gạch ngói nằm bơ vơ bên góc tường. Bạn nhớ hồi nhỏ, khi bạn rón rén bước chân vào khuông viên bốn bức tường đổ nát trong khu vườn bên cạnh nhà, lòng cảm thấy sợ hãi nhưng bạn vẫn cứ muốn vào. Hồi đó bạn cho rằng đây chính là xuất xứ của hồ tiên trong chuyện cổ tích nên mỗi khi tan học dù có sợ đến run bạn cũng quyết chí vào đấy để dò thám. Bạn chưa bao giờ thấy hồ tiên, nhưng cảm giác thần bí ấy vẫn mãi lảng vảng trong ký ức ấu thơ của bạn. Trong khu vườn hoang vu ấy có một chiếc ghế đá với nhiều vết rạn nứt và một miệng giếng có lẽ đã khô cạn từ lâu. Trời cuối thu, gió vi vu thổi vào đám cỏ vàng khô bên mái ngói và ánh dương quang vẫn còn sáng rực rỡ. Chủ nhân của những ngôi nhà kín cổng cao tường này đều có lịch sử riêng của họ và tất cả nghe ra đều giống như những câu chuyện cổ tích. Rồi mùa đông đến, gió bắc rền rĩ thổi qua ngõ hẻm, và bạn diện đôi giày độn bông mới toanh, ấp áp vô vàn, cùng lũ trẻ đồng lứa giẫm chân lên góc tường và dĩ nhiên bạn còn nhớ rõ bài đồng dao ấy: 
Dưới ánh trăng ngà
Ta cỡi ngựa ra 
Thắp nhang các bà
Oan hồn thảm tử
Này La Đại Thư
Chết thiêu, đoạn trường!
Rồi Đậu Tam Nương
Tức tưởi ngậm hờn
Thuở ấy Tam Nương 
Hái đậu bên vườn
Toàn đậu lép không
Tam Nương lấy chồng
Lấy phải Tế Công
Tế Công lùn tẹt 
Bà chê ông ghét
Tôi nghiệp Tam Nương
Tái giá cua đồng
Cua lội qua mương
Đạp đầu chú lươn
Chú lươn đau đớn
Cáo trạng kêu ca
Trình ông hòa thượng
Hòa thượng ê a
Tụng kinh niệm Phật
Ngủ gà ngủ gật
Quan Âm Bồ Tát 
Đại phát thần uy
Mở bình niệu thủy
Trút xuống trần gian
Khổ thân cu tí
Số phận lầm than
Uống nhầm nước vãi
Bụng đau miệng ói
Ta rước thầy bói
Trị quỷ trừ ma
Đâu dè hắn ta
Bô ba thần chú
Đớp gọn hai trăm
Chuồn đi mất tăm
Thằng con quằn quại
Bớ Trời! Bớ Đất!
Ta khờ, ta dại!
      Rêu trên nóc nhà có ngọn đã úa héo vàng vọt có ngọn vẫn tươi non xinh xắn, có lá trắng phau phau nằm xen lẫn giữa lá xanh mơn mởn, nhè nhẹ đong đưa trong làn gió vi vu. Đã bao năm rồi bạn không được thấy mái ngói rêu phong nhỉ? Đôi chân trần của bạn bì bạch rảo bước theo vết mòn hằn sâu trên nhưng phiến đá xanh do xe cút kít để lại, và bạn từ trong thuở ấu thơ vội vã chạy ra, trở về với hiện tại, đôi bàn chân trần đen đúa và dơ dáy ấy cứ bì bạch trước mặt bạn. Nhưng đôi chân trần ấy có thực sự bì bạch trước mặt bạn hay không, cái đó chẳng mấy quan trọng, điều bạn cần chính là những hình ảnh đang bồng bềnh trong tâm khảm này. 
      Lẩn quẩn trong mấy ngõ hẻm ấy một hồi cuối cùng bạn cũng chạy ra tới đường cái và đây chính là chỗ chiếc xe đò từ huyện thành đến đây rồi lập tức quay đầu chạy về chốn cũ. Bến xe nằm ngay bên vệ đường, bên trong có một quầy bán vé và mấy băng ghế dài; hồi nãy bạn vừa xuống xe ở đây. Xế đối diện là một căn nhà trọ với một dãy phòng ngang, tường gạch trát vôi, trên ghi mấy chữ: Trong Có Phòng Đẹp, nhìn cũng thấy sạch sẽ lắm, xấu tốt ra sao cũng phải kiếm chỗ ở nên bạn cứ mạnh dạn bước vào. Bạn hỏi người đàn bà đứng tuổi đang quét dọn hành lang có phòng cho thuê hay không? Bả nói có. Bạn hỏi bả ở đây đến Linh Sơn còn phải đi bao xa? Bả đưa mắt lạnh lùng nhìn bạn, ý muốn nói rằng đây là khách sạn quốc doanh, bả ăn lương tháng của nhà nước, chẳng ưa nói chuyện vớ vẩn. 
      Số 2, bả dùng cán chổi chỉ vào căn phòng có cửa đang mở. Bạn xách hành lý bước vào, bên trong có kê hai chiếc giường. Ở bên trái, một gã đàn ông nằm vắt chân trên giường đang đọc cuốn Phi Hồ Ngoại Truyện, tên sách được viết nguệch ngoạc trên tấm bìa bằng giấy xi-măng, hiển nhiên là hắn mướn ở ngoài sạp sách. Bạn lên tiếng chào và gã bỏ sách xuống gật đầu trả lễ. 
      Chào anh.
      Cũng mướn phòng này à?”
      Ừ, cũng phòng này.”
      Làm một điếu đi, hắn chìa cho bạn một điếu thuốc lá. 
     Cám ơn, bạn ngồi xuống chiếc giường trống ở phía đối diện. Dường như hắn cũng đang cần người trò chuyện.
      Anh đến đây bao lâu rồi? 
      Đã hơn mười ngày rồi, hắn ngồi xổm dậy, mồi thuốc hút.
      Đến mua đồ à? Bạn dò hỏi.
      Mua gỗ.
      Ở đây mua gỗ dễ dàng không?”
      Anh có chỉ tiêu không? Hắn cao hứng hỏi bạn.
      Chỉ tiêu gì?
      Dĩ nhiên là chỉ tiêu của kế hoạch nhà nước chứ còn gì khác.”
      Không có.”
      Thế thì khó chơi lắm, nói xong hắn nằm phịch xuống giường. 
      Ở vùng rừng núi này mà gỗ cũng khan hiếm à?”
      Gỗ thì cũng có, nhưng giá cả chênh lệch ghê lắm,hắn đáp lại bằng một thái độ uể oải và lười biếng vì biết rằng bạn không phải là người trong nghề.
      Anh đang chờ giá hạ?”
      Ừa, hắn trả lời một cách hững hờ rồi cầm cuốn truyện lên đọc tiếp.
      Những người chạy hàng như anh chắc biết nhiều, hiểu rộng lắm,bạn tâng bốc hắn vài câu để kiếm cơ hội hỏi chuyện.
      Đâu có, hắn trở nên khiêm tốn.
      Ở đây đi Linh Sơn bằng đường nào?
      Hắn chẳng trả lời. Bạn chỉ còn cách nói thêm rằng bạn bạn đến đây để xem phong cảnh và hỏi hắn có chỗ nào đáng du lãm.
      Ngoài bờ sông có một tòa lương đình,§ ngồi đó ngắm sông núi bên bờ đối diện, phong cảnh cũng được lắm.”
      Anh nghỉ cho khỏe nha, bạn tỏ vẻ ân cần.
      Bạn để hành lý trong phòng, tìm nhân viên phục vụ đăng ký rồi rời quán trọ. Bến đò ở cuối con đường cái quan, nằm cách lề đường khoảng mười mét, dốc bậc thang lót đá soai soải chạy xuống tới mặt sông. Lác đác có mấy chiếc tuyền mui đen cắm sào đậu bên thềm đá. Mặt sông không rộng lắm nhưng đôi bờ trải rộng, hiển nhiên lúc này không phải là mùa nước lớn. Bên kia bờ chỉ có một con đò lẻ loi neo bến và bạn thấy vài bóng người đi lên đi xuống. Những người ngồi trên bậc đá bên này đang chờ con đò ấy sang đưa họ về bên đó.
      Trên bến đò, bên cạnh bờ đê, quả thật có một tòa lương đình mái lượn hiên bay. Bên ngoài đình ngổn ngang đủ thứ thúng mủng, toàn bộ dường như đều trống rỗng. Những người ngồi nghỉ trong đình phần lớn là nông dân ở bên kia sông qua đây họp chợ và đã bán hết hàng hóa. Họ nói chuyện oang oang, tựa như ngôn ngữ của người đời Tống mà những loại sách truyện xưa cũ đã từng đề cập. Tòa lương đình vừa mới được sửa sang nên những bức tranh long phụng dưới thềm cũng đã được sơn phết lại. Trên hai trụ lớn ở chính diện có treo một cặp đối liễn:
Yết tọa tu tri vật luận tha nhân đoản xứ
Khởi bộ đăng trình tận thưởng long khê tú thủy*
      Bạn vòng ra phía sau lưng hai cột trụ và lại thấy ghi:
Biệt hành mạc vong nhĩ văn bình thủy lương ngôn
Hồi mâu viễn chúc thắng lãm phụng lý linh sơn**
      Lập tức bạn cảm thấy cao hứng. Chiếc đò kia đang cập bến, những người ngồi nghỉ nhốn nháo đứng dậy quẳng gánh lên vai, chỉ có một cụ già vẫn còn ngồi lại trong đình. 
      Thưa cụ, xin hỏi cụ đôi liễn này ...”
      Anh muốn hỏi đôi doanh liễn này?*** Cụ già ngắt lời bạn, cải chính lại ngay.
      Vâng, thưa cụ đôi doanh liễn này là thủ bút của ai vậy? Bạn hỏi một cách cung kính hơn.
      Đại học sĩ Trần Tiên Ninh tiên sinh! Cụ già há rộng miệng, để lộ lưa thưa mấy chiếc răng đen, lần lượt phát âm từng chữ một cách rõ ràng và chính xác.
      Tôi chưa hề nghe qua. Bạn chỉ còn cách thành thật tự thú nhận sự ngu si của mình. Thưa cụ, vị tiên sinh này dạy ở trường đại học nào vậy?
      Các anh đương nhiên là không biết rồi, ông ta là người sống cách đây đã hơn cả ngàn năm. Cụ già giải thích, tỏ vẻ khinh khi.
      Xin cụ đừng đùa, bạn kiếm lời hóa giải sự trào tiếu của cụ già.
      Anh không đeo mắt kiếng rồi, không thấy sao? Cụ già đưa tay chỉ lên thanh hoàng lương trên đầu cột trụ.
      Bạn ngửng đầu đưa mắt nhìn theo, quả thật trên cây rường ngang có mấy hàng chữ sơn son:
Kiến lập vào đầu xuân Canh Giáp, tức năm Thiệu Hưng thứ mười, triều Đại Tống. Trùng tu vào ngày hai mươi chín tháng ba năm Giáp Tuất, tức năm Càn Long thứ mười chín, triều Đại Thanh.
____________
Oa thiếp là một loại bánh điểm tâm chiên, da làm bằng bột mì, thông thường có nhân làm bằng thịt heo bằm nhuyễn trộn với bắp cải, hành lá, và gừng xắt nhỏ. Khi chiên, bánh được ép dính vào đáy chảo cho đến khi bề dưới trở nên giòn và có màu vàng nâu. Danh từ oa thiếp xuất xứ từ cách chiên ấy: oa có nghĩa là chảo và thiếp có nghĩa là ép dính, dán sát vào, trong tiếng Anh được gọi là potsticker và có thể dịch sang tiếng Việt là bánh áp chảo hay bánh dính chảo.
Lá cờ treo trước cửa các tửu lâu theo phong cách xưa.
§Đình hóng mát. 
*Ngồi nghỉ phải biết chớ nên bàn luận đến cái thiếu sót của người khác. Cất bước lên đường nên tận tình thưởng thức dòng nước thanh tú của ngọn suối rồng.
**Chia tay đừng quên lời chúc đẹp đẽ của những người bạn bè bình thủy tương phùng. Quay mắt trở lại chăm chú nhìn ra xa để duyệt lãm ngọn núi thiêng giữa bầy phượng hoàng bay; bốn chữ cuối của hạ liễn có thể là danh từ riêng, và trong trường hợp đó thì phải viết là Phụng lý Linh Sơn với ý nghĩa là ngọn Linh Sơn trong rặng núi Phụng.
***Doanh là cột trụ chính ở tiền sảnh của đình, miếu, chùa, hoặc nhà lớn, bởi vậy các đôi liễn treo trên những cột trụ chính có tên riêng là doanh liễn.


Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Tác giả: 高行健 - Cao Hành Kiện
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

16 tháng 6, 2010

Tâm Sự Chị Em



Giai nhân muôn kiếp một lời than
Xuân sắc cớ sao sớm úa tàn!
Ba chục chưa tròn, lo tóc bạc
Đôi mươi vừa chẵn, sợ da nhăn
Ngực bằng độn mãi vú còn xệch
Bụng xệ hút hoài mỡ chẳng tan
Tuế nguyệt phũ phàng không thương tiếc
Hoa tàn, trăng khuyết, phận hồng nhan


Hoa tàn, trăng khuyết, phận hồng nhan
Ai thoát luật Trời đã phán ban!
Ngẫm nỗi bạch câu bôn kẽ hở

Chạnh niềm thương cẩu hóa mây tan

Chim sa cá lặn ... sầu xuân chết
Nước đổ thành nghiêng ... tiếc hạ tàn
Đẹp xấu chung quy về cát bụi
Cười lên, vui sống với thời gian! 


02-2002
_____________
Phỏng theo câu “Nhân sinh thiên địa chi gian nhược bạch câu chi quá khích” của Trang Tử, nghĩa là: “Đời người trong khoảng trời đất như bóng ngựa trắng chạy qua khe hở.”
Phỏng theo câu “Thiên thượng phù vân như bạch y, tư tu cải biến vi thương cẩu” của Đỗ Phủ, nghĩa là: “Trên trời mây nổi như áo trắng, phút chốc đã biến thành chó xanh.”

Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn 
[ Đọc Tiếp ]

15 tháng 6, 2010

Nguồn Gốc Của Thơ Nhìn Từ Góc Độ Từ Nguyên (1)

Định Nghĩa Thơ Theo Truyền Thống Khổng Tử Và Aristotle

Trước khi nói đến vấn đề nguồn gốc của thơ, người tham gia đối thoại cần minh định ý nghĩa của thơ. Thơ là gì? Câu hỏi này dường như có vẻ thừa thải bởi vì phần lớn chúng ta, thậm chí có lẽ đến cả trẻ thơ tiểu học, ai cũng biết thơ là gì, bài thơ khác với bài báo, truyện cổ tích, hoặc tiểu thuyết như thế nào. Nhưng trước khi truy cứu căn đễ, định nghĩa và giới hạn của thơ cần được đặt ra để tạo dựng một tiền đề, một điểm xuất phát chung mà mọi người tham gia hội thảo cũng như độc giả đều có thể chấp nhận. Đây là một khái niệm tiên quyết không thể thiếu thốn trong việc luận bàn nghiêm túc. Trong bài viết này, thơ nằm trong phạm trù thường quán và phổ cập của nó, tức là một thể loại nghệ thuật văn chương của con người. Nói cách khác, nó là loại thơ được giảng dạy trong trường học khắp nơi trên thế giới ngày nay, được truyền miệng, được ký lục từ thuở xa xưa, theo truyền thống của Khổng Tử và Aristotle.
       Khổng Tử đề cao giá trị của thơ, đặc biệt là thơ trong Thi  Kinh. Đối với Khổng Tử thơ là nhã ngôn” là tiếng nói và văn chương cao nhã, tuyệt hảo của con người, và những bài thơ trong Thi Kinhngôn từ đẹp đẽ và mẫu mực của dân tộc Hán: Tử sở nhã ngôn? Thi, Thư, Chấp Lễ giai nhã ngôn dã.[1] (Những điều mà Phu Tử gọi là nhã ngôn là gì? Ngôn từ trong những cuốn Thi Kinh, Thượng Thư Chấp Lễ là thứ ngôn từ mà Phu Tử gọi là nhã ngôn.) Bởi vậy Khổng Tử đã răn dạy đệ tử rằng: Bất học Thi, vô dĩ ngôn.[2] (Không học Thi Kinh thì làm sao có thể đàm đạo, đối thoại với người đời.)
      Hơn một trăm năm sau khi Khổng Tử qua đời, ở phương Tây, Aristotle (có lẽ chẳng bao giờ đọc qua Thi Kinh của Trung Quốc) trong tác phẩm luận về thi ca và văn chương mang tựa đề Thi Học của mình cũng đã khẳng định rằng thơ là nghệ thuật mô phỏng và miêu tả của con người chỉ đơn thuần dựa vào phương tiện ngôn ngữ; hay nói đơn giản hơn, đối với Aristotle, thơ là embellished language tức là ngôn ngữ đã được trang sức, mỹ hóa hay mỹ ngữ của con người.[3] Nói tóm lại thơ là sản phẩm nghệ thuật ngôn ngữ của con người, bởi vậy thơ theo truyền thống này không thể có trước khi con người xuất hiện trên địa cầu. Đây là định nghĩa phổ cập từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây của thơ, và cũng chính là đối tượng nghiên cứu của bài viết này. Thơ là nhã ngôn,”“mỹ ngữ của con người, và do vậy nó không thể xếp cùng loại với những thứ thơ cao siêu huyền ảo như thơ của vũ trụ, thơ của chó, thơ của mèo,” hay thơ của cây cỏ, v.v. ... Có lẽ khi nghe nói đến những loại thơ cao siêu huyền ảo này, nhiều người sẽ chép miệng cười mỉa mai cho rằng đó chỉ là lối lý luận vớ vẩn, tầm phào của trẻ nít chưa được học thơ ở nhà trường. Nhưng sự thực không hẳn là như vậy vì mới đây có một số trí thức háo hức tung ra nhiều khái niệm thơ kỳ lạ và có vẻ triết lý lắm. Chẳng hạn, giáo sư Trần Kiêm Đoàn đã đưa ra một nhận định về thơ tiền-nhân-loại, thơ không lời rất thú vị: 
Thi sĩ là người sáng tác những vần thơ, nhưng không phải là người khai sáng ra thơ. Thơ có trước con người. Sự im lặng thâm viễn và miên trường ẩn dấu của vũ trụ là thơ không lời trước khi con người sinh ra.[4]
      Hy vọng vào một ngày đẹp trời nào đó, con người sẽ có cơ hội được thưởng thức những áng Vũ Trụ Thi, Cẩu Thi, Miêu Thihay Thụ Thảo Thi do các tác giả phi-nhân-loại sáng tác và triển hiện. Trong lúc chờ đợi, những nhà phê bình văn học, những người thảo luận thơ, những người soạn sách giáo khoa, các thầy cô giáo giảng dạy ở nhà trường ... có lẽ phải nên tự giới hạn ý nghĩa của thơ trong phạm trù quy ước phổ cập của nó là nghệ thuật ngôn từ (bao gồm cả tiếng nói lẫn chữ viết) của con người. Nếu không biết phân biệt, cứ gộp ẩu những loại thơ cao siêu huyền ảo ấy vào định nghĩa thường kiến của thơ thì việc phân tích tự nhiên sẽ trở nên mông muội, rối rắm, và khả tiếu.[5]  Đương nhiên bài viết này cũng không thể vượt quá phạm trù quy ước phổ cập của thơ là nhã ngônmỹ ngữ do nhân loại sáng tác, nói như lời Khổng Tử và Aristotle. 

Xem tiếp phần (2) 

________________________________________
[1]Luận Ngữ, Thuật Nhi, chương 7.18. 
[2]Luận Ngữ, Lý Thị, chương 16.13.
[3]Aristotle, Poetics, Ingram Bywater dịch, (Oxford: The Clarendon Press, 1962), đoạn 1-8. 
[4]Trần Kiêm Đoàn, "Thơ giữa đời," blog talawas.org, đăng ngày 19/02/2010, (duyệt lãm ngày 12/03/2010).
[5]Chẳng hạn, như trên.



 Tác giả: Nam Hải Trường Sơn
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

5 tháng 6, 2010

Linh Sơn Chương 2

Tại khu vực cư ngụ của người Khương trên sườn núi Cung Lai, giữa vùng chuyển tiếp của cao nguyên Thanh Tạng và bồn địa Tứ Xuyên, tôi đã chứng kiến tận mắt một di tích của nền văn minh nhân loại nguyên thủy: sự sùng bái lửa. Tổ tiên của bất cứ một dân tộc viễn cổ nào cũng đã từng sùng bái ngọn lửa thiêng liêng mang lại cho họ nếp sống văn minh sớm sủa nhất. Lửa là thánh thần. Ông già ngồi nhâm nhi bên cạnh bếp lửa, trước khi uống, ổng nhúng ngón tay vào chén rượu rồi búng vào đống củi đỏ rực, than hồng phụt cháy xì xèo, lóe lên những đốm lửa màu xanh xanh. Chỉ trong giây phút ấy tôi mới cảm thấy mình thực sự tồn tại.
      “Cái đó để cúng ông Táo, nhờ ơn ngài nhiều chúng ta mới có ăn có uống,” ổng giải thích.
      Ánh lửa lập lòe chiếu lên gò má gầy gòm, sống mũi và lưỡng quyền cao cao của ổng. Ổng bảo ổng là người Khương, là dân làng Cảnh Đạt ở dưới chân núi. Tôi không tiện hỏi han về chuyện quỷ thần nên chỉ nói rằng tôi đến đây để tìm hiểu dân ca miền thượng du. Tôi hỏi ổng trong vùng núi này còn có phường hát, phường múa nào không. Ổng nói ổng biết nhảy múa và trước kia thường cùng đám bạn bè trai gái quây quần bên ánh lửa hồng nhảy thâu đêm suốt sáng, nhưng sau đó thì bị cấm.
      “Tại sao vậy?” Tôi thừa hiểu nhưng vẫn cứ hỏi, thái độ có chút không thành thật.
      Chẳng phải là vì cuộc Cách Mạng Văn Hóa đó sao? Người ta bảo lời ca không lành mạnh, sau đó chuyển sang hát nhạc ca tụng Mao Chủ Tịch.
      Rồi sao nữa? Tôi lại hỏi cố ý hỏi gặn, điều này đã trở thành một thói quen khiếm nhã.
      Sau đó chẳng còn ai hát nữa. Hiện tại đã có người nhảy múa trở lại, nhưng rất tiếc giới trẻ bây giờ không nhiều người biết, tôi đã từng dạy cho họ.”
      Tôi yêu cầu ổng biểu diễn. Chẳng chút do dự, ổng đứng ngay dậy, chân trước bước, chân sau quàng, vừa múa vừa hát. Ổng có một giọng ca trầm ấm hồn hậu, một thanh quản trời sinh tốt lắm. Tôi  hoàn toàn tin tưởng ổng là người Khương chính gốc, nhưng khổ nỗi đám cán bộ quản lý hộ khẩu ở đây vẫn cứ  khăng khăng hoài nghi rằng những kẻ tự khai là người Tạng hay người Khương thực sự là người Hán cố ý trốn tránh chính sách kế hoạch hóa việc sinh sản, muốn được đẻ nhiều con mà thôi.  
      Ổng hát hết khúc này sang khúc nọ. Ổng bảo rằng ổng là người chịu chơi, và tôi cũng tin điều này. Sau khi từ bỏ chức vụ xã trưởng, ổng trở về đây sống lại cuộc đời của một người dân miền núi, một ông già miền núi chịu chơi, ưa nhiệt náo, chỉ tiếc nỗi ổng đã quá lứa tuổi phong lưu. 
      Ổng còn biết niệm rất nhiều chú ngữ, loại pháp thuật mà thợ săn thường dùng khi vào núi, còn được gọi là hắc sơn pháp hay tà thuật. Ổng chẳng tránh né vì ổng đinh ninh rằng chú ngữ có thể xua đuổi muông thú sa xuống hố bẫy hay đạp lên tròng thòng lọng đã được cài sẵn. Loại tà thuật này không phải chỉ dùng để săn bắt dã thú, nó còn là phương tiện người ta dùng để báo thù nhau. Nếu trúng phải hắc sơn pháp thì nạn nhân không tài nào thoát ra khỏi rừng. Điều này giống y chuyện bức tường quỷ ám mà hồi nhỏ tôi đã từng nghe qua, khi lần bước trong rừng sâu giữa đêm tối, người ta thường thấy một bức tường, một vách đá sừng sững, hay một dòng sông sâu thăm thẳm xuất hiện trước mặt, dẫu có trăm phương ngàn kế cũng không sao vượt qua được. Nếu không phá giải được loại ma pháp này thì một bước cũng không tiến lên nổi, cứ quanh quẩn rồi lại quay về chỗ cũ, cho đến tảng sáng mới phát hiện ra rằng suốt đêm chỉ loay hoay chạy vòng tròn. Như vậy là còn may mắn lắm, nếu ghê gớm hơn hắc sơn pháp có thể dẫn dụ người ta vào tuyệt cảnh, và đó chính là cõi chết.  
      Ổng niệm hết tràng chú ngữ này đến tràng chú ngữ khác, nam ... nam ... nạp ... nạp ... gấp rút, thôi thúc khác hẳn giọng ca hòa hoãn, thung dung hồi nãy. Tuy chẳng thể nào hiểu nổi nội dung những tràng chú ngữ ấy nhưng tôi có thể cảm nhận được mị lực của loại ngôn từ đó. Một bầu không khí ma quái sâm nghiêm tỏa ra bao phủ gian phòng nhỏ bé nằm giữa bốn bức tường đã nhuốm lên một màu đen sạm vì than khói này. Ngọn lửa liếm quanh chiếc nồi sắt hầm thịt dê chiếu vào đôi mắt ổng tạo nên những ánh chớp long lanh, tất cả đều chân thật lắm.
      Khi bạn tìm kiếm đường đi lên Linh Sơn thì tôi đang lãng du bên bờ sông Trường Giang để tầm cầu loại cảm giác chân thật này. Đời tôi vừa trải qua một khủng hoảng lớn, thêm vào đó bác sĩ lại chẩn đoán sai lầm là tôi bị bệnh ung thư phổi. Tôi bị tử thần đùa giỡn một phen hú vía, nhưng rốt cuộc cũng thoát khỏi bức tường chắn ấy, lòng thầm cảm thấy may mắn lắm. Từ đó, đối với tôi, sinh mệnh lại trở nên mới mẻ và tươi thắm. Đáng lý ra tôi phải sớm từ bỏ hoàn cảnh ô nhiễm ấy, trở về với tự nhiên để tìm kiếm cuộc sống chân thật như thế này.  
      Khi tôi còn ở trong hoàn cảnh ấy, người ta cứ dạy bảo tôi rằng cuộc sống là nguồn gốc của văn học, và văn học phải trung thành với cuộc sống, phải trung thành với thực chất của cuộc sống. Cái sai lầm đáng trách là chính tôi đã xa lìa cuộc sống, và như thế tôi đã bội bạc thực chất của cuộc sống. Nhưng thực chất của cuộc sống không đồng nghĩa với biểu tượng của cuộc sống. Cái thực chất hay nói cho đúng hơn là bản chất của cuộc sống ấy phải như thế này chứ không phải như thế kia. Sở dĩ tôi đã bội bạc thực chất của cuộc sống vì tôi đã phô bày la liệt một thể hệ biểu tượng của cuộc sống, và như vậy đương nhiên là không thể phản ánh chính xác cuộc sống, kết quả là tôi đã lầm lạc đi vào con đường bóp méo, xuyên tạc hiện thực.  
      Tôi không biết ngay bây giờ tôi đã đi vào con đường chính đạo hay chưa, nhưng dẫu tốt hay xấu ít ra là tôi cũng đã tránh xa cái văn đàn náo nhiệt ấy, cũng đã thoát khỏi căn phòng đằng đằng sương khói và ngôi nhà chất đầy sách báo ngột ngạt đến khó thở ấy. Những cuốn sách ấy giảng giải đủ loại chân lý: từ chân lý lịch sử cho đến chân lý làm người, thật tình tôi chẳng hiểu những thứ chân lý này có gì hữu dụng. Nhưng khổ nỗi tôi cứ bị chúng quấn quýt mãi và tôi vùng vẫy loạn xạ trong mạng lưới của chúng. Đời tôi như kiếp sâu bọ sa vào mạng nhện. Nhưng tôi may mắn được vị bác sĩ chẩn đoán nhầm bệnh ấy cứu sống. Vị bác sĩ này là một người thẳng thắn và chân thật, ổng để cho tôi tự đối chiếu hai tấm phim X quang toàn ngực chụp trước sau trong hai lần khác nhau của tôi. Trên lá phổi trái có một vết mờ đục chạy dọc theo xương sườn thứ hai cho đến vách khí quản. Với tình trạng này thì dù có cắt đi toàn bộ lá phổi trái cũng không chữa nổi, đó là một kết luận hiển nhiên chẳng cần phải nói rõ ra. Ba tôi cũng chết vì bệnh ung thư phổi, từ khi phát hiện cho đến lúc qua đời chỉ có ba tháng, và cũng do vị bác sĩ này chẩn trị. Tôi tin cậy ổng và ổng hoàn toàn tin tưởng vào khoa học. Hai tấm phim X quang toàn ngực của tôi tuy chụp tại hai bệnh viện khác nhau nhưng hoàn toàn giống hệt nhau, và như vậy không thể có tình trạng sai lầm kỹ thuật được. Ổng viết giấy cho tôi đi chụp X quang cục bộ và tôi y lời lấy hẹn chụp vào nửa tháng sau. Tôi chẳng có gì phải gấp gáp bởi vì tôi biết việc chụp X quang cục bộ ấy chỉ là để xác định thể tích của khối u. Trước khi chết, ba tôi cũng đã chụp loại phim đó. Có chụp hay không chắc chắn tôi cũng phải đi theo dấu chân bất hạnh của ba tôi; chuyện ấy đối với tôi chẳng có gì mới lạ. Nhưng thoát khỏi nanh vuốt của tử thần phải nói là hoàn toàn do may mắn. Tôi tin tưởng vào khoa học, nhưng đồng thời tôi cũng tin tưởng vào vận mệnh.   
    Tôi đã từng có dịp xem qua cây bùa gỗ dài khoảng hơn bốn tấc do một nhà nhân chủng học sưu tầm được tại khu vực của người Khương vào thập niên 1930. Đó là một pho tượng gỗ khắc hình người chống hai tay đứng lộn ngược, ngũ quan được phác họa sơ sài bằng mấy điểm mực đen, trên mình có ghi hai chữ Trường Mệnh, được gọi là Đảo Lập Ngỗ Xướng, phảng phất một dáng điệu đùa bỡn tinh quái. Tôi hỏi ông xã trưởng về hưu bây giờ có còn loại thần hộ mệnh này không, ổng bảo rằng đó là bùa Lão Căn. Loại mộc ngẫu này thường được đeo vào mình trẻ sơ sinh và cùng sống cùng chết theo vận mệnh của đứa bé. Sau khi người mang bùa chết nó sẽ được đặt bên cạnh tử thi và đưa ra khỏi nhà. Sau khi thi hài đã được mai táng xong, người ta mang nó đặt giữa vùng núi non hoang dã để linh hồn người chết được trở về với tự nhiên. Tôi hỏi ổng có thể kiếm dùm cho tôi một cái như vậy để đeo bên mình. Ổng cười khẩy một tiếng rồi nói rằng đó là loại bùa thợ săn giấu trong áo để trừ tà khi vào núi chứ đối với những người như tôi nó chẳng có tác dụng gì. 
      “Có thể kiếm được một người thợ săn lão thành biết loại tà thuật này để cùng vào rừng săn bắn không?” Tôi lại hỏi.
      Cái đó thì Thạch lão gia là giỏi nhất, ổng trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi nói. 
      Có thể kiếm được ổng không? Tôi hỏi ngay.
      Ổng ở Thạch Lão Gia Ốc.” 
      Thế Thạch Lão Gia Ốc ở đâu?” 
      Từ đây đi hai mươi dặm lên Khe Xưởng Bạc, rồi từ khe đi vào tận đầu nguồn, ở đấy có một căn nhà đá.”
      Đây là một địa danh hay là căn nhà của Thạch lão gia?”
      Ổng bảo rằng đó là một địa danh, nhưng ở đấy thực sự có một căn nhà đá và Thạch lão gia ở trong căn nhà đá đó.
      Bác có thể đưa tôi đi kiếm ổng chăng?” Tôi hỏi dồn.
      Chết rồi. Ổng nằm trên giường và chết trong giấc ngủ. Già quá rồi, ổng sống tới chín mươi mấy tuổi, có người nói là trăm tuổi, tóm lại, chả có ai biết rõ tuổi thật của ổng cả.”
      Thế ổng còn có con cháu gì không? Tôi phải hỏi cho ra ngọn ngành.
      Ổng cùng lứa với ông nội tôi, tôi vừa nhớ ra, ổng cứ vậy mà sống một mình.”
      Không có vợ sao?”
      Ổng sống một mình trong Khe Xưởng Bạc, từ khe đi sâu vào núi chỉ có một căn nhà, một người ở. À, trong nhà ổng còn có cây súng trường treo trên vách tường.” 
       Tôi hỏi ổng nói như thế nghĩa là sao. Ổng giải thích rằng Thạch lão gia là một người thợ săn cừ khôi,  một người thợ săn có pháp thuật cao cường, bây giờ không thể nào kiếm được một người thợ săn như thế. Mọi người đều biết cây súng trăm phát trăm trúng ấy vẫn còn treo trên vách tường nhà ổng, nhưng chẳng ai dám vào lấy.
      Tại sao vậy? Tôi càng thấy khó hiểu.
      Con đường lên Khe Xưởng Bạc đã bị cắt đứt rồi.”
      Không còn cách nào lên đó được nữa sao?
      Không còn cách nào nữa. Trước kia có người lên đó để khai thác mỏ bạc, một ông chủ hãng buôn nào đó ở Thành Đô thuê một nhóm công nhân đến đào mỏ. Sau đó xưởng bạc bị cướp, mạnh ai nấy chạy, thợ thầy tan rã cả. Con đường sạn đạo dựng lên lúc vào khai thác mỏ bạc, sau đó đoạn thì sụp đổ, nếu không sụp đổ cũng mục nát hết rồi.” 
      Chuyện đó xẩy ra từ hồi nào vậy?”
      Khi ông nội tôi còn sống, cách đây đã hơn năm mươi năm rồi.”
      Tính ra là đúng như vậy, xét cho cùng bây giờ ổng đã về hưu, đã trở thành lịch sử rồi, lịch sử chân thật.
      Thế rồi từ đó không có ai lên trên ấy nữa sao? Tôi càng muốn hỏi cho ra ngọn ngành. 
      Khó nói lắm, tóm lại là không dễ vào đâu.”
      Căn nhà ấy chắc đã mục nát rồi?
      Nhà làm bằng đá sao mục nát được.”
      Ý tôi nói là rường cột ấy mà.”
      Ồ, đúng vậy.
      Ổng chẳng muốn đưa tôi lên đó lại chẳng muốn giới thiệu người thợ săn nào cho tôi nên mới hù dọa lung bung như vậy, tôi đoán chừng
      Sao bác biết cây súng trường vẫn còn treo trên vách?” Tôi lại cứ hỏi.
      Người ta nói như vậy, có người đã trông thấy tận mắt mà. Họ nói Thạch lão gia này kỳ quái lắm, chết rồi mà thi thể không thối rữa, thú rừng cũng chẳng dám mò đến gần. Ổng vẫn nằm y nguyên trên giường, thân xác gầy khô, và cây súng trường vẫn còn treo trên vách.”
      Làm sao có chuyện đó được? Trên núi không khí ẩm thấp, thi thể không thể nào không thối rữa được còn cây súng ấy cũng phải rỉ rét thành một mớ sắt vụn từ lâu rồi chứ, tôi cãi lại.
      Không hiểu được, người ta nói như vậy đã nhiều năm nay.” Ổng chẳng chịu bỏ cuộc, vẫn cứ giữ vững lập trường của mình. Đốm lửa nhảy múa trong ánh mắt long lanh của ổng và tôi cảm thấy một nét giảo hoạt lồ lộ giữa đôi vầng mắt ấy.  
      "Thế bác chưa thực sự chứng kiến điều đó sao? Tôi vẫn không chịu buông tha.
      Người ta tận mắt trông thấy, nói lại như vậy. Ổng vẫn như người nằm ngủ, thân thể khô cứng, gầy gò, và cây súng trường vẫn còn treo trên vách ở trên đầu ổng, ổng thản nhiên tiếp tục nói chẳng có chút bối rối. Ồng biết tà thuật mà, đừng nói chi chuyện không có ai dám đến lấy trộm cây súng, đến dã thú cũng chẳng dám mon men lại gần.” 
      Người thợ săn này đã được thần hóa. Sự ra đời của một câu chuyện dân gian là như thế đấy: khi người ta đem lịch sử và truyền thuyết gộp lại mà nói. Hiện thực chỉ tồn tại trong kinh nghiệm sống, và phải là kinh nghiệm sống của chính bản thân mình. Nhưng dẫu là kinh nghiệm của chính bản thân mình, một khi đã được truyền thuật thì nó vẫn y nhiên trở thành cố sự. Hiện thực chẳng thể luận chứng và chẳng cần gì phải đi luận chứng hiện thực, việc đó để dành cho những người gọi là biện sĩ của hiện thực cuộc sống luận chứng là đủ rồi, chính bản thân cuộc sống mới là cái quan trọng. Hiện thực chỉ là tôi đang ngồi bên bếp lửa hồng, trong gian phòng đen đúa đầy mồ hóng này, nhìn thấy ánh lửa nhảy múa trong tròng mắt long lanh của ổng. Hiện thực chính là bản thân tôi, hiện thực chỉ là nội dung cảm thụ của khoảnh khắc hiện tại này mà tự tôi cũng chẳng có đủ khả năng diễn đạt cho người khác hiểu được. Chỉ cần nói rằng bên ngoài song cửa một màn sương mù phủ kín ngọn đồi xanh và tiếng nước chảy xiết của một dòng suối đâu đó đang rầm rì vang vọng trong lòng tôi; như thế là đủ quá rồi.        
       
Xem tiếp Chương 3     Trở lại Chương 1

Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Tác giả: 高行健 - Cao Hành Kiện
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn