Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



29 tháng 12, 2010

VN: Câu Chuyện Của Bốn Tay Chơi (2)

Cả ba khối chủ chốt này – bảo thủ chuyên chế, canh tân, và lũng đoạn trục lợi – đều hiện diện bên trong lẫn bên ngoài đảng cầm quyền cũng như chính phủ và có đại biểu trong mọi cơ cấu hoạch định chính sách. Các tuyến đoạn tầng của chúng xuyên qua nhiều thế hệ, nhiều khu vực, và nhiều cơ chế. Phần lớn những nhân vật lãnh đạo Việt Nam trong mỗi khối hầu như đều kiên định giữ vững lập trường, nhưng qua thời gian cũng có một số thay đổi vị trí giữa các khối, và một số khác có chủ trương bất khả tri hơn. Những nhân vật bảo thủ nổi bật bao gồm các Tổng Bí Thư như Đỗ Mười (1991-97), Lê Khả Phiêu (1997-2001), Nông Đức Mạnh (2001-hiện tại), và nguyên Chủ Tịch Nước Lê Đức Anh (1992-97). Các đại biểu năng nổ của khối canh tân trong giới lãnh đạo chóp bu là cố Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch (1982-91), cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt (1991-97), và nguyên Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An (2001-6), và các đại biểu ít gây ấn tượng hơn là nguyên Chủ Tịch Nước Võ Chí Công (1987-92) và nguyên Thủ Tướng Phan Văn Khải (1997-2006). Nguyên Chủ Tịch Nước Trần Đức Lương (1997-2006) có thể xem là một kẻ lũng đoạn trục lợi. Cố Tổng Bí Thư ĐCSVN Nguyễn Văn Linh (1986-91) thay đổi vị trí từ khối canh tân sang khối bảo thủ trong năm 1989. Và Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết là nhân vật có chủ trương bất khả tri.      
      Chính trị Việt Nam được thi triển trên bốn bình diện chủ yếu – kinh tế, chính trị quốc nội cốt lõi, quan hệ giữa nhà nước và xã hội, và ngoại giao. Động lực chính trị trong mỗi lãnh vực triển hiện một nét đặc thù riêng biệt. Nét đặc thù trên mặt trận kinh tế là sự khủng hoảng của mô hình phát triển Việt Nam. Cốt lõi của chính trị quốc nội là sự hội tụ của tiền bạc, quyền lực, và thế giới quan, hoặc nói một cách thanh nhã hơn là lợi nhuận, quyền lực, và quan điểm. Sự trỗi dậy của xã hội dân sự, đặc biệt là xã hội dân sự trong giới trí thức chủ lưu, là lực lượng càng ngày càng lớn mạnh trong quá trình tạo dựng xu thế cho mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội. Trên đấu trường địa-chính-trị, trọng tâm chủ yếu của chính trị Việt Nam là nỗ lực tự trợ ở sân sau của Trung Quốc.
      Năm 2009 đã cống hiến một số hình ảnh chụp nhanh, triển hiện nhiều chi tiết về các tay chơi chủ chốt và đặc trưng của động lực chính trị tại Việt Nam. Phần thảo luận dưới đây sẽ trình bày khái quát những đường nét đặc thù của chính trường Việt Nam qua việc khảo sát bốn tay chơi chủ chốt và bốn đặc thù liên đới, được minh chứng bởi những sự kiện và những diễn tiến xảy ra trong năm 2009.

[ Đọc Tiếp ]

28 tháng 12, 2010

VN: Câu Chuyện Của Bốn Tay Chơi (1)

Những tay chơi chủ chốt trên chính trường Việt Nam là ai? Đặc trưng của các động lực chính trị tại Việt Nam là gì? Tình hình chính trị Việt Nam trong vài năm sắp tới có thể được dự kiến như thế nào? Tiểu luận này là một nỗ lực giải minh những vấn đề nêu trên và đề nghị rằng hoạt động chính trị tại Việt Nam có thể được hình dung qua dạng thức một canh bài của bốn tay chơi chủ chốt. Nếu chính quyền được định nghĩa là trung tâm quyền lực chính trị của một quốc gia, thì Chính Quyền Việt Nam là mục tiêu cạnh tranh chủ yếu của các thành phần bảo thủ chuyên chế, canh tân, lũng đoạn trục lợi, và Trung Quốc. Mỗi tay chơi trong bộ tứ này là một khối gồm nhiều đối tác đa dạng cùng chia sẻ một mục đích hoặc một khuynh hướng chiến lược tối chung. 
      Tính chất đặc thù của ba khối thuộc phía Việt Nam cần được giải thích cặn kẽ thêm. Tiêu chuẩn phân loại một cá nhân thuộc về khối nào dựa trên mối ưu tiên hàng đầu hoặc khuynh hướng của họ đối với những vấn đề căn bản như ý thức hệ (khóa chặt hay mở rộng quốc gia để đón nhận những tư tưởng tự do du nhập từ phương Tây) và mối quan hệ giữa Đảng Cộng Sản và dân tộc (địa vị của đảng cao hay thấp hơn địa vị của dân tộc). Khối bảo thủ là thành phần có khuynh hướng ủng hộ chính sách “đóng cửa” và “đảng là trên hết”, khối canh tân là thành phần cởi mở và dựa trên quan điểm tiền đồ chung cho cả dân tộc, và khối lũng đoạn trục lợi là thành phần ủng hộ bất cứ cái gì có thể mang lại cho họ nhiều tiền tài nhất.
      Trong quá trình biện luận, các nhà lãnh đạo thường sử dụng từ vựng lưu hành của thời cuộc nhưng điểm họ nhấn mạnh sẽ là dấu ấn tiết lộ lập trường của họ. Một người bảo thủ chuyên chế, chẳng hạn như Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN), có thể ôm ấp những ý tưởng như “dân chủ trong nội bộ đảng”, “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, và Việt Nam là một “quốc gia hiện đại” cũng như “bằng hữu và đối tác đáng tin cậy của các quốc gia khác”, nhưng đối với ông ta vấn đề trọng tâm là tính giai cấp chứ không phải tính toàn dân, là quyền lợi cốt lõi của đảng, là duy trì đặc tính “xã hội chủ nghĩa” của quốc gia, và nêu bật nét tương phản với một phương Tây theo “chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản”. Hiện đại hóa, cải cách, dân chủ, và hội nhập quốc tế, nếu được thông qua, cũng chỉ là phương tiện để đạt đến một mục đích cao hơn, và khi cần thiết, tất cả đều có thể bị hy sinh. Mục đích cao hơn đó chính là sự tiếp tục tồn tại của chế độ cộng sản.1
      Thành phần canh tân, chẳng hạn như cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, có lẽ vẫn thề nguyền duy trì “vai trò lãnh đạo của đảng” và xây dựng “chủ nghĩa xã hội”, nhưng viễn kiến về đảng và chủ nghĩa xã hội của họ hoàn toàn khác biệt với khối bảo thủ. Ông Kiệt và những nhân vật canh tân khác trong Bộ Chính Trị muốn đảng phải xem lợi ích của toàn dân tộc như lợi ích của chính mình và định nghĩa chủ nghĩa xã hội là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, và văn minh”. Chủ nghĩa ái quốc, chứ không phải chủ nghĩa Mác-Lênin, là tư tưởng chỉ đạo và gắn kết của khối canh tân. Trong khi các lãnh tụ bảo thủ của ĐCSVN như Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, và Nông Đức Mạnh khăng khăng nhấn mạnh rằng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (nghĩa là hoàn toàn ngăn cách với những ảnh hưởng tự do của phương Tây và duy trì đặc tính cũng như nền cai trị cộng sản) là những nguyên tắc nền tảng của chính sách Việt Nam, trong một văn thư cơ mật gởi riêng cho Bộ Chính Trị vào tháng tám năm 1995 ông Kiệt đã đề nghị thay thế chúng bằng “dân tộc và dân chủ”.2 Mặc dù tán thành chủ trương dân chủ đa đảng là một ý niệm bất khả thi đối với thành phần lãnh đạo cao cấp của khối canh tân chủ lưu vì đó vẫn còn là một điều cấm kỵ, nhưng họ ủng hộ cải cách chính trị sâu rộng hơn để mở rộng dân chủ và tăng cường tính hiệu quả.
      Thành phần lũng đoạn trục lợi, những kẻ sống theo chủ nghĩa cơ hội tìm mọi cách để trục lợi tối đa, làm giàu bằng cách nhờ vào những đặc quyền do chính quyền ban phát, bất chấp lợi ích quốc gia được hiểu theo chiều hướng của khối bảo thủ hay là khối canh tân. Như độc giả có thể thấy trong phần kế tiếp, thành phần lũng đoạn trục lợi ở Việt Nam là một nhóm săn lùng lợi nhuận đặc biệt, hùng mạnh hơn hai khối kia nhờ vào sự hậu thuẫn của thế lực độc quyền.
     
Tác giả: Alexander L. Vuving
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Nguồn: Daljit Singh, ed., Southeast Asian Affairs 2010
(Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2010), pp. 367-91

Xem tiếp phần (2)

Ghi Chú:
Tác giả chân thành cám ơn những ý kiến quý báu của Ben Kerkvliet, Steven Kim, Daljit Singh, và Carlyle Thayer và sự trợ giúp hữu hiệu của Kylee Kim. Nội dung trình bày ở đây là quan điểm riêng của tác giả.

1 Lê Khả Phiêu, "Đảng Cộng sản Việt Nam tám mươi Xuân" [The Vietnam Communist Party at eighty (sic)], Nhân Dân, 3 tháng 2, 2010 (http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top="37&sub=130&article=167420).
2 Võ Văn Kiệt, "Thư gửi Bộ Chính trị ", 9/8/1995, Diễn Đàn, số 48 (tháng 1/1996): 16-25. Về việc ông Phiêu kiên trì theo đường lối “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, xem bài viết đã dẫn trên của ông.
[ Đọc Tiếp ]

17 tháng 12, 2010

Nẻo Đường Không Đi



Robert Frost

     Two roads diverged in a yellow wood,
     And sorry I could not travel both
     And be one traveler, long I stood
     And looked down one as far as I could
     To where it bent in the undergrowth;

     Then took the other, as just as fair,
     And having perhaps the better claim
     Because it was grassy and wanted wear;
     Though as for that, the passing there
     Had worn them really about the same,

     And both that morning equally lay
     In leaves no step had trodden black.
     Oh! I marked the first for another day!
     Yet knowing how way leads on to way
     I doubted if I should ever come back.

     I shall be telling this with a sigh
     Somewhere ages and ages hence:
     Two roads diverged in a wood, and I,
     I took the one less traveled by,
     And that has made all the difference.

                         ooOoo


Nẻo Đường Không Đi

         Hồ Kim Sơn phóng dịch

    Hai nẻo đường phân giữa cánh rừng,
    Cây vàng lá đổ nhịp rưng rưng.
    Tần ngần lữ khách dừng chân đứng
    Tiếc nuối tràn dâng chẳng đặng đừng;

    Ước chi ta cũng biết phân thân
    Song hành hai lối tợ thiên thần.
    Mắt buồn trông bóng con đường nhỏ
    Lẩn khuất sau bờ lá quấn chân.

    Nhưng quyết đi theo nẻo hướng đông,
    Cũng sương mai thắm thái dương hồng,
    Cỏ xanh mơn mởn mời ai bước
    Tiếng gọi chừng như quá ấm nồng.
   
    Hai nẻo đông tây giữa núi non
    Cùng chung một lớp dấu chân mòn
    Bình minh hôm ấy nằm trang trải
    Phủ lá thời gian giẫm héo hon.

    Ôi! Hẹn đường tây một chuyến sau!
    Dẫu đời trăm lối nối theo nhau
    Và ta chẳng biết ngày quay lại
    Chốn cũ ngàn hoa lá thắm màu.

    Vạn vạn kiếp sau, dẫu ở đâu,
    Xin kể người nghe giữa luống sầu:
    Hồng trần có gã ngông nghênh thậm
    Tiếu ngạo đùa chơi chuyện bể dâu;

    Hai nẻo đường phân giữa cánh rừng,
    Chọn lối người chê bỏ dửng dưng.
    Chỉ có thế thôi mà tất cả
    Nhân quả đời ta biến chẳng ngừng.

                        ooOoo

Copyright © 2010 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

14 tháng 12, 2010

Lãnh Đạo Bằng Quyền Lực Dân Sự   (8)

Bần khốn và áp bức không tự động sinh ra khủng bố, nhưng các nước nghèo nàn, tham ô, vô pháp luật, hoặc chìm đắm trong vòng xung đột tái diễn triền miên thường có khuynh hướng trở thành nơi ẩn náu của phần tử khủng bố cũng như các tội phạm khác. Lúc ban đầu al-Qaeda hoạt động từ Sudan và đánh bom các tòa đại sứ của Hoa Kỳ tại Kenya và Tanzania trước khi di chuyển đến Afghanistan, lúc đó vẫn còn là một quốc gia nổi tiếng về bần khốn, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh cao, và chế độ áp bức của chính phủ Taliban. Tình trạng al-Qaeda ngày nay đang hoạt động tích cực nhất tại các quốc gia lạc hậu như Mali, Mauritania, Niger, Pakistan, Somalia, và Yemen không phải là một điều ngẫu nhiên. Ngoài khủng bố và bạo hành cực đoan ra, các tổ chức buôn bán ma túy, các băng đảng tội phạm được tài trợ bằng hoạt động tước đoạt tài nguyên thiên nhiên phi pháp, cũng như bạo hành nhục dục dựa trên phân biệt giới tính đều có thể nghiêm trọng hủy hoại chính phủ của nhiều quốc gia trong nhiều phương diện khác nhau, mang lại hậu quả nguy hiểm cho toàn khu vực.

Điều lạc quan đáng nói là quyền lực dân sự đã và đang hợp tác hữu hiệu với các lực lượng quân sự để ngăn ngừa xung đột và đóng góp vào tiến trình xây dựng ổn định. Tại Liberia, trong lúc chiến sự giữa các nhóm phiến loạn và quân đội do chính phủ Charles Taylor cầm đầu gia tăng mãnh liệt, và tình hình cứu trợ nhân đạo sa sút nghiêm trọng, Hoa Kỳ đã xúc tiến nhiều nỗ lực ngoại giao quyết đoán, bao gồm việc công khai kêu gọi ông Taylor từ chức, cũng như điều động quân đội đến khu vực này để củng cố nỗ lực gìn giữ hòa bình do Cộng Đồng Kinh Tế Của Các Quốc Gia Tây Phi đảm nhiệm. Sự từ chức của ông Taylor đã mở đường cho việc ký kết một hiệp định hòa bình tổng hợp nhằm kết thúc cuộc xung đột tại Liberia và tạo cơ sở cho nỗ lực tiến hành công trình tái thiết và ổn định ở đây. Cả Liên Hiệp Quốc lẫn Hoa Kỳ vẫn tiếp tục hợp tác với Liberia trong khi quốc gia này đang nỗ lực tái thiết hạ tầng cơ sở kinh tế và xã hội đã bị hủy hoại sau nhiều năm xung đột. Tiến trình xây dựng một thế giới hòa bình và ổn định hơn phụ thuộc vào sự thành công của tất cả những loại sứ mệnh như thế này — từ Iraq và Afghanistan cho đến Tây Phi — cũng như phụ thuộc vào năng lực của Hoa Kỳ và các quốc gia khác trong việc thực thi điều đó với một quy mô rộng lớn hơn.

Nhân dân Hoa Kỳ cần phải thấu hiểu rằng chi tiêu tiền thuế vào mục đích ngoại giao và phát triển là phù hợp với lợi ích của họ, đặc biệt là khi những khoản đầu tư đó được sử dụng để hỗ trợ các sứ mệnh tại những khu vực xung đột, các quốc gia yếu nhược, và các nước có thể nắm giữ vai trò trách nhiệm tại khu vực của họ cũng như trên thế giới. Và Quốc Hội, vốn đã có truyền thống ủng hộ nhất trí của hai đảng trong lãnh vực ngoại giao và phát triển truyền thống, phải đánh giá cao phạm vi và mức độ của những sứ mệnh tái thiết và ổn định mà nhân viên dân sự của Hoa Kỳ đang được yêu cầu đảm đương.

Hạ Viện cũng như Thượng Viện đã phân bổ hằng trăm tỉ đô-la cho các chiến dịch quân sự tại Iraq và Afghanistan. Hoạt động ngoại giao và phát triển tại hai nước này chỉ chiếm một phần rất nhỏ của ngân sách này, nhưng việc tài trợ thường bị sa lầy trong tệ nạn tranh luận cũ rích về  vấn đề ngoại viện. Đã đến lúc chúng ta phải thoát ly quá khứ và thẳng thắn thừa nhận rằng ngoại giao và phát triển là những lãnh vực ưu tiên  trong chiến lược an ninh quốc gia, đồng thời cũng là nguồn đầu tư khôn ngoan nhằm củng cố nền an ninh và ổn định trong tương lai của Hoa Kỳ. Nhưng những sứ mệnh này chỉ có thể thành công dưới sự lãnh đạo và hỗ trợ cần thiết của Quốc Hội. Quốc Hội phải cung cấp nguồn tài trợ cần thiết ngay bây giờ.

Lợi Nhuận Của Quyền Lực Dân Sự


Đặt quyền lực dân sự vào địa vị trọng tâm là hoàn toàn phù hợp với lịch sử và truyền thống của Hoa Kỳ. Kế Hoạch Marshall là một sáng kiến phát triển dân sự được thực thi với các chính phủ châu Âu. Eleanor Roosevelt  đã chủ tọa ủy ban soạn thảo bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế. Nhiều thập niên trước khi khái niệm "quyền lực mềm" được thai nghén, Tổng Thống John F. Kennedy đã thành lập Binh Đoàn Hòa Bình để triển thị cùng thế giới một diện mạo khác của Hoa Kỳ. Khoa học gia Hoa Kỳ Norman Borlaug là người sáng lập cuộc "cách mạng xanh" có khả năng nuôi sống hàng triệu người đói khát. Các nhà ngoại giao Hoa Kỳ đã hỗ trợ việc đàm phán nhằm tái thống nhất châu Âu vào năm 1991 mà chẳng cần bắn một phát súng nào. Trong khi đó nhân dân Hoa Kỳ được thế giới ngưỡng mộ vì tinh thần cách tân và thiện ý lao ba của mình, cũng như niềm tin táo bạo rằng tiến bộ trong các lãnh vực chính trị, xã hội, và kỹ thuật có thể và cần phải được sử dụng để cải thiện cuộc sống của con người trên toàn thế giới.

Những công dân nam nữ tình nguyện gia nhập quân đội Hoa Kỳ là một thí dụ điển hình của tinh thần này. Cũng như lực lượng nhân viên phục vụ tại các cơ quan dân sự càng ngày càng đông đảo để xúc tiến lợi ích của Hoa Kỳ quanh thế giới. Với một mức cân bằng thích đáng giữa quyền lực dân sự và sức mạnh quân sự, Hoa Kỳ có thể xúc tiến lợi ích và giá trị quan của mình, chỉ đạo và hỗ trợ các quốc gia khác trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu, và tạo dựng quan hệ đối tác mạnh mẽ với các nước đồng minh truyền thống cũng như những cường quốc đang trỗi dậy. Và chúng ta có thể hiên ngang đứng lên đón nhận những thử thách của thế kỷ 21 và vượt qua mọi sát hạch về vai trò lãnh đạo hoàn cầu của Hoa Kỳ.

Trở lại phần (7)

ooOoo

Tác giả: Hillary Rodham Clinton
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: Foreign Affairs, Nov/Dec 2010, Vol. 89, Issue 6.

Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

12 tháng 12, 2010

Lãnh Đạo Bằng Quyền Lực Dân Sự   (7)

Trong chiến dịch tăng quân vào năm 2007, chúng ta có 170.000 quân tại Iraq; hiện nay 50.000 quân được trao nhiệm vụ hỗ trợ quân đội của chính phủ Iraq. Ngoài ra còn có khoảng 1.600 nhân viên dân sự phục vụ tại đây — bao gồm quan chức ngoại giao, chuyên gia tái thiết và ổn định, cũng như nhân viên chuyên nghiệp trong lãnh vực phát triển — mang trọng trách giúp đỡ Iraq chuyển tiếp sang chế độ dân chủ ổn định và thịnh vượng. Tương tự, tại Afghanistan, nỗ lực đóng góp của Hoa Kỳ về mặt tái thiết và tái phát triển trong hiện tại do 1.100 nhà ngoại giao và chuyên viên dân sự chỉ đạo và họ sẽ lưu lại đây sau khi quân đội Hoa Kỳ đã được rút về nước.

Những con số này nói lên tính trọng yếu của nguồn quyền lực và lãnh đạo dân sự. Nếu được huấn luyện và trang bị thích đáng, nhân viên dân sự là những bội số của lực lượng. Một nhà ngoại giao hoặc một chuyên gia phát triển năng nổ có thể vận dụng đến mười đối tác địa phương, và khi các đối tác địa phương xây dựng khả năng và mạng lưới hoạt động cho chính họ, cộng đồng sẽ trở nên lớn mạnh và linh động hơn.

Năng lực lãnh đạo dân sự trong việc giải quyết các vấn đề xung đột và bất ổn cũng phụ thuộc vào nỗ lực tập hợp và khéo léo vận dụng những tài sản đa dạng của chính phủ Hoa Kỳ theo chiều hướng tổng thể. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của các vị đại sứ và đại diện của các cơ quan, tiến trình hợp tác giữa các lực lượng dân sự của nhiều cơ quan khác nhau trong chính phủ Hoa Kỳ đã đạt được những cấp độ mới tại Afghanistan, Haiti, Iraq, Pakistan, cũng như các nơi khác. Hoa Thạnh Đốn đang kết hợp khả năng chuyên môn của các nhân viên dân sự từ Bộ Ngoại Giao, USAID, cũng như từ các bộ Tư Pháp, Tài Chánh, An Ninh Quốc Thổ, Y Tế Và Phục Vụ Nhân Sinh, Trung Tâm Kiểm Soát Và Phòng Ngừa Bệnh Tật, và các cơ quan khác. Hoa Kỳ không thể thành công tại những quốc gia yếu nhược này nếu các cơ quan kể trên không hợp tác chặt chẽ với nhau. Điều này có nghĩa là phải tổ chức nội bộ các ngành của chính phủ Hoa Kỳ nhắm vào trọng tâm thống nhất, mạch lạc, và giải quyết vấn đề. Ví dụ, Văn Phòng Đại Biểu Đặc Biệt Phụ Trách Afghanistan Và Pakistan — quy tụ đại biểu của 16 cơ quan khác nhau — đã được thành lập nhằm khắc phục tình trạng phân cách cơ cấu và thực thi chiến lược tổng hợp.

Chương trình QDDR cũng dựa vào tài năng của Đội Đáp Ứng Dân Sự [CRC] hiện đã chuẩn bị sẵn sàng danh sách hàng trăm chuyên gia dân sự từ khắp mọi cơ quan của chính phủ để họ có thể được điều động nhanh chóng đến những khu vực xung đột hoặc các quốc gia yếu nhược. Tôi đã điều động các chuyên gia an ninh và xung đột viễn chinh của CRC đến miền Nam Sudan, nơi mà Hoa Kỳ đang tiến hành chiến dịch tăng gia lực lượng dân sự quanh thủ đô Juba tại phương nam trong kế hoạch chuẩn bị cho cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 1 năm 2011 để quyết định vấn đề ly khai miền Bắc của Nam Sudan.

Chương trình QDDR kiến nghị việc thành lập các đội phản ứng ngoại giao cấp tốc và bồi dưỡng các chuyên gia đã được huấn luyện đặc biệt có thể hoạt động hữu hiệu với thời hạn dài trong hoàn cảnh xung đột và bất ổn. Từ khi Chiến Tranh Lạnh chấm dứt, Bộ Ngoại Giao và USAID càng ngày càng đảm đương nhiều sứ mạng tại nhiều nơi nguy hiểm và gian nan, từ Lebanon cho đến Bosnia và Đông Timor. Hướng về tương lai, hai cơ quan này sẽ thành lập một chương trình đáp ứng và mô thức hoạt động chung nhằm tạo điều kiện cho họ hợp tác hữu hiệu với nhau cũng như với các cơ quan khác. Trong khuôn khổ này, Bộ Ngoại Giao sẽ giữ vai trò chỉ đạo trong các cuộc khủng hoảng chính trị phức tạp, và USAID sẽ giữ vai trò chỉ đạo trong hoạt động đáp ứng tai họa, dựa trên năng lực vốn có của USAID trong việc vận chuyển nhu yếu phẩm cấp cứu và nhân viên phục hồi đến hiện trường trong vòng 24 giờ sau khi tai họa xảy ra.

Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Yemen đang nỗ lực giải quyết tình trạng kinh tế khó khăn và sự tàn phá của bần khốn tại một quốc gia mà trong thời gian gần đây phải đương đầu với một phong trào ly khai ở miền nam, một cuộc phản loạn tại miền bắc, và một mối đe dọa dai dẳng của al-Qaeda tại Bán Đảo Arabia. Thông qua Bằng Hữu Của Yemen — một diễn đàn của các quốc gia và tổ chức đa phương đang hợp tác với chính phủ Yemen để tìm kiếm các biện pháp thiết thực nhằm giải quyết những vấn nạn mà đất nước này đang phải đương đầu — và thông qua nỗ lực đang được tập trung vào mục đích ổn định hóa các cộng đồng địa phương còn yếu đuối và tạo dựng cơ hội cho triển vọng tăng trưởng kinh tế, Hoa Kỳ đang cố gắng ngăn ngừa xung đột và hỗ trợ chính phủ Yemen cung cấp cho công dân họ nhiều dịch vụ tốt đẹp hơn. Chương trình QDDR dự kiến sẽ có thêm nhiều tình huống đòi hỏi càng nhiều đội đáp ứng dân sự có thể điều động nhanh chóng hơn nữa, bao gồm các nhà ngoại giao, chuyên gia bình định và tái thiết, cũng như nhân viên chuyên nghiệp trong lãnh vực phát triển, một đội ngũ có khả năng đáp ứng nhu cầu của Hoa Kỳ tại những nơi như Sudan hoặc Yemen, nhưng đồng thời cũng có thể thực thi nhiều nỗ lực lớn lao hơn tại các quốc gia khác.

Trở lại phần (6)       Xem tiếp phần cuối

Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

8 tháng 12, 2010

Lãnh Đạo Bằng Quyền Lực Dân Sự   (6)

Về phương diện cải tổ chính sách, USAID đã thiết lập Cục Nghiên Cứu Và Hoạch Định Chính Sách. Phát triển dựa trên chứng cứ cụ thể không thể dậm chân trong phạm vi khái niệm; nó phải trở thành hiện thực. Chúng ta sẽ đo lường hiệu quả đầu tư không phải bằng số lượng các chương trình được thực thi mà bằng số lượng nhi đồng được nuôi nấng và tiêm chủng, cũng như số lượng người tiếp nhận được lợi ích trong các lãnh vực giáo dục, y tế, nước uống sạch sẽ, điện lực, và công ăn việc làm. Chúng ta cũng phải đảm bảo rằng tiền thuế sẽ được chi tiêu một cách hữu hiệu, bằng cách thu thập dữ liệu căn bản, khảo sát mọi dấu hiệu chỉ dẫn phát triển trước khi phát động kế hoạch, và rồi đo lường lại những yếu tố này trong suốt quá trình thực thi kế hoạch. Ở những nơi mà phương thức hoạt động của chúng ta thành công, chúng ta sẽ tái tạo kế hoạch và nới rộng quy mô. Nếu thất bại, chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận điều đó, học hỏi từ lỗi lầm đã phạm, và đề xuất những ý kiến tốt đẹp hơn.

USAID sẽ nhờ vào những đổi mới của khoa học và kỹ thuật để giúp mình hoạt động hữu hiệu hơn, rẻ hơn, và nhanh hơn trong việc mưu cầu phát triển có tầm ảnh hưởng lớn. Điện thoại di động đã chuyển hóa cuộc sống của vô số người trong vùng Nam Châu Phi. Hãy tưởng tượng diện mạo thế giới sẽ ra sao nếu nguồn năng lượng có thể tái hồi nằm ngoài mạng [lưới cung cấp điện hiện hành] thắp sáng gia cư của hằng tỉ người đang sống trong bóng tối hoặc nếu nông dân của thế giới đang phát triển có nhiều loại hạt giống chống hạn hơn. Chương trình QDDR ủng hộ phương án Liên Doanh Cách Tân Phát Triển do USAID thành lập nhằm tài trợ, thử nghiệm, và quy mô hóa mọi giải pháp có tính sáng tạo.

Gần đây, USAID đã tài trợ chương trình thử nghiệm thuốc diệt vi khuẩn trong âm hộ có thể giảm thiểu 30% mức độ truyền nhiễm HIV/AIDS, một đột phá lớn lao trong việc phòng chống truyền nhiễm HIV sẽ mang lại cho phụ nữ nhiều năng lực kiểm soát sức khỏe của mình hơn. Gần đây, USAID và Quỹ Bill & Melinda Gates đã chung sức thiết lập dịch vụ ngân hàng di động tại Haiti, rút kinh nghiệm từ các chương trình có hiệu quả tại châu Phi, châu Á, và châu Mỹ La-tinh. USAID cũng đang mời các nhà khoa học hàng đầu và giới doanh thương tham gia hỗ trợ USAID tìm kiếm những phương pháp đơn giản, hữu hiệu nhưng không quá tốn kém nhằm cung cấp nước uống sạch sẽ, thuốc chủng ngừa, máy tính rẻ tiền nhưng bền, máy phát điện loại nhỏ, hộp thuốc, và các chương trình ứng dụng cho điện thoại di động.

Trong khi Bộ Ngoại Giao và USAID thực thi những nỗ lực này, chúng ta sẽ nới rộng phạm vi đối tác. Hai mươi năm trước, cộng đồng phát triển không hiện hữu bên ngoài trụ sở của USAID. Ngày nay, nó bao gồm giới lãnh đạo xí nghiệp, nhiều nhà từ thiện, quỹ từ thiện, và giới hoạt động ủng hộ, tất cả đã và đang đóng góp nhiều kỹ năng và quan điểm mới. Quan trọng không kém là giới lãnh đạo cơ sở: đoàn thể tôn giáo, sinh viên học sinh, và những người hoạt động xã hội khác đã đem nhiệt tâm và năng lực cống hiến cho nỗ lực nhân đạo. Những người hoạt động ủng hộ và các thương gia này sẵn sàng thách thức mọi giá trị chính thống cũ và đang hành động với một khung tư duy mới. Chúng ta sẽ hợp tác với họ để tạo dựng kết quả.

Nhân viên dân sự Hoa Kỳ hoạt động tại các khu vực xung đột và quốc gia yếu nhược đã lừ lâu. Nhưng trong hiện tại, giới ngoại giao và chuyên gia phát triển Hoa Kỳ đang được yêu cầu thực thi nhiều sứ mệnh có phạm vi và tầm cỡ chưa hề thấy từ trước. Trọng trách của Hoa Kỳ tại Iraq là chỉ đạo một công tác lớn lao nhằm ủng hộ tiến trình xây dựng một nhà nước dân chủ đa chủng tộc của nhân dân Iraq. Đồng thời, tại Afghanistan, Hoa Kỳ cũng có nhiệm vụ hỗ trợ việc giảm thiểu năng lực của những cuộc nổi loạn tại quốc gia này, cải thiện chế độ hành chính, và xúc tiến một nền ổn định xã hội có thể duy trì dài lâu sau khi quân đội Hoa Kỳ đã rút về nước. Song song với nỗ lực ủng hộ chiến dịch chống khủng bố và chống nổi loạn tại Pakistan, Hoa Thịnh Đốn cũng đang giúp đỡ chính phủ và xã hội nước này trước cơn vùi dập của ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu, thiên tai, và tình hình bất ổn trong khu vực. Ngày nay, 20% nhân viên ngoại giao và gần 10% chuyên gia phát triển của Hoa Kỳ đồn trú tại ba quốc gia này — nơi mà nền dân chủ còn non trẻ, các cơ cấu nhà nước đang chật vật phục vụ nhân dân địa phương, xã hội bị phân hóa vì chủng tộc và tôn giáo, và an ninh là một thử thách tiếp diễn hàng ngày. Ngoài những quốc gia này ra, Hoa Kỳ còn phải nỗ lực ổn định tình hình tại nhiều nước yếu nhược khác từ Somalia và Sudan cho đến Haiti và Kyrgyzstan.

Trong hoàn cảnh chưa từng có tiền lệ này, Bộ Ngoại Giao cần đặt ra những câu hỏi chưa từng có tiền lệ: Trong lúc chuẩn bị cho tiến trình chuyển tiếp tại Iraq, chúng ta phải bảo vệ đại sứ quán của chúng ta tại Baghdad và lãnh sự quán của chúng ta tại Barsa bằng cách nào? Chúng ta sẽ đảm bảo an toàn cho các chuyên gia tái thiết đang phải sát cánh cùng những cộng tác viên Iraq tại khắp các làng xã và thị trấn của đất nước này như thế nào? Chúng ta phải làm gì để tái tạo nguồn nhân lực có khả năng duy trì dài lâu nhằm thực thi những cam kết đa dạng và đang được tiến hành của Hoa Kỳ tại Iraq?

Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn
[ Đọc Tiếp ]

7 tháng 12, 2010

Bá Thuật Của Ẩn Dụ (5)

Tổng Thống Kennedy cũng chỉ miễn cưỡng ủng hộ việc nới rộng hoạt động quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Tuy ông gia tăng số lượng cố vấn quân sự của Hoa Kỳ tại Sài Gòn từ khoảng 700 lên đến 16.000, nhưng đồng thời ông cũng nhận thức được rằng một cam kết đổ bộ quân đội Hoa Kỳ để phòng thủ miền Nam Việt Nam là một cạm bẫy tiềm tàng có thể chuyển dịch gánh nặng của chiến tranh sang vai Hoa Kỳ và biến cuộc xung đột này trở thành một Triều Tiên khác. Trong những tháng trước khi bị ám sát vào tháng 11, 1963, ông đã chỉ thị Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara thiết lập phương án để triệt thoát đội ngũ cố vấn quân sự này. (Ông cũng đã phê chuẩn kế hoạch đảo chánh của một nhóm tướng lãnh miền Nam Việt Nam chống đối chính quyền Ngô Đình Diệm, nhằm tạo dựng một chế độ chính trị ổn định hơn để giảm thiểu nhu cầu can thiệp quân sự của Hoa Kỳ.) Chúng ta sẽ không bao giờ biết đích xác Tổng Thống Kennedy sẽ làm gì về vấn đề Việt Nam trong nhiệm kỳ thứ hai của ông, nhưng có lẽ ông sẽ không đi theo con đường của Tổng Thống Johnson. Như Tổng Thống Kennedy đã thố lộ với Arthur Kroch, bình luận gia của nhật báo New York Times, "Quân đội Hoa Kỳ không nên dính líu vào lục địa châu Á." Ông đã cảnh báo Arthur Schlesinger, sử gia và cố vấn tổng thống, rằng đưa quân tác chiến đến Việt Nam sẽ đòi hỏi Hoa Kỳ phải đảm đương nhiều cam kết hơn mức độ mà công chúng có thể chấp nhận và sẽ không cho phép ông duy trì sự ủng hộ của họ về những kế hoạch khác mà chính phủ ông hy vọng có thể thực thi. Lịch sử về nhiệm kỳ tổng thống của LBJ hoàn toàn xác minh những mối hoài nghi của Tổng Thống Kennedy. 

Eisenhower và Kennedy đã lưu lại nhiều huấn thị cho Obama và bất cứ vị tổng thống nào khác; các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ phải kiên quyết đối đầu với những yêu sách sử dụng quyền lực quân sự như thế. Hai vị tổng thống này có thể kháng cự áp lực đó vì họ là những anh hùng quân đội có khả năng thuyết phục quần chúng rằng họ hiểu rõ việc sử dụng sức mạnh quân sự hơn giới diều hâu trong nước lúc nào cũng thôi thúc đòi hành động. Những vị tổng thống không có thành tích quân sự — như Obama — ở trong vị thế bất lợi vì họ cần phải phản biện bằng tu từ năng nổ, một kỹ năng được các lãnh tụ dị biệt như Franklin D. Roosevelt và Ronald Reagan vận dụng với những mức độ thành công lớn lao.

Chống lại áp lực đó là điều họ phải thực hiện, vì những ẩn dụ thống trị nếp tư duy của Hoa Kỳ trong lãnh vực đối ngoại trong hơn một trăm năm qua không đơn thuần chỉ là đối tượng của lòng hiếu kỳ lịch sử. Như Tổng Thống Obama đã hiểu rõ, chúng vẫn còn y nguyên là những động cơ có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đối với việc quyết định các vấn đề hệ trọng của chiến tranh và hòa bình. Trong lúc cố gắng đưa ra những biện pháp hợp lý để đối phó với những thử thách do Afghanistan, Iran, Bắc Hàn, và cuộc xung đột dai dẳng giữa Do Thái và Palestine tạo nên, Tổng Thống Obama biết rằng ám ảnh của thất bại trong quá khứ đang lởn vởn trên đầu, ám ảnh đó có thể là lầm lạc đặt niềm tin vào việc chuyển hóa các đối thủ độc tài thành những nhà dân chủ theo tư tưởng Jefferson hoặc là chọn lựa sai trái trong việc thiên vị giải pháp kềm chế quân sự hơn bất cứ điều gì thậm chí chỉ na ná trông giống như nhân nhượng. Do vậy không gian thao tác của ông rất hạn hẹp chí ít là nếu ông hy vọng có thể hành động với mức độ ủng hộ của quần chúng cần thiết cho việc thực thi thành công nghị trình đối nội trong lúc vẫn mạnh dạn tiến bước để bình định những mối nguy nan quốc tế.

Tổng Thống Obama dường như ý thức rất sâu sắc về bài học trọng yếu rút ra từ cuộc chiến Việt Nam: Đừng để ẩn dụ, sáo ngữ hay tín niệm nhân nhượng — cứ tùy thích muốn gọi bằng bất cứ danh xưng nào cũng được khóa chặt trong một cuộc chiến không thể thắng nhưng có khả năng hủy hoại sự nghiệp tổng thống của mình. Ông hiểu rằng một thiết kế hoặc chiến lược hoằng vỹ không thể chuyển dịch dễ dàng từ khủng hoảng này sang khủng hoảng khác. Nhân nhượng là một ý tưởng chẳng mấy thích đáng trong việc đối phó với Hitler, nhưng tránh né điều đó chẳng bao giờ là lập luận đúng đắn để vượt vỹ tuyến 38 tại Triều Tiên và lôi kéo Hoa Kỳ vào Việt Nam. (Xét cho cùng, tình trạng bế tắc trong cuộc chiến thứ nhất [tại Triều Tiên] và bại trận trong cuộc chiến thứ hai [tại Việt Nam] đã không ngăn cản thắng lợi của Hoa Kỳ trong cuộc Chiến Tranh Lạnh có tầm cỡ hơn.) Viễn kiến hoằng vỹ theo chiều hướng Wilson cũng không thuyết phục được Tổng Thống Obama trong việc di thực chế độ dân chủ đến Iraq và Afghanistan; ông đã bày tỏ dứt khoát rằng ông không xem biện pháp quân sự có thể giải quyết những vấn nạn mà Hoa Kỳ đang đối đầu tại hai quốc gia này. Ông đã công khai phát biểu rằng xâm chiếm Iraq là một "sai lầm" và dường như kiên quyết muốn giảm thiểu sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Afghanistan càng sớm càng tốt. 

Nhưng bất luận là Tổng Thống Obama có ý thức sâu sắc như thế nào về những nguy cơ của cạm bẫy lịch sử, ông phải đương đầu với một thử thách không nhỏ trong việc thuyết phục các đối thủ chính trị từ bỏ những sáo ngữ đối ngoại cũ rích với năng lực phục vụ sự an thịnh của Hoa Kỳ đáng nghi ngờ đến như thế. Theo lời truyền tụng, cách đây hơn 100 năm Otto von Bismarck của Đức đã nhận xét rằng, trước bất kỳ ai khác, các chính khách vĩ đại có khả năng nghe rõ tiếng vó gõ nhịp của con tuấn mã lịch sử từ chốn dặm trường xa xăm. Tuy nhiên, trong tình huống thông thường, chính những nguồn trí tuệ đã được thừa nhận hoặc là những bài học lịch sử sai trái đã được gộp chung lại chi phối nếp tư duy của công chúng cũng như hành vi của những người lãnh đạo họ. 


Tác giả: Robert Dallek
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Nguồn: Foreign Policy, tháng 11, 2010

Copyright © 2010 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Bá Thuật Của Ẩn Dụ (4)

Tuy nhiên, từ khi ra đời chính sách kềm chế là một học thuyết có nhiều tranh cãi. Trong bài báo “Bức Điện Tín Dài” nổi tiếng được xuất bản vào tháng hai năm 1946 và bài báo “X” đăng trên Foreign Affairs một năm sau đó, ông George F. Kennan, người chỉ đạo nhóm hoạch định chính sách mới của Bộ Ngoại Giao, đã tham vấn cho tòa Bạch Ốc là phải kiềm chế động lực “bành trướng” và “cứu tinh” nhằm thống trị toàn thế giới của Liên Xô. Về sau ông Kennan đã hối tiếc là phải trình bày quan điểm của mình với ngôn ngữ kiểu thuyết giảng phúc âm; nó đã thôi thúc thành phần chống cộng xem lời khuyên của ông là lời kêu gọi hành động quân sự cũng như ngoại giao và chính trị.

Sự thực là Kennan chưa hề tin tưởng Mạc Tư Khoa có ý định sử dụng quân sự để tấn công Tây Âu. Theo nhận xét của ông, hành động xâm lăng của Liên Xô sẽ mang hình thái lật đổ chính trị, với những bước tiến được toan tính kỹ lưỡng nhằm đưa các thế lực thân Liên Xô lên nắm chính quyền tại bất kỳ nơi nào mà điều kiện cho phép trong khi Mạc Tư Khoa nỗ lực giành chiến thắng cho cái mà họ mệnh danh là một cuộc đọ sức không thể tránh khỏi giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản. Mô thức dẫn đến chiến thắng của Kennan là viện trợ kinh tế nhằm nuôi dưỡng sự ổn định chính trị tại những quốc gia có nguy cơ tổn hại cao trước khúc ca báo động của chủ nghĩa cộng sản. Ông đã sáng suốt nhận định rằng chủ nghĩa cộng sản Liên Xô là một hệ thống kiểm soát và điều hành của nhà nước mà rốt cuộc sẽ phải sụp đổ khi nó không còn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng về nguồn phú hữu vật chất và những quyền tự do mà người phương Tây đang thụ hưởng. Trên tinh thần đó, ông cực lực phản đối những kế hoạch Chiến Tranh Lạnh kiểu diều hâu chẳng hạn như việc thành lập Tổ Chức Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương, can thiệp vũ trang vào Việt Nam, và phát triển bom khinh khí, xem đây là những động thái leo thang không cần thiết mà trái lại chỉ tổ dẫn đến phản ứng quyết liệt từ phía Liên Xô.

Kennan là một nhà tiên tri không có môn đệ chí ít là từ trong cánh chính quyền Hoa Kỳ. Ngoại trưởng Dean Acheson đã bảo ông nên đem những quan điểm “hữu nghị kiểu Quaker” của mình đến một môi trường nào hiếu thiện hơn mà ông có thể tìm kiếm được ngoài Washington. Kennan đã tìm được cho mình một mái ấm tại Học Viện Nghiên Cứu Cao Cấp ở Princeton thuộc tiểu bang New Jersey, nhưng sự minh oan không triển hiện toàn vẹn cho đến tận lúc cuộc Chiến Tranh Lạnh kết thúc. Cho đến giây phút trút hơi thở cuối cùng vào năm 2005 khi ông đã ngoài 101 tuổi, hơn bao giờ hết ông vẫn tin tưởng rằng bá thuật kềm chế quân sự đã góp phần rất ít ỏi, nếu có, vào công cuộc đảm bảo chiến thắng cho Hoa Kỳ trong cuộc chiến đó. Dưới nhãn quan của ông, cuộc xâm lăng Iraq là một ví dụ khác của trường hợp áp đặt niềm tin sai chỗ trong việc sử dụng giải pháp quân sự cho một vấn nạn chính trị. Tại cuộc phỏng vấn vào tháng chín năm 2002, ông già Kennan 98 tuổi đã mô tả bài phát biểu về chiến tranh phủ đầu chống Iraq của Tổng Thống Goerge W. Bush là “một sai lầm vĩ đại.”

Suốt thời kỳ hậu chiến, không một tổng thống Hoa Kỳ nào ý thức rõ về nhu cầu cần phải nương tựa vào những sáng kiến chính trị và ngoại giao để đấu tranh trong cuộc Chiến Tranh Lạnh hơn Dwight D. Eisenhower và John F. Kennedy. Hai vị tổng thống này hiểu rõ những thành công vĩ đại nhất trong chính sách ngoại giao của Tổng Thống Truman chính là Học Thuyết Truman Hoa Kỳ cam kết viện trợ tài chánh để bảo vệ Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ trước nguy cơ bị cộng sản lật đổ, và Kế Hoạch Marshall bao gồm những khoản cứu trợ trị giá nhiều tỉ Mỹ kim để nâng đỡ những nền kinh tế châu Âu trở thành một hàng rào ngăn chặn thắng lợi chính trị của cộng sản ở Anh Quốc, Pháp, Hòa Lan, Bỉ, Ý, và các nước Scandinavia.

Đúng, Eisenhower và Kennedy đã không phản đối việc sử dụng biện pháp lật đổ để tiêu diệt những chế độ không thân thiện ở Trung Đông và châu Mỹ La-tinh, như cứ liệu lịch sử đã nêu rõ các vụ can thiệp của Hoa Kỳ ở Iran, Nicaragua, và Cuba suốt hai thập niên 1950 và 1960. Không phải lúc nào họ cũng sáng suốt trong việc phê chuẩn những chiến dịch bí mật đã không phục vụ một cách thiết thực cho lợi ích trường kỳ của Hoa Kỳ. Tuy nhiên cả hai vị tổng thống đã thấy rõ việc nương tựa vào hành động quân sự trực tiếp để đánh bại cộng sản là một bước đi quá xa. Trước mọi hùng biện hoa mỹ của chiến dịch vận động năm 1952 cho chính sách đẩy lùi và giải phóng (Adlai Stevenson có “bằng tiến sĩ về kế sách kềm chế cộng sản từ trường đại học nhát cấy của Ngoại Trưởng Dean Acheson,” như Richarch Nixon đã chế nhạo), Ike vẫn không dốc toàn bộ sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ để đánh đuổi chế độ cộng sản của Kim Il Sung ra khỏi Bình Nhưỡng, như Syngman Rhee của Nam Hàn và những nhân vật Cộng Hòa bảo thủ ở Hoa Kỳ hối thúc. Cũng như ông đã không ủng hộ nỗ lực của Hungary nhằm lật đổ nền thống trị của Liên Xô vào năm 1956 bằng can thiệp vũ trang hoặc dựa vào những gì khác hơn ngôn từ đe dọa hoa mỹ để ngăn cản không cho Trung Cộng tấn công hai hòn đảo Quemoy và Matsu nằm trong vùng biển giữa đại lục Trung Quốc và Đài Loan. Và ông đã chống cự lại áp lực của Pháp muốn nhờ không quân Hoa Kỳ can thiệp nhằm ngăn chặn sự bại trận ở Điện Biên Phủ và mất Việt Nam, áp lực đã đánh động Eisenhower như một nỗ lực kêu gọi Hoa Kỳ nhảy vào một cuộc chiến mà Ba Lê đã thua và Hoa Kỳ không chắc có cơ dành được thắng lợi.

Tổng Thống Kennedy cũng thận trọng không kém Tổng Thống Eisenhower trong việc dựa vào can thiệp vũ trang để phục vụ quyền lợi quốc gia. Dẫu các tham mưu trưởng quân đội Hoa Kỳ đã tạo áp lực nặng về vào năm 1961 nhằm giải cứu quân khởi nghĩa Cuba tại Vịnh Con Heo bằng cách sử dụng không lực Hoa Kỳ để đánh bại quân đội của Fidel Castro, Tổng Thống Kennedy đã bác bỏ kế hoạch can dự trực tiếp của Hoa Kỳ trong cuộc đụng độ này. Đúng vậy, tuy những kẻ xâm lấn chỉ là người [Cuba] do CIA vũ trang và tài trợ để đánh thay cho Hoa Kỳ, nhưng Tổng Thống Kennedy đã khôn khéo kết luận rằng cái giá mà Hoa Kỳ phải trả cho việc can thiệp trắng trợn — thác lũ tuyên truyền chống đối Hoa Kỳ sẽ ngập tràn Thế Giới Thứ Ba lớn lao hơn nỗi bẽ bàng của thất bại. Trong cuộc khủng hoảng tên lửa tại Cuba vào năm 1962, các tướng lãnh của ông đã ráo riết yêu cầu oanh tạc những căn cứ hỏa tiển của Liên Xô và xâm chiếm hòn đảo này để lật đổ Castro. Nhưng Tổng Thống Kennedy đã kiên trì với giải pháp ngoại giao và "phong tỏa" mà, như chúng ta hiện nay đều biết, đã cứu vớt thế giới thoát khỏi một cuộc chiến tranh nguyên tử tàn khốc. 


Tác giả: Robert Dallek
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Nguồn: Foreign Policy, tháng 11, 2010

Copyright © 2010 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

1 tháng 12, 2010

Bá Thuật Của Ẩn Dụ (3)

Chẳng hạn, Tổng Thống Harry Truman đã biện giải quyết định tham gia Chiến Tranh Triều Tiên năm 1950 của mình bằng lý do là để ngăn chặn không cho Liên Xô, quốc gia mà ông xem là thủ phạm đã dàn dựng nên cuộc xung đột này, thực hiện những hành vi gây hấn trong tương lai có khả năng khơi mào một cuộc Đệ Tam Thế Chiến. Tổng Thống Truman có đầy đủ lí do để chống đối cuộc xâm lăng của Bình Nhưỡng: Sự sụp đổ của Nam Hàn có thể sẽ hủy hoại niềm tin vào quyết tâm của Hoa Kỳ nhằm bảo vệ Nhật Bản và những đồng minh Tây Âu. Những so sánh giữa Stalin và Hitler và việc tiên đoán rằng Triều Tiên là khởi nguồn của một cuộc tổng tấn công của cộng sản trên toàn thế giới cũng giống như chiến lược bành trướng của Đức Quốc Xã nhằm kiểm soát toàn cầu, bằng bất cứ cách nào, đã được quyết tâm thổi phồng. Nhưng sức mạnh của chủ trương chống đối nhân nhượng quá mạnh mẽ vào năm 1950 nên việc tìm kiếm những tiếng nói phản bác chỉ là điều vô ích.

Giá như Tổng Thống Truman chỉ nhắm đến mục đích tái dựng nền độc lập của Nam Hàn, quyết định tham chiến tại Triều Tiên của ông hẳn sẽ mang một diện mạo rất khác biệt với ngày nay. Thay vào đó, ông đã hành động theo lời khuyên của Đại Tướng Douglas MacArthur là phải tiêu diệt chế độ cộng sản Bắc Hàn bằng cách đưa quân vượt vĩ tuyến 38. Đây là một sai phạm ngớ ngẩn phát xuất từ hai giả định sai lầm: Thứ nhất là Trung Quốc sẽ không can dự vào cuộc chiến; thứ hai là nếu họ có can dự đi nữa, họ cũng sẽ bị đánh bại hoàn toàn, đưa đến khả năng chế độ cộng sản của họ cũng sụp đổ luôn. Ngược lại, việc Trung Quốc trực tiếp tham chiến đã tạo nên tình trạng bế tắc trên mặt trận quân sự lẫn chính trị, làm trì hoản khả năng tái lập quan hệ với Bắc Kinh nhiều năm liền, và đã phá hủy sự nghiệp tổng thống của ông Truman. Với tỷ lệ ủng hộ tuột xuống mức 24%, ông không thể thực hiện chính sách Xử Sự Công Bằng của mình cũng như không thể duy trì sự ủng hộ của công chúng cho cuộc chiến tranh này.

Tổng Thống Lyndon B. Johnson, hiển nhiên, cũng là một nạn nhân khác của phép loại suy Munich. Hồi tưởng lại những hệ quả chính trị mà đảng của ông phải gánh chịu vì vụ “mất” Trung Quốc hồi năm 1949 mà những chính khách cánh hữu của đảng Cộng Hòa như ông Joseph McCarthy đã dùng để gán mác nhân nhượng theo cấp độ Chamberlain cho đảng Dân Chủ, ông đã đưa quân đội Hoa Kỳ đến Đông Nam Á để tham gia một cuộc chiến có tầm hủy diệt chính trị nghiêm trọng đối với đất nước cũng như chính quyền của ông hơn bất kỳ động thái thụ động nào đã có thể tạo nên. Cuối cùng Tổng Thống Johnson đã cất tiếng xót xa về cái giá mà ông và chính phủ ông buộc phải trả cho vấn đề Việt Nam, than phiền rằng “con chó cái” chiến tranh đã khiến ông xao lãng mối chân tình của mình — xây dựng một Đại Xã Hội.

Sự thất bại ở Việt Nam đã tạo ra một ẩn dụ mới: Tham chiến tại một quốc gia thuộc Thế Giới Thứ Ba trên một địa hình thù địch là điều cần phải tránh xa bằng tất cả mọi giá. Khi Tổng Thống George H.W. Bush thuyết phục Quốc Hội và quốc dân cần phải đánh đuổi Iraq ra khỏi Kuwait năm 1991, nỗ lực kiến tạo niềm tin trong lòng quần chúng Hoa Kỳ, rằng ông sẽ không kéo họ dính líu vào một Việt Nam khác, quả thực là một đấu tranh gian nan. Tuy vậy ông cũng đã thành công bằng cách viện dẫn lại cái ẩn dụ nhân nhượng ấy: “Nếu lịch sử có chỉ bảo cho chúng ta điều gì, điều đó chính là chúng ta phải chống cự lại mọi sự xâm lăng, nếu không chúng sẽ tiêu diệt nền tự do của chúng ta,” Tổng Thống Bush đã giải thích như thế để biện hộ cho chủ trương chiến tranh của mình. “Chính sách nhân nhượng không có hiệu quả. Như trường hợp đã xảy ra trong thập niên 1930, chúng ta thấy rõ Saddam Hussein là một nhà độc tài hung hăng đang đe dọa những quốc gia lân bang.” Những lời cảnh báo được thổi phồng lên như thế thừa sức biện minh cho cuộc tấn công tại Vịnh Ba Tư, nhưng những luận hậu chiến cho rằng Hoa Kỳ đã tiêu trừ được hội chứng Việt Nam có lẽ là quá hấp tấp và có lẽ đã gieo rắc mầm mống cho cuộc xâm lăng Iraq đầy thảm họa của con trai ông vào năm 2003.

Ảo tưởng thứ ba mà những tổng thống Hoa Kỳ thường mắc phải là chính sách kềm chế bằng quân sự niềm tin cho rằng kềm chế và ngăn ngừa xâm lăng từ quân thù dựa trên việc đe dọa sự sống còn của họ bằng áp lực quân sự là cách thức đúng đắn nhằm tránh thoát cạm bẫy do hai ẩn dụ kia giăng ra. Tín niệm cốt lõi ở đây là người Hoa Kỳ đã giành được thắng lợi trong cuộc Chiến Tranh Lạnh bởi vì họ hiểu rằng Liên Xô có tham vọng thống trị thế giới và phương cách tối ưu để đối phó với những tham vọng đó, nếu không muốn phát động chiến tranh toàn diện, là kềm chế khả năng bành trướng thống trị của họ bằng cách kết hợp những sáng kiến quân sự, chính trị, và kinh tế nhằm làm nhụt chí xâm lăng của Mạc Tư Khoa và kéo căng nguồn tài nguyên hạn chế của họ đến điểm vỡ, bức bách chủ nghĩa cộng sản sụp đổ.

Trở lại phần (2)    Xem tiếp phần (4)

Tác giả: Robert Dallek
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Nguồn: Foreign Policy, tháng 11, 2010

Copyright © 2010 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

27 tháng 11, 2010

Bá Thuật Của Ẩn Dụ (2)

Liệu Tổng Thống Obama có thể thoát khỏi cạm bẫy này không? Để thực hiện được điều đó, ông cần nghiên cứu lỗi lầm mà những tổng thống tiền nhiệm đã vi phạm và học tập gương một ít vị tổng thống đã nỗ lực tránh thoát được đọa đày của ẩn dụ. Và ngài tổng thống cần phải hiểu rõ làm thế nào chúng ta đã đến được đây.

Chuyện tình của Hoa Kỳ và chủ nghĩa phổ cứu, tín niệm đầu tiên của bộ ba ảo tưởng, bắt đầu từ tháng giêng năm 1918 với chương trình hòa bình của Tổng Thống Woodrow Wilson, được mệnh danh là Nguyên Tắc Mười Bốn Điểm: những lý lẽ biện minh quyến rũ thối thúc Hoa Kỳ tham gia “một cuộc chiến để chấm dứt tất cả mọi cuộc chiến” và tạo dựng thế giới phương Tây thành khu vực “an toàn cho chế độ dân chủ.” Những mục đích cao cả này đã hấp dẫn người Hoa Kỳ vì chúng được xem là dấu ấn công nhận tính siêu việt về thể chế của họ. Chúng đủ sức thuyết phục một đất nước Hoa Kỳ vốn theo chủ nghĩa cô lập chịu hy sinh hơn 50,000 nhân mạng trong 19 tháng cuối cùng của cuộc Đại Chiến tại châu Âu. 20 năm sau chiến tranh, khoảng thời gian chứng kiến sự trỗi dậy của chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa quốc xã Đức, và chủ nghĩa quân phiệt Nhật dẫn khởi cuộc Đệ Nhị Thế Chiến, đã chứng minh rằng giấc mơ tạo dựng một nền hòa bình và tự trị phổ quát của Tổng Thống Wilson chỉ là ảo tưởng, và điều đó đã khiến người Hoa Kỳ quay trở về với lớp vỏ bao che của chủ nghĩa cô lập cho đến khi cuộc tấn công Trân Châu Cảng vạch rõ ra rằng nền “an ninh miễn phí” do những đại dương mênh mông và những lân bang yếu kém cung ứng đã không còn khả năng đảm bảo an toàn cho quốc gia của họ nữa.

Tuy nhiên những hy vọng mang tính lý tưởng về một thế giới tốt đẹp hơn của Tổng Thống Wilson đã không hề tan biến đi trên những bãi biển Normandy hoặc trong các hang động ở Iwo Jima. Nếu có một tác động gì đó, thì cuộc Đệ Nhị Thế Chiến chỉ đã củng cố những kỳ vọng hão huyền của người Hoa Kỳ rằng họ có thể giảm thiểu — nếu không phải là kết thúc — những xung đột của nhân loại. Học thuyết Wilson tiếp tục duy trì sức sống trong sự ra đời của tổ chức Liên Hiệp Quốc và trong chiến thắng của thể chế dân chủ ở Đức, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Nam Hàn, Đài Loan, và một số nước khác ở châu Mỹ La-tinh. Nhưng viễn kiến của Tổng Thống Wilson lại được đưa lên địa vị của một học thuyết thiêng liêng đã lừa dối Hoa Kỳ rất nhiều lần. Nôn nóng tin tưởng rằng Đệ Nhị Thế Chiến có thể điều trị được cuồng vọng chém giết của nhiều quốc gia, người Hoa Kỳ khăng khăng xem các nước Đồng Minh — Anh Quốc, Trung Quốc, Liên Xô, và Hoa Kỳ — là bạn bè trường cửu, hợp tác hài hòa để cùng nhau bảo vệ nền hòa bình thời hậu chiến.

Chiến Tranh Lạnh khởi phát đã kết thúc tức tưởi những giấc mơ này. Nhưng tín niệm về sức hấp dẫn không thể kháng cự nổi của các định chế Hoa Kỳ lại thôi thúc mối hy vọng cho rằng trong mỗi người ngoại quốc đều có một người Mỹ chực chờ hiện thân, một thế giới quan đã uốn nắn tư duy Hoa Kỳ không chỉ trong những năm tháng đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản, mà còn kéo dài đến tận những lý luận biện minh cho cuộc chiến ở Iraq của cựu Tổng Thống George W. Bush. Ngày nay, tiên đoán của cựu Tổng Thống Bush cho rằng việc hủy diệt nền độc tài quân sự của Saddam Hussein có thể chuyển hóa Trung Đông trở thành một trung tâm phồn thịnh với những quyền tự do truyền thống kiểu Hoa Kỳ rõ ràng đang chứng thực nó cũng khó nắm bắt giống như chính viễn tưởng hoằng vỹ nguyên thủy của Tổng Thống Wilson. Những chế độ đầy khuyết tật do Mỹ đỡ đầu ở Baghdad — và trong chiều hướng đó, cả ở Kabul nữa — vẫn còn cách xa vời vợi những nền dân chủ hùng mạnh mà cựu Tổng Thống Goerge W. Bush đã kỳ vọng sẽ trở thành ước mơ của toàn khu vực. “Sự sống còn của nền tự do tại đất nước chúng ta càng ngày càng phụ thuộc vào sự thành công của nền tự do ở những quốc gia khác. Niềm hy vọng tuyệt vời nhất cho nền hòa bình trong thế giới của chúng ta chính là sự mở rộng tự do đến tất cả mọi miền trên trái đất,” cựu Tổng Thống Goerge W. Bush phát biểu như thế trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai mang đậm tư tưởng Wilson, mặc dù những nhà lãnh đạo quân sự Hoa Kỳ ở Iraq và Afghanistan đã nỗ lực xê dịch những cột mốc mục đích, hứa hẹn sẽ thiết lập một cách hợp lý những chính phủ thân Hoa Kỳ có đủ khả năng tự đảm đương nền an ninh của mình.

Tuy nhiên, phần lớn mọi chứng cớ đều chỉ đến một tương lai mờ mịt cho cả hai quốc gia này, nơi mà bất ổn chính trị, tinh thần bài Mỹ, và những cuộc đảo chánh quân sự dường như khó lòng biến mất. Có lẽ phải cần 10 hay 20 thậm chí 30 năm bảo hộ của Hoa Kỳ mới có thể mang lại tự do và thịnh vượng cho Iraq và Afghanistan, trong khi đó lòng nhẫn nại của người Hoa Kỳ thì có giới hạn đối với một công trình kiến thiết quốc gia bằng một giá quá đắt không thể chấp nhận được trên cả hai phương diện của cải vật chất lẫn máu xương — và ý thức tập thể của họ về những gì mà quyền lực Hoa Kỳ có thể đạt được trong thực tiễn thông thường lại chính xác hơn những thành viên ưu tú nhất của chính phủ. Họ chưa hề quên cuộc chiến Việt Nam, cho dù, đôi khi giới lãnh đạo của họ có vẻ như đã quên.

Thực vậy, Việt Nam vĩnh viễn là một cạm bẫy dành cho giới lãnh đạo Hoa Kỳ, một cạm bẫy do ảo tưởng trí mạng và ngoan cố thứ hai cài đặt — thất bại trong việc đả kích mọi hành vi hung hăng trên trường quốc tế là đồng nghĩa với nhân nhượng, là quay trở lại vị thế thụ động đã từng thất bại của thập niên 1930. Ảo tưởng này đã nhiều lần dẫn dắt Hoa Kỳ vào những cuộc phiêu lưu quân sự đắt giá và thiếu khôn ngoan. Tuy Winston Churchill đã tỏ ra chính xác một cách kỳ diệu trong nhận định rằng Anh Quốc có quyền chọn lựa giữa chiến tranh và sỉ nhục tại Munich vào năm 1938 và thái độ nhân nhượng của Neville Chamberlain đối với Adolf Hitler sẽ mang lại cả hai điều đó, nhưng sự kiện Munich không phải là một ví dụ loại suy hoàn hảo cho việc giải quyết những xung đột về sau, như chính ông Churchill đã thừa nhận. Theo lời ông giải thích vào năm 1950, “Nhân nhượng không phải là một từ ngữ được nhiều người mến chuộng, nhưng nhân nhượng có vị trí của nó trong tất cả mọi chính sách. Hãy đoan chắc rằng bạn đặt để nó vào đúng chỗ. Nhân nhượng với kẻ yếu. Thách thức với kẻ mạnh.” Nhưng đối với giới diều hâu, mọi chuyện lúc nào cũng là Munich 1938 — bất kể kẻ gây hấn là Saddam Hussein, Slobodan Milosevic, hay là “Bác Sĩ Con” Duvalier — và những tổng thống từ Harry Truman cho đến Goerge W. Bush đều bị ẩn dụ nhân nhượng dẫn đến những phán đoán lầm lạc gây thương tổn cho Hoa Kỳ và hủy hoại sự nghiệp tổng thổng của chính họ.

Trở lại phần (1)      Xem tiếp phần (3)

Tác giả: Robert Dallek
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Nguồn: Foreign Policy, tháng 11, 2010

Copyright © 2010 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

23 tháng 11, 2010

Bá Thuật Của Ẩn Dụ (1)

Ba huyền thoại lịch sử đã dẫn dắt nhiều vị tổng thống Hoa Kỳ vào trong mê lộ gần cả một thế kỷ. Liệu Tổng Thống Obama có đủ khôn ngoan để tránh khỏi lối mòn số phận đó?

Vào năm 1952, nhà sử học Anh Denis William Brogan cho xuất bản một bài báo mẫn nhuệ tuyệt vời về “Ảo Tưởng của Toàn Năng Hoa Kỳ.” Giữa lúc cuộc chiến Triều Tiên đang bùng nổ, ông Brogan không những chỉ bình phẩm về nỗi bức xúc của người Hoa Kỳ vì họ không đủ khả năng thanh toán dứt khoát quân đội Bắc Hàn và Trung Cộng vốn được xem là thấp kém hơn, mà còn lên tiếng cảnh báo về những phiêu lưu bất hạnh được tạo ra bởi Hoa Kỳ giả định sai lầm rằng vị thế siêu cường của mình chắc chắn sẽ mang lại thắng lợi quân sự trong bất cứ xung đột nào mà Hoa Kỳ muốn tham dự. Sử gia Brogan hẳn cũng có thể ung dung mệnh danh bài nghị luận của mình bằng nhan đề “Toàn Năng của Ảo Tưởng Hoa Kỳ” để hồi hưởng âm thanh phê phán của Friedrich Nietzsche đối với những tín đồ chân chính. "So với dối trá," vị triết gia Đức vĩ đại này viết, "tín niệm là những kẻ thù nguy hiểm gấp bội lần của chân lý.”

Sử gia Brogan và triết gia Neitzsche cũng có thể đang đàm luận về khoảng thời gian 100 năm qua của tư duy Hoa Kỳ trong chính sách đối ngoại và những tín niệm — hoặc có thể gọi là những ảo tưởng — đã uốn nắn nó trong suốt quãng đường ấy, xuyên qua chính quyền do các vị tổng thống có thế giới quan và bối cảnh khác biệt lãnh đạo như Woodrow Wilson, Dwight Eisenhower, và George W. Bush.

Hoạt động can thiệp của Hoa Kỳ vào chính sự thế giới trong thế kỷ 20 chắc chắn cũng có rất nhiều điều đáng được tuyên dương như: Chiến thắng Đệ Nhị Thế Chiến, Học Thuyết Truman, Kế Hoạch Marshall, sách lược ngoại giao của Tổng Thống John F. Kennedy trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng hỏa tiển ở Cuba, các hiệp định hòa bình Camp David, Thỏa Ước Kênh Đào Panama, chính sách mở cửa với Trung Quốc của Tổng Thống Richard Nixon, và nỗ lực hòa hoãn với Liên Xô, ở đây chỉ xin đề cập những sự kiện hiển nhiên nhất. Nhưng một cái nhìn toàn diện hơn cần phải bao gồm cả những vấp ngã của nó nữa. Ba ảo tưởng dai dẳng —  một niềm tin sai lạc vào chủ nghĩa phổ cứu, hoặc vào sức mạnh của Hoa Kỳ để chuyển hóa thế giới từ một cộng đồng gồm các quốc gia thù địch, hỗn loạn trở thành những quốc gia khải mông tận hiến cho công cuộc hợp tác hòa bình; một nhu cầu tránh né nỗ lực nhân nhượng với tất cả mọi kẻ thù hoặc để cáo buộc những đàm phán hòa giải với họ là yếu đuối lầm lạc; và niềm tin tưởng vào hiệu năng chắc chắn của sức mạnh quân sự trong việc chế ngự quân thù, bất chấp tất cả mọi khả năng đe dọa Hoa Kỳ của họ — đã khiến Hoa Kỳ hầu như không thể tư duy sáng suốt ngõ hầu tìm ra những phương cách hữu hiệu hơn để giải quyết những vấn nạn đối ngoại của mình. Hãy gọi nó là bá thuật của ẩn dụ: Để thực hiện tất cả mọi kỳ vọng trong việc định hình lịch sử của họ, các tổng thống Hoa Kỳ trong nhiều trường hợp đã trở thành tù nhân của chính nó.

Ngay cả Tổng Thống Barack Obama, vị tổng thống đã mang theo vào tòa Bạch Ốc quan điểm chống chiến tranh Iraq và đã thực thi lời hứa rút quân chiến đấu Hoa Kỳ ra khỏi Iraq mà ông đã tuyên bố từ hồi vận động tranh cử, cũng không thoát khỏi ảnh hưởng của ảo tưởng lịch sử. Làm sao ngài tổng thống có thể thoát khỏi điều đó? Những chính sách đối nội thường là một phần của chính sách đối ngoại cũng giống như những đánh giá về tình hình bên ngoài cương thổ quốc gia. Nhưng Tổng Thống Obama vẫn có thể thành công trong việc chế ngự những áp lực đó. Ngài tổng thống đặc biệt chú ý đến khả năng tận dụng khôn khéo nhất những bài học lịch sử, và điều này rất hiển nhiên đối với tôi sau hai bữa tiệc tối mà tôi và mười sử gia khác đã tham dự cùng tổng thống tại tòa Bạch Ốc trong hai năm qua. Bởi vì, dẫu đang phải đối mặt với nhiều luồng chống đối, Tổng Thống Obama tỏ ra rất hăm hở muốn học hỏi từ chúng tôi cách thức những tổng thống tiền nhiệm đã vượt qua hoàn cảnh của họ để đạt được những thành quả quản trị có tính chuyển hóa.

Những bài học như thế có ảnh hưởng lớn lao tại thời điểm mà Tổng Thống Obama phải đối mặt với quyết định hệ trọng sắp đến của mình là phải hành động như thế nào tại Afghanistan trong lúc ông đang cầu mong rằng Đại Tướng David Petraeus, người hùng của chiến dịch tăng quân tại Iraq, có thể tái lập một kỳ công tương tự trước khi lòng nhẫn nại của công chúng cạn kiệt. Cho tới bây giờ, Tổng Thống Obama đã tránh được cả hai điều: không khư khư ôm chầm lấy cuộc chiến ở Afghanistan và cũng không kêu gọi dứt khoát triệt thoái. Việc ông cam kết tăng thêm 30,000 quân là nhằm trấn an nhóm diều hâu trong giới an ninh quốc gia Hoa Kỳ rằng chính bản thân ông cũng kiên quyết như họ trong việc bảo vệ an toàn cho đất nước khỏi bị tấn công trong tương lai. Đồng thời, việc ngài tổng thống đã hứa sẽ bắt đầu tiến hành kế hoạch triệt thoái quân đội Hoa Kỳ ra khỏi Afghanistan vào tháng 7 năm 2011 cho thấy ông hiểu rõ rằng Afghanistan có nguy cơ trở thành một Việt Nam khác — một cuộc chiến quá tốn kém và không thể chiến thắng mà còn có thể khiến Hoa Kỳ bị sa lầy ở châu Á đến một tương lai vô định. Dĩ nhiên, cũng rất có thể là Tổng Thống nghiêm túc hoài nghi giá trị của việc đưa quân đội Hoa kỳ đến hy sinh tại một vùng đất nghèo đói xa xôi không có một mảy may giá trị chiến lược nào, nhưng đồng thời ông cũng hiểu rõ rằng việc không dưng quay lưng bỏ rơi cuộc chiến nầy cũng có nghĩa là phải đương đầu với những nguy cơ chính trị không thể chấp nhận được, hủy hoại khả năng thực thi một nghị trình đối nội táo bạo được xem là trọng tâm của chính phủ cũng như cơ hội  đắc cử nhiệm kỳ thứ hai của ông.

Giống như Tổng Thống Harry Truman không thể làm ngơ trước những áp lực chính trị từ Nhóm Vận Động Hành Lang Trung Quốc nhằm ủng hộ cho chế độ đang suy vong của Tưởng Giới Thạch chống lại quân cộng sản của Mao Trạch Đông vào giữa thế kỷ trước, Tổng Thống Obama ý thức rất rõ những mối nguy hại chính trị nếu mình tỏ ra không quyết đoán. Vừa rồi, ông John Bolton, đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc của tổng thống tiền nhiệm, đã lên án việc Tổng Thống Obama cho công bố lịch trình rút quân ra khỏi Afghanistan là phát ra “một tín hiệu của sự yếu kém khiến kẻ thù diễn dịch cho là chúng ta đã thất bại.” Cựu Phó Tổng Thống Dick Cheney đã gọi ngài tổng thống là người “chu du khắp thế giới để tỏ lòng hối lỗi.” Chính bản thân cựu Tổng Thống George W. Bush cũng đã diễn trước một màn tấn công tương tự qua bài diễn văn đọc tại Israel vào năm 2008, trong đó ông phê phán Obama và nhiều nhân vật khác đã kêu gọi tiếp hợp với Iran lúc bấy giờ. Ông Bush nói rằng: “Trước đây chúng ta đã từng nghe qua thứ hoang tưởng xuẩn ngốc này. Khi xe tăng của quân Phát-xít tràn vào Hòa Lan năm 1939, một thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đã tuyên bố: ‘Lạy Chúa, giá gì tôi được đàm đạo cùng Hitler, thì những chuyện như thế nầy đâu thể xảy ra.’ Chúng ta có trách nhiệm phải nêu đích danh thực trạng này — sự êm ái giả hiệu của chính sách xuống thang hòa hoãn, đã bị lịch sử bác bỏ nhiều lần.” 

Xem tiếp phần (2)

Tác giả: Robert Dallek
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Nguồn: Foreign Policy, tháng 11, 2010

Copyright © 2010 Hồ Kim Sơn
[ Đọc Tiếp ]

Lãnh Đạo Bằng Quyền Lực Dân Sự  (5)

Mục đích căn bản của Kế Hoạch Y Tế Toàn Cầu là chấm dứt tình trạng cô lập và rời rạc trong việc cung ứng dịch vụ chăm nom bằng cách kết hợp những chương trình y tế cá biệt — PEPFAR, PMI, cũng như các chương trình bảo vệ sức khỏe của sản phụ và nhi đồng, kế hoạch gia đình, bệnh nhiệt đới bị lãng quên, và các lãnh vực y tế quan trọng khác — thành một hệ thống chăm nom tổng thể, hợp điệu, và bền vững, do chính bản thân các nước chịu ảnh hưởng nắm vai trò lãnh đạo.

Chương trình Nuôi Sống Tương Lai cũng dựa trên những nguyên tắc tương tự. Xin đơn cử một ví dụ, chính phủ Bangladesh đang phát triển một chiến lược đầu tư an ninh thực phẩm bằng cách trao đổi ý kiến, trong một diễn đàn công cộng, với hơn 500 đại biểu từ xã hội dân sự, giới học thuật, các viện trí khố, và giới tư doanh. Chiến lược này đã được các chuyên gia kỹ thuật độc lập phúc kiểm và đang được các vị lãnh đạo quốc gia và các chuyên gia khác hoàn thiện thêm. Chính phủ Hoa Kỳ đang nỗ lực cộng tác với các chính phủ khác cũng như giới quyên tặng quốc tế nhằm thiết lập một chương trình đầu tư để hỗ trợ chiến lược của Bangladesh.

Đây là hình tượng của quan hệ đối tác trong thực tiễn. Hầu như có thể khẳng định chắc chắn rằng các chính phủ đối tác sẽ chọn lựa phương thức hành động khác với Hoa Kỳ, hoặc có thể họ sẽ vạch ra những ưu tiên dị biệt. Thẩm định và đầu tư vào những chương trình của các chính phủ này có lẽ sẽ mất nhiều thời gian hơn so với việc tự chúng ta cung ứng dịch vụ. Nhưng kết quả hứa hẹn một chiến lược bền vững có khả năng tiếp tục hoạt động hữu hiệu dài lâu hơn, ngay cả sau khi sự hỗ trợ của Hoa Kỳ đã chấm dứt.

Chương trình QDDR cũng tập trung vào phương diện ngoại giao của chính sách phát triển hữu hiệu, đề cao việc thiết lập những liên kết mạnh mẽ và có hệ thống hơn giữa Bộ Ngoại Giao và USAID, tại Hoa Thịnh Đốn cũng như ở hải ngoại.

Ngoại giao có thể hỗ trợ cho chính sách phát triển dưới nhiều dạng thức khác nhau. Nỗ lực ngoại giao quan trọng nhất của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc trong những năm gần đây — tiến trình Đối Thoại Kinh Tế Và Chiến Lược — bao gồm hội thảo cấp cao về các vấn đề phát triển cũng như về ý nghĩa của nỗ lực cá biệt và hợp tác của hai nước tại châu Phi và các nơi khác. Trước khi hội nghị G-8 nhóm họp tại L'Aquila, Ý, vào năm 2009, tiếp hợp cấp cao với các chính phủ đối tác đã giúp Hoa Kỳ thu hoạch được một cam kết quốc tế trị giá 20 tỉ USD nhằm xúc tiến chiến lược an ninh thực phẩm và thiết lập một liên minh các quốc gia muốn đóng góp. Và tại Hội Nghị Thượng Đỉnh Các Nước Châu Mỹ vào năm 2009, Tổng Thống Obama đã phát động chương trình Hợp Tác Khí Hậu Và Năng Lượng Của Các Nước Châu Mỹ, hiệu triệu tất cả các quốc gia có chính phủ dân chủ tại bán cầu này để nỗ lực hướng về mục tiêu chung trong việc tạo dựng những nguồn năng lượng rẻ tiền, sạch sẽ, và có thể tái hồi. Trong chiều hướng này, Hoa Kỳ và Ba Tây hiện đang hỗ trợ 7 nước thiếu thốn năng lượng trong khu vực Ca-ri-bê và Trung Mỹ để họ có thể phát triển những nguồn năng lượng sinh học cho chính mình. Điều này sẽ thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế bền vững và hoạt động hội nhập của khu vực cũng như giảm thiểu tình trạng phụ thuộc vào dầu hỏa nhập khẩu từ Venezuala.

Nhưng ngoại giao và phải triển chỉ có thể tăng viện cho nhau nếu chính phủ Hoa Kỳ cũng  đồng thời chỉnh đốn lại cơ chế hoạt động của mình. Bước đầu tiên là phải vượt qua tệ nạn "thổi ống khói" [xử lý dữ liệu một cách cẩu thả] ở mỗi cơ quan và sử dụng tất cả tài ba và khả năng chuyên môn trong toàn chính phủ liên bang. Kế Hoạch Y Tế Hoàn Cầu, chẳng hạn, được đặt dưới sự chỉ đạo chung của giám đốc USAID, điều phối viên toàn cầu của chương trình AIDS Hoa Kỳ, và giám đốc Trung Tâm Kiểm Soát Và Phòng Ngừa Bệnh Tật. Các cơ quan của họ cùng với Bộ Y Tế Và Phục Vụ Nhân Sinh, Viện Y Tế Quốc Gia, và Binh Đoàn Hòa Bình hợp tác với nhau dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn tổng thể của tôi. Cấu trúc lãnh đạo đặc biệt này tăng cường việc điều phối tại mọi tầng lớp, từ Tòa Bạch Ốc trở xuống.    
                  
Chương trình QDDR cũng kiến nghị việc cải tổ nội bộ USAID và một phần của tiến trình này đã bắt đầu được thực thi. Giám Đốc USAID Rajiv Shah đã đề xuất một phương án năng nổ để xử lý các hoạt động ưu tiên gọi là USAID Tiên Tiến, được thiết kế để thúc đẩy cơ quan này hoạt động hữu hiệu, có trách nhiệm, và minh bạch hơn.

Mục đích của việc cải tổ quy trình cung ứng là xây dựng năng lực địa phương tại các quốc gia mà Hoa Kỳ tham gia hoạt động bằng cách dựa vào tài ba và khả năng chuyên môn của giới tiểu doanh thương và các tổ chức phi chính phủ. Ví dụ, Senegal có hơn 1,400 cái gọi là lều y tế nơi mà cán bộ y tế địa phương do USAID huấn luyện đảm đương công tác trị liệu căn bản và lắm lúc là trị liệu cứu sinh, giảm thiểu phí tổn và đưa đất nước này tiến gần về thời điểm mà sự giúp đỡ của Hoa Kỳ không còn cần thiết nữa.

Trở lại phần (4)      Xem tiếp phần (6)
[ Đọc Tiếp ]

Lãnh Đạo Bằng Quyền Lực Dân Sự (4)

Nhìn về tương lai, khảo sát các lực lượng định hướng nền chính trị hoàn cầu của ngày mai, chúng ta có thể thấy rõ điều kiện vật chất của cuộc sống con người có thể ảnh hưởng đến những mục tiêu an ninh quốc gia Hoa Kỳ như thế nào. Trong khi USAID chỉ đạo công tác phát triển tại hải ngoại, nhân viên Bộ Ngoại Giao—từ quý vị đại sứ cho đến chuyên gia Công Vụ—phải tiếp cận và thành thạo hơn trong các vấn đề phát triển. Vì lý do này, tôi đã ra lệnh tiến hành phúc kiểm các chương trình viện trợ của Hoa Kỳ tại Afghanistan và Pakistan để chúng phù hợp với những mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ và phái hai vị đại sứ có kinh nghiệm đến điều phối hoạt động ngoại viện tại Kabul và Islamabad.

Sách lược tổng hợp này là yếu tố quan kiện trong tiến trình tiếp hợp của Hoa Kỳ tại nhiều khu vực. Ví dụ, tại Mễ Tây Cơ, Hoa Kỳ tiếp tục hỗ trợ nỗ lực chấp hành pháp luật nhằm bắt giữ và truy tố thành viên của các tập đoàn buôn bán ma túy, nhưng Hoa Kỳ cũng đã bắt đầu tiến hành giai đoạn hai của Kế Hoạch Merida, làm việc với các đối tác Mễ Tây Cơ—trong chính phủ, doanh thương, và xã hội dân sự—để tăng cường hệ thống tư pháp và xúc tiến một nền "văn hóa thượng tôn pháp luật" trong các cộng đồng địa phương.

Khi các yếu tố đa dạng của quyền lực dân sự Hoa Kỳ hoạt động chặt chẽ—như tại các đại sứ quán quanh thế giới, và tại Hoa Thịnh Đốn trong những ngày tốt đẹp nhất—tiềm năng ảnh hưởng của một lực lượng phục vụ dân sự toàn cầu triển hiện rõ ràng. Không có gì bảo đảm rằng sách lược tổng hợp này sẽ thực hiện được mọi mục tiêu, đặc biệt là khi phải đương đầu với những thử thách phức tạp và thâm căn cố đế như tình hình tại các nước Haiti, Pakistan, hoặc Yemen. Nhưng đó là sách lược tốt nhất mà chúng ta hiện có, và là sách lược mà chúng ta cần phải đeo đuổi.

Phát Triển Có Tầm Ảnh Hưởng Lớn


Thỉnh thoảng có người chất vấn tôi rằng tại sao phát triển lại cần thiết cho chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và tại sao Hoa Kỳ phải chi tiền giúp đỡ người ngoại quốc trong khi trong nước đang có nhiều thử thách kinh tế. Tuy nghe có vẻ phản trực giác, nhưng câu trả lời là phát triển, nếu thực thi một cách hữu hiệu, là một trong những công cụ tốt nhất để nâng cao mức ổn định và thịnh vượng của Hoa Kỳ. Phát triển có thể tăng cường những nhà nước suy yếu hoặc không hợp cách, hỗ trợ sự trỗi dậy của những đối tác có khả năng đóng góp vào việc giải quyết những vấn đề khu vực và toàn cầu, cũng như xúc tiến dân chủ và nhân quyền.

Đồng thời, một điều quan trọng cần phải thừa nhận là tuy những vấn nạn của thế giới rất lớn lao, nhưng tài nguyên của Hoa Kỳ chỉ hạn hẹp. Trong trọng trách xử lý tiền thuế của người dân Hoa Kỳ, Bộ Ngoại Giao và USAID phải tiến hành hoạt động có tính chất chiến lược trong việc đeo đuổi những nhu cầu cấp thiết nhất cũng như trong việc đề xuất quyết định dựa trên bằng chứng xác thực để đảm bảo rằng đầu tư sẽ mang lại kết quả mong muốn. Và chúng ta phải giữ vững lập trường dài lâu — không những chỉ giải quyết những nhu cầu bức thiết của nhân dân trong hiện tại mà còn phải xây dựng nền tảng cho một tương lai thịnh vượng hơn. Với ý thức này, Chỉ Thị Thực Thi Chính Sách Phát Triển do Tổng Thống Obama ban hành vào tháng 9 vừa qua — chỉ thị đầu tiên của một tổng thống Hoa Kỳ — đề cao nhu cầu nhắm vào các quốc gia có chính phủ biết đảm đương trách nhiệm và có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cũng như chọn lựa và hợp tác với một nhóm ngành nghề nhỏ hơn tại mỗi quốc gia để tạo tầm ảnh hưởng tối đa. Chỉ thị này khẳng định rằng viện trợ phải được điều hợp với mậu dịch, tài chánh, tín dụng đầu tư, và các chính sách kinh tế khác để tăng cường các thị trường đang lên và để củng cố nguồn tăng trưởng kinh tế phổ quát và dài lâu. Tăng trưởng kinh tế là con đường chắc chắn nhất để thoát ly cảnh bần khốn, và nỗ lực nới rộng và tăng cường giai cấp trung sản khắp thế giới sẽ là mấu chốt quan kiện trong việc thiết lập một trật tự quốc tế công bằng và bền vững, một vấn đề hạch tâm trong chiến lược an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.

Chương trình QDDR nhấn mạnh rằng phát triển là một tiến trình tự lực cánh sinh được hỗ trợ nhằm xúc tiến lợi ích và giá trị quan của Hoa Kỳ. Một quốc gia đang phát triển phải gánh vác trọng trách và đưa ra mục tiêu cụ thể để đáp ứng nhu cầu của nhân dân mình. Hoa Kỳ tham gia trong cương vị đối tác, chứ không phải là người đỡ đầu, cho mướn tài nguyên và trí thức chuyên môn, và cuối cùng, sẽ tự kết thúc doanh nghiệp một khi nước chủ nhà đã có khả năng tự duy trì.

Hiện tại, chính phủ Obama đang đưa mô thức hợp tác này vào thực tiễn bằng hai phương án đặc trưng vừa được tuyên bố trong năm qua: Kế Hoạch Y Tế Toàn Cầu và chương trình Nuôi Sống Tương Lai, một bộ phận trong sách lược an ninh thực phẩm toàn cầu có quy mô lớn hơn của chính phủ.

Kế Hoạch Y Tế Toàn Cầu xác nhận rằng tình hình y tế tại nhiều nước đang phát triển đã được cải thiện trong nhiều năm qua, một phần nhờ vào Chương Trình Cấp Cứu AIDS (PEPFAR) và Kế Hoạch Chống Sốt Rét (PMI) do cựu Tổng Thống George W. Bush thành lập, cũng như đóng góp của nhiều quốc gia và tổ chức khác. Nhưng tình trạng đông đúc này không nhất thiết có thể cải thiện kết quả y tế một cách hữu hiệu hoặc có giá trị trường cữu.

Trở lại phần (3)      Xem tiếp phần (5)
[ Đọc Tiếp ]

Lãnh Đạo Bằng Quyền Lực Dân Sự   (3)

Mặc dù ngoại giao truyền thống luôn luôn giữ vai trò chủ yếu trong việc xúc tiến nghị trình của Hoa Kỳ, chỉ đơn thuần dựa vào yếu tố này vẫn không đủ. Hoa Kỳ phải nới rộng phạm vi tiếp hợp để gặp gỡ và tạo ảnh hưởng với nhiều đoàn thể đa dạng hơn nữa bằng cách sử dụng những chiến lược, kỹ năng, và công cụ mới. Để đạt mục đích đó, Bộ Ngoại Giao đang nới rộng quy trình khái niệm về vai trò và trách nhiệm của nhân viên chấp hành ngoại vụ.

Ngành Ngoại Vụ nguyên gốc, như tên gọi gợi ý, bao gồm những nhân viên được huấn luyện để xử lý quan hệ giữa chính phủ Hoa Kỳ và nước ngoài thông qua tham vấn với giới chức đồng nhiệm của các chính phủ đó. Đây là chức năng chính của các đại sứ và đại sứ quán Hoa Kỳ, cũng như nhân viên phục vụ tại Bộ Ngoại Giao. Nhưng bây giờ, tính liên kết toàn cầu càng ngày càng lớn mạnh đòi hỏi chúng ta phải vượt qua các đối tác chính phủ để tiếp hợp trực tiếp với công dân và nới rộng phạm trù của chính sách đối ngoại nhằm quán xuyến thêm những vấn đề trước đây chỉ được hạn chế trong khuôn khổ của chính sách đối nội, chẳng hạn như quy chế kinh tế và môi trường, ma túy và bệnh tật, hoạt động tội phạm có tổ chức, và nạn đói thế giới. Vì những vấn đề này lan tràn qua biên giới quốc gia, những cơ quan xử lý những vấn đề này tại quốc nội bây giờ phải tiến hành nhiều công tác của mình ở hải ngoại, đặt căn cứ hoạt động tại các đại sứ quán và lãnh sự quán. Bởi thế, một vị đại sứ Hoa Kỳ trong năm 2010 không những chịu trách nhiệm quản lý nhân viên dân sự từ Bộ Ngoại Giao và USAID mà còn là vị Tổng Giám Đốc điều hành một phái đoàn đa cơ quan. Và ông (hay bà) ta còn phải thành thạo trong việc giao thiệp với những nhóm cử tọa ngoài chính phủ, chẳng hạn như giới tư doanh và xã hội dân sự.

Hãy thẩm xét đại sứ quán Hoa Kỳ tại Islamabad [thủ đô Pakistan]. Tổng số nhân viên của phái đoàn này  là 800 người, trong đó có khoảng 450 nhà ngoại giao và công chức từ Bộ Ngoại Giao, và khoảng 100 người từ USAID. Phần lớn công tác ở đây bao gồm các hoạt động ngoại giao truyền thống—nhân viên Ngoại Vụ giúp đỡ công dân Hoa Kỳ với các vấn đề du lịch và kinh doanh trong vùng, thị thực nhập cảnh, và tiếp hợp với giới chức dân sự và quân sự đồng nhiệm trong chính phủ Pakistan. Nhưng vị đại sứ Hoa Kỳ ở đó còn là người lãnh đạo điều khiển nhân viên dân sự từ 11 cơ quan liên bang khác nhau, bao gồm các chuyên gia cứu nạn và tái thiết đang giúp đỡ việc tái thiết tại Pakistan sau những cơn lũ lịch sử vào mùa hè vừa qua; các chuyên gia y tế, năng lượng, truyền thông, tài chính, nông nghiệp, và tư pháp; và nhân viên quân sự đang hợp tác với quân đội Pakistan nhằm nâng cao khả năng tác chiến của họ, cũng như hỗ trợ họ, chống phần tử cực đoan bạo hành.

Ngoại giao công cộng phải bắt đầu từ cấp lãnh đạo. Tại Indonesia và Thổ Nhĩ Kỳ, tôi tiến hành hội nghị song phương với quan viên chính phủ, nhưng tôi cũng gặp gỡ các nhà lãnh đạo xã hội dân sự và tham gia với tư cách khách mời trên các tiết mục đàm thoại truyền hình bình dân. Tôi cử hành nhiều buổi hội thảo cộng đồng với nhiều đoàn thể khác nhau tại mọi đại lục mà tôi đã có dịp viếng thăm, như tôi vẫn thường làm trong suốt cuộc đời công vụ của tôi. Những hoạt động công cộng như thế này cũng là một bộ phận trách nhiệm của tôi trong cương vị ngoại trưởng, quan trọng chẳng kém gì việc gặp gỡ tại các bộ ngoại giao nước ngoài, bởi vì sự bền vững trong quan hệ đối tác của Hoa Kỳ sẽ tùy thuộc vào thái độ của nhân dân cũng như chính sách của chính phủ họ.

Tại Hoa Thịnh Đốn, Bộ Ngoại Giao cũng đang hợp lý hóa và hiện đại hóa quy trình khái niệm và thực thi ngoại giao công cộng. Chúng ta đang thoát ly các bục đài truyền thống và thay vào đó đang xây dựng liên kết với công chúng ngoại quốc tại những khu vực trước đây được xem là nằm ngoài tầm với của Hoa Kỳ. Việc đưa khối lượng tài nguyên lớn nhất đến những khu vực mà quan hệ của Hoa Kỳ đã kiên cố và an toàn nhưng lại giảm thiểu nỗ lực xuống mức thấp nhất tại những nơi mà tiếp hợp với công chúng rất cần thiết cho thành công không còn hợp lý nữa.

Chúng ta cũng có thể nâng cao hiệu suất của quyền lực dân sự bằng cách kết nối doanh thương, những nhà từ thiện, và các đoàn thể công dân với chính phủ đối tác để thực thi những công tác mà chính phủ một mình không thể đảm đương. Đặc biệt, kỹ thuật có thể cung cấp cho chúng ta những công cụ tiếp hợp mới. Một thành công lớn lao trong năm nay là mối quan hệ hợp tác được thiết lập hầu như chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ giữa các công ty điện thọai di động của Hoa Kỳ và Haiti, Hội Hồng Thập Tự, các xí nghiệp xã hội, Lực Lượng Tuần Duyên Hoa Kỳ, và cuối cùng là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ nhằm sáng lập một bệ máy sử dụng tin nhắn văn bản để quảng bá vị trí của nạn nhân động đất đang cần cứu nạn. Bộ Ngoại Giao cũng đã phát động chương trình gởi tin nhắn bằng văn bản để quyên góp 10 USD cho Haiti đến Hội Hồng Thập Tự, thu hút sự đóng góp của hơn 30 triệu người Hoa Kỳ. Tại Bộ Ngoại Giao và USAID, chúng tôi tiếp tục phát triển các phương thức mới để tiện dụng 4,6 tỉ máy điện thoại di động trên thế giới nhằm cải thiện đời sống của những người sinh sống tại những vùng hẻo lánh trong hoàn cảnh gian nan.

Những chuyến viếng thăm nước ngoài của các phái đoàn chuyên gia kỹ thuật Hoa Kỳ cũng đã mở ra nhiều con đường đầy hứa hẹn cho việc tạo dựng những mối quan hệ hợp tác cách tân trong các lãnh vực như nông nghiệp và y tế. Chẳng hạn, một chuyến viếng thăm Liên Bang Nga trong khuôn khổ này đã góp phần chuẩn bị cho việc thiết lập một quan hệ hợp tác giữa chính phủ và tư doanh được gọi là "text4baby" ["tin vắn cho em bé"] nhằm cung cấp cho sản phụ và những bà mẹ mới sinh con một chương trình ứng dụng di động để họ có thể tìm kiếm thông tin y tế bằng điện thoại cầm tay và tạo điều kiện cho họ tự theo dõi tiến trình thai nghén của mình.

[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn